Phần
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Mở đầu
Một
I. Lí do chọn đề tài.
II. Mục đích nghiên cứu.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung
Hai
Ba
I. Cở sở lí luận.
II. Cơ sở thực tiễn (thực trạng).
III. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo
đức học sinh lớp chủ nhiệm.
1. Vai trò của GVCN trong công tác giác dục đạo đức học sinh.
1.1 Vai trò chung..
1.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong sự phối kết hợp với
các đoàn thể, giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh.
1.3. Vai trò của GVCN đối với lớp chủ nhiệm.
2. Đặc điểm tình hình lớp.
2.1. Đặc điểm chung.
2.2. Những thuận lợi và khó khăn
6
7
8
12
13
146
17
18
20
1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1. Ngày nay, cùng với sự phát triển đi lên của xã hội, của nền kinh tế thị
trường trong xu thế hội nhập thì sự nghiệp Giáo dục và đào tạo càng được chú
trọng, đầu tư và vẫn luôn là “quốc sách hàng đầu” của Đảng và Nhà nước.
Nhưng để Giáo dục mãi mãi là quốc sách hàng đầu thì tất yếu phải có những
đột phá, những đổi mới cần thiết. Tại Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI , Đảng
ta đã các định“Đổi mới căn bản toàn diện về Giáo dục đào tạo, thực hiện đồng
bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng Giáo dục đào tạo, thực
hiện đổi mới chương trình nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp
thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc
biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử, cách mạng, đạo
đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý
thức trách nhiệm xã hội…”[1]. Đây là định hướng cơ bản, thiết thực đối với
ngành Giáo dục đào tạo nói chung và vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh nói
riêng.
quản lý, giáo dục, rèn luyện nhân cách người học. Ở một số giáo viên, công tác
chủ nhiệm lớp vẫn còn được coi là vừa khó, vừa nặng; vẫn còn tồn tại chuyện
phụ huynh học sinh (PHHS ) xúc phạm, có những biểu hiện thô bạo với GVCN
con mình; vẫn còn có những HS coi thường, vô lễ, thậm chí đánh lại GVCN
của mình. Và cũng còn những GVCN lớp nóng nảy, thô bạo với HS như: cùng
một lúc đuổi nhiều HS ra khỏi giờ học, lấy thước hay rút dép đánh học trò
trong lớp hay bắt HS súc miệng bằng nước giặt giẻ lau bảng như trường hợp
cô giáo Nguyễn Thị Minh Hương trường Tiểu học ở Hải Phòng….[4]. Ngược
lại cũng có những GVCN quá dễ dàng, buông lỏng quản lý, xa rời lớp chủ
nhiệm, thiếu trách nhiệm với chức năng đã được giao.... để cho HS tự do vi
phạm nội quy nề nếp trường lớp, vi phạm đạo đức người học, thậm chí bị lôi
kéo vào các tệ nạn xã hội…
Vậy làm thế nào để giáo dục đạo đức HS? Làm thế nào để giúp các em trở
thành con ngoan, trò giỏi, một con người biết tự mình từng bước hoàn thiện
nhân cách, có đủ cả Tài lẫn Đức, biết sống có lý tưởng, có mục đích, ước mơ,
biết vươn lên trong cuộc sống, phấn đấu vì mình, vì mọi người?
Từ những trăn trở đó, tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Trung học phổ
thông Triệu Sơn 5”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Qua đề tài này, người viết xin nêu lên Vai trò của GVCN lớp, chỉ ra nguyên
ngân dẫn đến HS vi phạm đạo đức người học và đề ra một số biện pháp nhằm
giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Triệu Sơn 5.
Từ đó, giúp mọi người có cái nhìn toàn diện về GVCN và nâng cao sứ mệnh
của người GVCN trong các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức học sinh (HS).
- Tư tưởng đạo đức của HS lớp A3 (2014-2917), 10A7 (2017 – 2018).
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận qua tìm hiểu về luật giáo dục, về nhiệm vụ,
như đề tài: Giáo dục học sinh cá biệt trong công tác giáo viên chủ nhiệm (của
cô Trương Thị Minh Nguyệt –THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm – Hà Nội), Kinh
nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm
của cô Lê Thị Hạnh, trường THPT Thọ Xuân 5 [6]. Tuy nhiên các đề tài chỉ
mới đi vào một khía cạnh nhỏ, một góc nhỏ chưa có cài nhìn bao quát rộng lớn
về phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh.
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT không phải là ngày một ngày hai, càng
không chỉ một vài ba em mà tất cả các em đều được giáo dục để các em không
chỉ phát triển về trí tuệ, thể chất mà còn phải nuôi dưỡng phần “hồn” trong
mỗi con người.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN (thực trạng).
1. Thuận lợi:
- Thuận lợi lớn nhất của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT
Triệu Sơn 5 là được sự quan tâm, chú trọng của BGH, các đoàn thể và được
GVCN đặt lên hàng đầu. Để có thể làm tốt công tác giáo dục đạo đức HS, nhà
trường đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đấu mối với Công an xã Đồng Lợi,
công an huyện Triệu Sơn, xây dựng mô hình tự quản, thành lập Ban nề nếp,
đặc biệt là bố chí và giao trách nhiệm chủ nhiệm cho những GV có năng lực
trong quản lý, giáo dục HS và tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghẹ, thể
thao, hành trình khám phá tri thức….để các em được học tập, vui chơi, khám
phá và từng bước rèn luyện nhân cách đạo đức.
- Đội ngũ CBGV của nhà trường còn trẻ, năng nổ, nhiệt tình, sáng tạo, chuyên
tâm trong công việc, bám lớp, bám trường, gần gũi, yêu quý, quan tâm HS,
4
luôn để ý uốn nắn, giáo dục những biểu hiện vi phạm đạo đức người học, từng
bước giúp các em nhận thức sâu sắc giá trị đạo đức con người, không để “cái
nết đánh chết cái đẹp”.
III. VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM.
5
1. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác giác dục đạo đức học
sinh [7].
1.1 Vai trò chung.
- GVCN phải xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội
dung, phương pháp giáo dục nhằm thức đẩy sự tiến bộ của cả lớp, của từng HS.
- Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch nhà trường và lớp đã xây
dựng.
- Phối hợp chăt chẽ với gia đình HS, nhà trường, đoàn thanh niên, ban nề
nếp…để cùng hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện của HS.
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình lớp - HS với BGH, với PHHS.
- Nhận xét, đánh giá, xếp loại HS cuối kỳ, cuối năm đề nghị nhà trường khen
thưởng, kỷ luật.
1.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong sự phối kết hợp với các đoàn thể,
giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh.
- Giáo dục HS phải đồng bộ trên tinh thần trách nhiệm của cả nhà trường, gia
đình và xã hội. GVCN phải phối kết hợp với GVBM, Ban nề nếp để nắm bắt
tình hình lớp mình, kịp thời phát hiện, khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện
vi phạm nội quy trường lớp, vô lễ với GV, … để giáo dục.
- Thường xuyên thông báo việc học tập và rèn luyện của HS theo tuần, tháng,
kỳ để HP nắm được tình hình của con em mình qua hệ thống tin nhắn smas,
qua các kỳ họp phụ huynh. Việc giữ mối liên lạc với gia đình HS sẽ giúp
GVCN nắm bắt được hoàn cảnh, tính cách HS và tìm được sự đồng thuận,
thống nhất, tiếng nói chung trong quản lý, giáo dục đạo đức cho HS. Có như
vậy mới tạo được niềm tin ở PH và việc uốn nắn, cảm hóa, chinh phục được
còn thấp dẫn đến tình trạng hay vi phạm nội quy trường lớp, đạo đức học sinh.
2.2. Những thuận lợi và khó khăn:
- Thuận lợi.
+ HS ngoan, có ý thức học tập, rèn luyện, có tinh thần xây dựng tập thể, tinh
thần trách nhiệm cao trong các phong trào, hoạt động do Nhà trường, Đoàn
trường tổ chức.
+ Giữa GVCN, GVBM và Hội PHHS có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường
xuyên trong công tác giáo dục đạo đức HS.
+ Sự quan tâm , chỉ đạo sát sao, giúp đỡ kịp thời của BGH, đoàn thể.
- Những khó khăn:
+ Đa phần HS đều là con em nông dân, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó
khăn, nhiều em thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; mồ côi cha, mẹ, thậm chí mồ
côi cả cha lẫn mẹ, bố mẹ đi làm xa, bố mẹ li hôn….
+ Nhiều gia đình không quan tâm tới việc học tập của con em mình, hoặc bất
lực trong giáo dục con nên bỏ mặc cho nhà trường, GVCN.
+ Thực trạng xã hội có nhiều cám dỗ, nhiều tệ nạn và tình trạng yêu đương
sớm – vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay trong các cấp học, nhất là HS THPT.
3. Những biểu hiện và nguyên nhân vi phạm đạo đức của học sinh.
3.1. Những biểu hiện vi phạm đạo đức học sinh.
- Không tuân thủ các quy định về nội quy, nề nếp trường lớp như: bỏ tiết, đến
lớp không ghi bài, mất trật tự, gây gỗ đánh nhau, vô lễ với giáo viên, khích bác
lôi kéo bạn bè…
- Đầu tóc, quần áo không đúng quy định: nhuộm tác xanh – đỏ, cạo trắng từng
vệt- nhiều vệt trên đầu; mặc áo phông không cổ, quần “mốt” rách đầu gối…..
- Học không có mục đích, thiếu ý chí vươn lên, học vì bố mẹ…
- Một số học sinh phát triển sớm về sinh lý, lại thường tiếp xúc với các loại
phim ảnh không lành mạnh dẫn đến có những cảm xúc nam nữ, nảy sinh tình
cảm yêu đương sớm….
3.2. Nguyên nhân:
Như đã nêu ra phần thực trạng và phần đặc điểm tình hình lớp, tuy nhiên qua
tính cách, việc làm, lời nói khác biệt (cá biệt) điều quan trọng hàng đầu là phải
gần gũi, thân thiện, hòa đồng để nắm được tâm lý, biết được nguyên nhân,
hành vi vi phạm đạo đức HS. Nếu mình có cái nhìn cảm thông, thấu hiếu HS sẽ
dễ dàng cởi mở, tâm sự. Và như vậy bước đầu ta đã thu phục được trái tim HS,
tạo niềm tin để các em từng bước nghe theo mà thay đổi.
- Nhờ sự thân thiện với các em giúp (dù chỉ mới chủ nhiệm được 1 năm –
10A7) sự thân thiết giữa cô trò còn hơn cả ruột thịt. Các em nếu có chuyện
buồn thường tìm gặp tôi để tâm sự, trao đổi, để tìm sự cảm thông, tìm cách
tháo gỡ. Khoảng cánh cô trò đã dược phá bỏ chỉ còn lại là tình yêu giữa người
mẹ trách nhiệm với các con..
4.2 Lựa chọn Ban cán sự lớp.
- Lựa chọn được một Ban cán sự lớp có năng lục quản lý, biết tổ chức và
quán xuyến công việc của lớp cho GVCN là bước đầu góp phần thành công
của một GVCN giỏi. Ban cán sự sẽ thay GVCN nhắc nhở, đôn đốc, kiểm tra
việc thực hiện nề nếp của lớp, có năng lực hướng dẫn, khích lệ các bạn trong
lớp thi đua vươn lên trong học tập, rèn luyện.
- Vậy làm thế nào để có thể lựa chọn được một Ban cán sự tốt có năng lực,
trách nhiệm như vậy? Trước hết GV phải tìm hiểu (qua các em HS cùng trường
lớp 9, thầy cô cũ, quan sát thái độ, khả năng của các em trong những ngày đầu
8
tiên, qua học bạ….) sau đó căn cứ vào sự giới thiệu, tín nhiệm của tập thể lớp
hoặc bình bầu dân chủ trong Đại hội đầu năm của lớp.
- Sau khi có được Ban cán sự, GVCN phải biết dùng, phân công nhiệm vụ
đúng người đúng việc, đúng năng lực cho lớp trưởng, lớp phó, bí thư, phó bí
thư đến các tổ trưởng…
4.3. Lập sơ đồ lớp học.
Đây là cách giúp các em bỏ tính tự do thích đâu ngồi đó, làm mất trật tự, kỷ
TT
1. SỔ THEO DÕI SĨ SỐ LỚP HỌC CHÍNH KHÓA - THÁNG:
Năm học: 2017 – 2018
Họ và tên
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10111213141516171819202122232425262728293031Tổn
g
3 4 5 6 7 cn 2 3 4 5 6 7 cn 2 3 4 5 6 7 cn 2 3 4 5 6 7
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Ghi chú: - Cán bộ lớp phải điểm danh hàng buổi (Nếu vắng có phép ghi = P, nếu vắng không phép
ghi = K vào cột thứ ngày tương ứng)
10
2. SỔ THEO DÕI NỀ NẾP CỦA LỚP:
4
5
6
7
8
9
10
11
12
….
4. Trường THPT Triệu Sơn 5 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
11
CN
Lớp:
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Triệu Sơn, ngày..... tháng...... năm......
BIÊN BẢN SINH HOẠT LỚP
I. Địa điểm, thời gian, thành phần.
1. Địa điểm.
.......................................................................................................................
2. Thời gian.
Từ......giờ..... phút đến ...... giờ...... phút ngày...... tháng...... năm....................
3. Thành phần.
...............................................................................................................................
- Đến các trường học, cấp học phần lớn ta thường bắt gặp khẩu hiệu “Mỗi
thầy cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Đây không chỉ là
lời nhắc nhở mà còn là niềm tự hào cho mỗi giáo viên, bởi thiên chức của
chúng ta là mang “ánh sáng” đến cho HS thì hơn ai hết bản thân ta phải là một
nguồn sáng, dù là ánh sáng mặt trời hay chỉ là đốm than hồng thì cũng không
thể thếu trong mỗi tâm hồn GV…. muốn có được thứ ánh sáng ấy đã khó, giữ
được nó trong thời buổi kinh thế thị trường này càng khó hơn nhiều. Chính
điều đó bất kể ai, để trở thành một giáo viên đứng vững trong lòng HS ta đều
phải là một tấm gương sáng biết tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mình.
Đặc biệt người GVCN cần phải làm gương, phải có trí tuệ, lương tâm, sống
mẫu mực, tự trọng và biết giữ chữ “tín” trước HS, đồng thời phải là cán cân
công lí trong quá trình xử lí vi phạm, đánh giá, xếp loại hạnh kiểm hàng tuần,
tháng, kỳ, năm của HS.
Ví dụ: Để giáo dục 1 HS không mặc đồng phục, để tóc không đúng quy
định…trước hết GV phải thực hiện nghiêm túc đồng phục và đầu tóc gọn gàng.
Chẳng hạn để giáo dục em Nguyễn Thị Thúy, em Linh, em Thủy (12A3)
nhuộm tóc không đúng quy định của trường, tôi chỉ nói cô cũng thích nhuộm
tóc vì làm đẹp là ước mơ của tất cả mọi người. Làm đẹp cho mình là làm đẹp
cho xã hội nhưng phải phù hợp với môi trường, hoàn cảnh. Hơn nữa người dân
Việt Nam ta lúc nào cũng coi trọng mái tóc của người con gái “hàm răng mái
tóc là góc con người”. Đồng thời tôi cũng nghiêm khắc nói với các em rằng: đã
là quy định và một khi chúng ta đã cam kết thì chúng ta phải thực hiện đúng
quy định – đó là chữ tín của con người. Người được người khác tôn trọng là
người biết giữ chữ tín. Sau hôm đó các em đã nhuộm tóc lại và không một lần
tái phạm nữa.
- Không chỉ đầu tóc, trang phục mà ngay cả trong lời nói và hành động, bất kể
GV nào đều phải nói năng chuẩn mực trước HS. Người ta thường nói “Lời nói
gió bay” vì thế nhiều GV vô tư phát ngôn với GV khác trước HS bằng từ ngữ
mày tao, chi tớ; có GV xưng xô với học trò bằng tao, mày; mắng chửi bằng
- Để có sự phối kết hợp ăn ý trong giáo dục đạo đức cho HS, GVCN ngoài
việc tìm hiểu, nắm được tâm ý, tính cách, hoàn cảnh các em còn phải thường
xuyên gặp gỡ, trao đổi với PH tìm biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối
tượng HS.
Ví dụ: Trong lớp 12A3 (2017 - 2018), có khoảng 15 em học kém lại hay nói
chuyện riêng trong khi giáo viên giảng bài, không làm bài tập, hay quên sách,
bút, phù hiệu, đi học muộn, hút thuốc lá, dùng điện thoại trong giờ học, nghỉ
học vô lí do, bỏ tiết…. tôi tìm hiểu thì biết được: em thì vì học yếu, ngại học;
em thì nhà quá nghèo nên ở nhà đi làm vài hôm; em thì buồn vì bố mẹ ly hôn;
em thì mặc cảm vì bố hay bất hòa, cãi nhau; em thì bố mẹ bất lực không thể
giáo dục được….. Mỗi một lí do, một hoàn cảnh. Vì vậy GVCN phải trao đổi
với GVBM vừa để động viên giúp đỡ, vừa uốn nắn giáo dục theo kiểu “mưa
dầm thấm lâu” lại vừa có những biện pháp mạnh mời PH, yêu cầu HS viết
kiểm điểm cam kết không tái phạm và phụ huynh ký vào (nếu tái phạm sẽ cho
ở lại lớp hoặc kỷ luật đình chỉ học…), các em sẽ tự nhận thấy sai sót, khuyến
điểm mà sửa đổi.
- Trong trường Triệu Sơn 5, thầy Hiệu phó, Đoàn thanh niên và Ban nề nếp là
lực lượng mà HS thấy sợ nhất. Chỉ cần thầy bóng thầy Hiệu phó tất cả các em
đều lo chỉnh đốn trang phục gọn gàng, thấy ban nề nếp đi kiểm tra là lập tức
phải đầy đủ phù hiệu, sơvin, có nhiều em HS nam phải vội trốn ngay vì tóc quá
dài mà chưa kịp cắt….Vì thế GVCN luôn nhờ bóng các thầy trong các đoàn thể
để kết hợp giáo dục học sinh, giúp các em từng bước biết ý thức trách nhiệm và
thực hiện nghiệm túc nội quy người học, mang tinh thần xung kích của người
ĐVTN, học trò ngoan – giỏi. Điều đó khẳng định rằng chỉ có sức mạnh tập thể
mới tạo nên thành công, như Bác Hồ đã nói:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
4.7. Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ.
14
4.8. Giáo dục đạo đức cho học sinh bằng cái “Tâm” của người giáo viên
chủ nhiệm.
Là một giáo viên chủ nhiệm nhiều năm (từ khi ra trường, trừ thời gian nghỉ
sinh – còn lại năm nào tôi cũng vinh dự được làm công tác chủ nhiệm), tôi
nhận ra rằng phương pháp giáo dục đạo đức tốt nhất của một người GVCN
tâm huyết chính là lấy cái “Tâm” để thu phục cái “Tính” (tính cách), lấy tấm
lòng để cảm hóa tấm lòng. Vì con đường gần nhất và cũng nhanh nhất để thức
tỉnh tâm hồn của các em chính là tình yêu của người giáo viên với học trò.
- Một GVCN được HS kính trọng, nể phục ngoài cái Tài cần phải có cái
Tâm. Một nhà hiến triết đã nói “Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách
kiếm sống hay cung cấp dụng cụ để đạt được sự giàu có mà đó phải là con
đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái Chân và thực hành cái Thiện”
(Vi jaya lakshmi Pandit – Những câu nói hay về giáo dục” [9]. Đúng vậy, hãy
lấy cái Tâm để cảm hóa trái tim của học trò, để dẫn lối tâm hồn các em đến với
15
cái Thiện. Cái Tâm của GVCN là sự tận tụy, niềm say mê nghề, cái tâm gắn bó,
yêu thương, thấu cảm, chia sẻ với HS. Vì cái Tâm là nguồn góc để hình thành
đạo đức nhân cách con người, là sức mạnh nâng đỡ, cứu vớt con người trước
những lầm đường lạc lối và chính cái Tâm của GVCN sẽ là sức mạnh, động lực
để giáo dục tốt đạo đức cho HS.
- Cái Tâm sẽ cho GVCN trách nhiệm với công việc, với HS trong lớp để từ đó
tìm hiểu, nắm bắt và thu phục trái tim HS nghe theo mình, rèn luyện, trau dồi
đạo đức để là trò ngoan. Cái Tâm sẽ giúp GVCN biết lắng nghe, bình tĩnh,
kiềm chế trong mọi tình huống, từng bước dẫn dắt giáo dục HS, đặc biệt là
những HS cá biệt.
Ví dụ: Em Lê Văn Tiến, Lê Văn Tâm lớp A3 (2014-2017) thường ngủ gật,
không ghi bài trong giờ học, thậm chí nhà rất gần trường nhưng lại hay đi học
16
quần bò đúng size em mặc và yêu cầu em thay ngay. Mới đầu em có vẻ chống
đối và ngại ngần nhưng sau vài câu nói của tôi: nào là đúng màu yêu thích
không, đúng size em hay mặc không, thử mặc xem vừa không nào….Hoàng đã
bẻn lẻn đi thay và quay ra với ánh mắt như biết lỗi lẫn xúc động. Sau lần đó em
không một lần mặc quần áo sai quy định nữa.
Thế đấy,“lạt mềm bao giờ cũng buộc chặt”, dao to búa lớn không phải là
cách xử lý sư phạm, hãy tùy cơ ứng biết nhưng có lẽ cách tốt nhất, mô phạm
nhất là hãy lấy trái tim để thu phục, cảm hóa tâm hồn. Đây là con đường gần
nhất và cũng nhanh nhất, ngắn nhất.
- Trong những năm làm công tác chủ nhiệm tôi nhận thấy rằng: người GVCN
nào chăm lo tới lớp của mình và có năng lực tổ chức quản lý lớp thì học sinh
lớp đó bao giờ cũng ngoan và học tốt. Đúng là “mẹ nào con đó, tướng nào quân
ấy”. Một GVCN tốt ngoài năng lưc, tình yêu HS còn phải có cái Uy. Vậy Uy là
gì, làm thế nào để có được Uy? Uy ở đây là uy tín, uy quyền của người giáo
viên trước học trò. Uy tín là lòng kính trọng tin yêu, lòng kính khục, khâm
phục, ngưỡng mộ của học sinh đối với thầy, cô…Thầy có chữ “Uy” thì thầy
nói, thầy bảo, thầy dạy trò mới vâng theo. Theo tôi cái Uy tạo nên từ sự nghiêm
khắc, công tâm của GV khi đánh giá, giáo dục HS, được hình thành từ những
cái nhỏ nhất, đó là lời nói, việc làm chuẩn mực, tác phong, trang phục, cách
ứng xử ….và sức hấp dẫn trong từng tiết dạy của thầy cô. Vậy là, nếu chúng ta
biết dùng tấm lòng “trang trải đến muôn nơi” thì chúng ta sẽ nhận được những
tấm lòng yêu mến “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Vì vậy những
lớp tôi chủ nhệm học sinh rất ngoan, ý thức tuân thủ nội quy nhà trường tốt,
không có học sinh nào bị liệt vào danh sách học cá biệt của nhà trường, phong
trào học tập sôi nổi, tích cực đi lên và cuối kỳ, cuối năm, cuối cấp bao giờ lớp
cũng được nhà trường khen thưởng về nề nếp, về học tập. Đây thực sự là niềm
giáo dục đạo đức các em học sinh qua thời gian sinh hoạt 10 đầu buổi học, qua
tiết sinh hoạt cuối tuần, qua những bài giảng Ngữ văn trên lớp…..
5. Những kết quả ban đầu thực nghiệm đề tài.
Sau một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm cụ thể ở hai lớp chủ nhiệm gần
nhất (A3, 10A7), kết quả ban đầu tôi thu được là:
- Học sinh nhanh chóng đi vào nề nếp, nghiêm túc sửa đổi những sai phạm và
thực hiện nghiêm túc các quy định, nội quy trường lớp.
- Các em đều ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô, biết quan tâm, chia sẽ giúp đỡ
bạn bè trong học tập và những khó khăn trong cuộc sống (như trường hợp em
Nguyễn thị Dung lớp A3, nhà nghèo, bố mẹ khuyết tật, ốm đau liên miên, lớp
đã cùng nhau quyên góp tiền mua cặp, dép, áo cho bạn và xin miễn một số
khoản đóng góp cho bạn…).
- So với ban đầu, kết quả rèn luyện đạo đức của 2 lớp rất tốt. Và một khi nề
nếp đạo đức tốt thì kết quả học tập bao giờ cũng cao. Cụ thể:
Lớp
Sĩ
số
12A3 44
A7
40
Xếp loại hạnh kiểm
Tốt
Khá Trung
Yếu
bình
37
9
22
9
(22,5%)
(55%)
(22,5%)
0
0
- Lớp A3 năm lớp 12 xếp thứ 3 về nếp – học tập, lớp 10A7 xếp thứ 2 về nề
nếp – học tập và cả hai lớp đều được nhà trường xếp loại Tập thể tiên tiến xuất
sắc và khen thưởn. Lớp 12A3 lớp THPTQG 2017 và đậu 100%. Riêng lớp
10A7 năm học (2017 – 2018), được tất cả các thầy, cô bộ môn dạy trong lớp
đều đánh giá là lớp ngoan nhất khối 10 và cũng là lớp đạt nhiều thành tích nhất
về phong trào học tâp (5 HSG cấp tỉnh, 4 giải Ba, 2 giải khuyến khích, 23 lượt
trên 22 em đạt HSG cấp trường).
18
- Nhà trường, GVBM , PHHS và ngay cả GVCN cũng nhận thấy rõ vai trò
quan trọng, to lớn của GVCN trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong
làm công tác chủ nhiệm.
- Tiếp tục khen thưởng, kỷ luật một cách nghiêm khắc đối với những học sinh
vi phạm nội quy trường lớp, có biểu hiện vô lễ, xúc phạm giáo viên để làm
gương, dăn đe giáo dục học sinh khác.
- Tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, thú vị hơn nữa để các em có cơ hội được học
tập, rèn luyện và từng bước tự hoàn thiện nhân cách.
- Đối với những bộ môn có nội dung giáo dục đạo đức, GVBM cần lồng ghép
những bài học đạo đức cho học sinh qua các tiết dạy học trên lớp.
Đề tài này đã và đang trong thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, còn nhiều
hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự bổ sung, góp ý chân thành của
19
đồng nghiệp, của Hội đồng khoa học nhà trường, đặc biệt là những thông tin
phản hồi từ phía học sinh để đề tài này hoàn thiện hơn, khả dụng hơn.
Qua đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới BGH nhà trường, tổ - nhóm
chuyên môn, các bạn bè đồng nghiệp và học sinh các khối lớp, nhất là lớp A3
(2014 – 2017) và 10A7 (2017 – 2018) đã hưởng ứng và giúp tôi hoàn thiện đề
tài này.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 23 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Lê Thị Quyên
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Một số biện pháp “tạo tâm Hội đồng khoa
thế” trong giờ đọc – hiểu văn học ngành Giáo
1
bản Văn học dành cho học dục và Đào tạo
B
sinh THPT
Thanh Hóa.
2
Một số biện pháp nhằm hạn
chế các lỗi thường gặp trong
bài làm văn của học sinh
THPT.
Hội đồng khoa
học Ngành Giáo
dục và Đào tạo
Thanh Hóa.
Năm học
đánh giá
xếp loại
2010 –
201
1