1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học ngành giáo dục đang ráo riết thực
hiện nội dung đổi mới giáo dục, với phương pháp chuyển từ tiếp cận nội dung (học
sinh học được gì) sang tiếp cận năng lực của người học (học sinh làm được gì
thông qua việc học), lấy học sinh là trung tâm và người thầy, cô giáo giữ vị trí quan
trọng trong triển khai phương pháp đổi mới đó. Điều này đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã xác định cụ thể trong định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo đến
năm 2020: “Cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục, tiếp tục
đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối
truyền thụ một chiều; Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian
giảng dạy lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh”
Để đạt được mục tiêu dạy học, thì việc đổi mới phương pháp dạy học của các
môn nói chung và môn hóa học nói riêng theo mô hình lớp học đảo ngược giúp học
sinh đạt được các phẩm chất năng lực cần thiết cho người học. Điều này đã được
khẳng định trong dự thảo chương trình giáo dục tổng thể mới nhất hiện nay.
Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học hiện nay ở các nhà trường, bộ môn hóa học
còn nhiều hạn chế: Giáo viên ngại đổi mới về phương pháp, vận dụng theo phương
pháp dạy học truyền thống, lấy người thầy làm trung tâm, cung cấp kiến thức, kỹ
năng đến học sinh theo cách áp đặt, một chiều, dẫn đến không hình thành được các
năng lực cần thiết cho người học
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng mô hình lớp học
đảo ngược giảng dạy bài vật liệu polime nhằm phát triển năng lực tự học và giải
quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh "(Hóa học 12 chương trình cơ bản)
1.2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học bài vật liệu polime ( hóa
học 12cb) nhằm phát triển năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo cho học
sinh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
1
1.4.4. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lớp học đảo ngược cùng với sử dụng hợp lí một số phương pháp và
kỹ thuật dạy học cũng như kỹ thuật đánh giá vào soạn bài vật liệu polime thì sẽ
phát triển được năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm
góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học hóa
học ở trường THPT.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
. Sơ lược về lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược.
* Lớp học truyền thống:
Ở lớp học truyền thống, học sinh đến trường ngồi nghe giảng bài thụ động và
hình thức này được giới chuyên môn gọi là Low thinking (suy nghĩ thấp). Sau đó
các em về nhà làm bài tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu học sinh không
hiểu bài. Lúc này cha mẹ các em sẽ phải đóng vai người thầy bất đắc dĩ để giúp con
mình làm bài và hầu hết đều không thành công trong vai trò này, hoặc rất vất vả vì
phụ huynh không có chuyên môn.
* Lớp học đảo ngược:
Theo mô hình lớp học đảo ngược, học sinh xem các bài giảng ở nhà qua
mạng, hoặc băng đĩa... Giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng
cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu.
Học sinh sẽ chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn, các em có
thể tiếp cận bài học bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại
nếu cần (điều này là không thể nếu nghe giáo viên giảng dạy trên lớp). Công nghệ
E-Learning giúp học sinh hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các
buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp. Điều này giúp việc học tập
hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn.
Lớp học đảo ngược khiến việc giảng dạy phải lấy người học làm trung tâm.
Thời gian ở lớp được dành để khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra những cơ hội
3
- Thứ hai là: Học sinh chủ động tiếp thu bài theo thời gian thích hợp của từng
em và tăng tính tự lập, tự giác của học sinh lên. Bài giảng được tải lên gmail chung
của lớp, hoặc gmail của học sinh trước một tuần, em nào rảnh giờ nào thì học thời
gian đó.
- Thứ ba là: Học sinh trao đổi và hỏi nhiều hơn. Với mô hình lớp truyền
thống, học sinh thường lo cặm cụi chép bài vì sợ trong bài kiểm tra sẽ có thông tin
đó; còn với “lớp học đảo ngược”, do các em đã bỏ công sức ra tìm hiểu bài trước
nên có nhiều kiến thức khiến các em tò mò, thắc mắc, đào sâu hơn.
- Thứ tư: Tăng cường kỹ năng làm việc nhóm. Khi cô phân bài cho từng tổ,
các học sinh của tổ đó sẽ phải làm việc với nhau và tự học rất nhiều.
- Thứ năm là: Giáo viên có thể hỗ trợ học sinh , hoặc theo nhóm khi trao đổi
với các em qua mạng.
- Thứ sáu là: Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi và với mọi thiết bị chỉ cần
thiết bị đó có thể online được như smartphone, máy tính bảng, máy tính bàn kết nối
Internet…
+Nhược điểm:
-Thứ nhất: Giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng điện
tử để đưa lên mạng, cũng như trình độ sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên.
Tuy nhiên, về lâu dài, giáo viên có thể tiết kiệm thời gian khi sử dụng bài giảng
nhiều lần, nhưng cũng phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, cập nhật các thông
tin mới.
- Thứ hai: Sự bình đẳng về công nghệ giữa người học với nhau, có thể là rào
cản đối với việc học tập của học sinh thiếu cơ hội tiếp cận với công nghệ.
- Thứ ba: Nhiều học sinh không có tính tự giác cao, chưa có thói quen học
tập theo mô hình này, nên sẽ gặp khó khăn và thậm chí lơ là không chịu chuẩn bị
bài trước khi đến lớp.
- Thứ tư: Việc chuyển đổi vai trò từ truyền thụ sang hướng dẫn có lẽ rào cản
lớn nhất đối với bản thân của mỗi người Thầy.
6
Bước 3: Giáo viên hoặc học sinh đặt ra các vấn đề nổi cộm của bài học để thảo
luận và các bài tập mức độ vận dụng và vận dụng cao để thảo luận, các vấn đề thực
tiễn liên quan đến bài học. Trong quá trình thảo luận giáo viên có thể giải đáp và
làm rõ một số vấn đề mà học sinh chưa hiểu bài ở bước 3.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thực trạng vận dụng phương pháp mới dạy học tích cực ở trường
THPT trên địa bàn.
Qua quá trình thăm lớp, dự giờ, thao giảng, hội giảng và trao đổi đúc rút kinh
nghiệm, tôi nhận thấy: Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học việc giáo viên
vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bộ môn hóa học còn
nhiều hạn chế. Giáo viên thường vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống
(thuyết trình) là chủ đạo. Xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Đa số giáo viên ngại tìm hiểu các phương pháp dạy học mới.
Thứ hai: Là về mặt nhận thức. một số thầy cô giáo, nhất là đối tượng lớn
tuổi vẫn còn thể hiện rõ sự bảo thủ, trì trệ
Thứ ba: Thầy cô giáo thiếu kiên trì với cái mới. Dạy học theo phương pháp
truyền thống có phần nhẹ nhàng, đơn giản, chủ yếu giảng bài và đọc- chép. Còn
thực hiện theo phương pháp dạy học mới, như bài học minh họa, theo chủ đề, tích
hợp, liên môn…được triển khai đại trà mấy năm nay, thì bắt buộc, yêu cầu người
giáo viên phải tốn nhiều thời gian, phải vất vả, tìm tòi, sáng tạo rất nhiều trong
khâu thiết kế, soạn bài, chuẩn bị, sử dụng nhiều phương án, tình huống sự phạm,
chuyên môn để dẫn dắt, gợi mở học sinh tìm hiểu, suy nghĩ, tư duy...
Từ đó làm cho bài giảng kém sinh động, không kích thích được tinh thần,
thái độ học tập của học sinh, làm cho học sinh không hứng thú bộ môn hóa học.
2.2.2. Đặc điểm học sinh của trường.
- Thường rụt rè, thiếu tự tin, kỹ năng nói và hợp tác nhóm trong học tập hạn chế.
- Đa số học sinh nhà ở xa trung tâm huyện,Không có nhà sách trường nên các tài
- phân biệt các loại polime bằng tính chất vật lí và hóa học
- Trình bày được các ứng dụng phổ biến của chất dẻo, tơ, cao su
8
2. Kỹ năng:
- Viết công thức của monome, polime của chất dẻo, tơ, cao su.
- Viết các phương trình hóa học tổng hợp chất dẻo, tơ, cao su.
- Phân biệt polime thiên nhiên, polime tổng hợp và polime nhân tạo
- Quan sát, phân biệt được các vật dụng thuộc loại vật liệu gì?
- Vận dụng kiến thức liên môn ( vật lí, hóa học) để giải quyết vấn đề thực tiễn.
- Giải các bài tập liên quan.
3. Năng lực cần phát triển:
- Năng lực nhận thức kiến thức hoá học
- Năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn
- Năng lực hợp tác
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
II. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC.
1. Phương pháp:
Phương pháp chủ đạo: mô hình lớp học đảo ngược .
Kết hợp với các phương pháp khác như: Thuyết trình, đảm thoại, phương pháp
góc…
2. Kỹ thuật dạy học:
- Kỹ thuật khăn trải bàn.
- Kỹ thuật hỏi ý kiến chuyên gia.
III. CHUẨN BỊ.
1. Chuẩn bị của giáo viên:
Giáo án soạn giảng trên các phần mềm: Microsoft Word, Microsoft Power Point.
2. Chuẩn bị của học sinh:
GV: Giải đáp các vướng mắc mà
học sinh yêu cầu.
Hoạt động 2: Bài mới
GV: Đặt vấn đề
40
phút
HS: Lắng nghe, quan sát.
- Tầm quan trọng của vật liệu
polime và ứng dụng trong cuộc sống - Liệt kê các vật dụng trong gia
đình làm từ vật liệu polime
- Biết nhận biết các vật liệu dùng
làm đồ dùng trong gia đình được
làm từ chất dẻo, tơ hay cao su
GV: Tổ chức hoạt động nghiên cứu
bài mới.
GV: Chia lớp học thành 3 nhóm với
HS: Nghe giáo viên phân công và
các các vai trò và nội dung cần tìm
thành lập nhóm.
hiểu:
Nhóm 1: Đóng vai trò các nhà sản
xuất
Nhóm 2: Tổ chức bảo vệ môi
trường
Nhóm 3: cơ quan quản lí nhà nước
NỘI DUNG CÁC NHÓM CẦN TÌM HIỂU VÀ THẢO LUẬN
Nhóm 1
- Môi trường không khí.
- Những đối tượng bị
ảnh hưởng bởi vật liệu
polime:
+ Thực vật
+ Động vật
phát triển bền vững,
đảm bảo môi trường
an toàn.
- Có phương án tái
chế vật liệu polime
sau khi sử dụng.
- Tìm các vật liệu có
tính chất tương tự
thay thế nhưng thân
thiện với môi trường
- Cần có sự cam kết
giữa các bên liên
quan trong việc ứng
dụng phát triển với
bảo vệ môi trường
HS: Phân công nhiệm vụ các
thành viên trong nhóm:
thảo luận là 10 phút
- Thư ký ghi chép.
- Sử dụng SGK, sách tham
- Trình bày trên giấy A0.
khảo, bài giảng E-lerning, mạng
đến vấn đề cần quan tâm.
HS: Tiến hành thảo luận, phản
biện giữa các nhóm với nhau.
HS: Nghe giáo viên nhận xét.
Hoạt động 3: Tổ chức học sinh thảo luận đề xuất ý kiến và Giải
đáp thắc mắc.
20 phút
GV: Yêu cầu HS thảo luận làm rỏ HS: Chia nhóm để thảo luận và
thêm các nội dung sau:
hoàn thành nội dung yêu cầu.
+ Những chất có tính dẻo như kim
loại có phải là vật liệu polime
không, những ưu điểm vượt trội
của compozit so với polime là gì?
+ Xác định các PE, PVC, PMM ,
nilon-6,6; nilon-6, tơ olon, cao su
Buna, Buna-N, Buna-S… được
tổng hợp bằng phương pháp nào
GV: Xác định bản chất của các
loại tơ như bông, len, đay, tơ tằm,
tơ nhên….và các tơ tổng hợp như
nilon-6,6, tơ nitron.
+ Đề xuất cách phân biệt các vật
liệu polime thiên nhiên với polime
tổng hợp
GV: Yêu cầu HS thảo luận và làm
để tương tác trực tiếp với bài
hai bài tập trắc nghiệm:
tập trắc nghiệm trên máy tính
Bài số 1: Dạng trắc nghiệm nhiều
lựa chọn.
Bài 2: Dạng trắc nghiệm nối hình
ảnh
Hoạt động 5: Mở rộng kiến thức:
5 phút
13
GV: Ngoài những nội dung các HS: Lắng nghe, ghi chép
bạn đã được tiếp cận từ bài giảng Sau buổi học sử dụng kỹ năng
và buổi học hôm nay về nhà các khai thác thông tin từ sách giáo
bạn cần tìm hiểu một số nội dung khoa, từ internet, phân tích,
sau
đánh giá, so sánh để viết bài và
GV: Trình chiếu các nội dung:
nộp bài trực tuyến
2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là để kiểm tra tính hiệu quả của giả thiết khoa học nêu ra
trong đề tài, từ đó có những biện pháp hiệu chỉnh nhằm mang lại hiệu quả thiết
thực hơn.
. Phương pháp
+ Điều tra số liệu về kết quả học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng.
+ Xử lí và phân tích kết quả và đánh giá các tiêu chí; từ đó nhận xét và rút ra
kết luận về tính hiệu quả của đề tài.
. Đối tượng
Tôi lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm là học sinh lớp 12C1 và 12C2 tại
trường tôi dạy trong năm 2016-2017
+ Lớp 12C2 năm 2016-2017 với 40 em học sinh làm lớp đối chứng (ĐC).
+ Lớp 12C1 năm 2016-2017 với 42 em học sinh làm lớp thực nghiệm (TN).
Về mặt trình độ hai lớp này có trình độ tương đương nhau, đều là lớp học
theo tổ hợp khoa học tự nhiên của trường.
. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
.Về mặt định tính
Tôi dựa trên sự quan sát những biểu hiện tích cực của học sinh quá trình
học tập; các căn cứ cụ thể là:
- Học sinh tích cực, tự giác tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà
và đặc biệt có hứng thú , tích cực trong giờ học tại lớp
- Học sinh giải quyết được các vấn đề kiến thức trong bài giảng và vận dụng
lý thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Học sinh nêu đựợc các kiến thức áp dụng giải bài tập.
. Về mặt định lượng
Từ kết quả kiểm tra của học sinh, sử dụng phương pháp thống kê để xử lí và
phân tích kết quả thực nghiệm.
15
4
5
6
7
8
9
10
ĐC
0
0
1
7
4
11
15
0
-Giá trị trung bình của lớp đối chứng (40 HS):
X =4,975
-Giá trị trung bình của lớp thực nghiệm (42 HS):
Y =6,9
16
. Đánh giá mức độ hiệu quả việc áp dụng sáng kiến kinh ghiệm đối với hoạt
động giáo dục.
Qua việc tổ chức, theo dõi và phân tích diễn biến các giờ học thực nghiệm,
trao đổi với học sinh trong quá trình thực nghiệm, thu thập, phân tích và xử lí số
liệu qua các bài kiểm tra, tôi có những nhận định sau đây:
- Mức độ tích cực, tự lực trong hoạt động học tập của học sinh trong nhóm
thực nghiệm luôn cao hơn nhóm đối chứng; càng ở các tiết học sau, sự tập trung
chú ý và tính tích cực của học sinh trong nhóm thực nghiệm càng tăng.
- Giá trị điểm trung bình của lớp thực nghiệm lớn hơn điểm trung bình ở lớp
đối chứng. Đồng thời phổ điểm của học sinh cũng được nâng lên rõ rệt.
- Đối với lớp thực nghiệm, số học sinh đạt mức điểm khá giỏi luôn nhiều hơn
so với số học sinh đạt mức điểm này ở lớp đối chứng.
- Học sinh ở nhóm thực nghiệm chủ động hơn trong việc học tập, biểu hiện
về nhà các em hoàn thành được các phần lý thuyết mở rộng và đặt ra các vấn đề
mới nảy sinh
3. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
thành được các phẩm chất, năng lực cho người học
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được
các đồng nghiệp và của các em học sinh đóng góp ý kiến quý báu để cho đề tài có
chất lượng hơn và góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong giai đoạn hiện nay.
3.3 . Kiến nghị
Sau khi thực hiện đề tài, qua tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh, tôi có một
số kiến nghị như sau:
- Đối với nhà trường:
+ Tạo điều kiện xây dựng trường học có cơ sở vật chất tốt, đảm bảo các yêu cầu
cơ bản cho việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, hiệu quả vào dạy
học, trong đó có phương pháp lớp học đảo ngược.
+ Tổ chức các đợt hội thi hội giảng trong nhà trường, trong đó yêu cầu giáo viên
tham gia đầy đủ và coi trọng về đổi mới phương pháp.
- Đối với giáo viên:
18
+ GV dành thời gian tìm hiểu về phương pháp lớp học đảo ngược, thiết kế các giáo
án theo phương pháp này, thực hiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng đổi mới
phương pháp và tiếp tục hoàn thiện phương pháp.
+Tăng cường các biện pháp sư phạm khuyến khích học sinh tích cực, chủ động,
sáng tạo trong học tập, tổ chức môi trường học tập dân chủ.
+ Hướng cho học sinh phương pháp học đi đôi với hành, đồng thời xây dựng động
cơ, thái độ học tập đúng đắn để từ đó chủ động nâng cao tính tự giác trong học tập.
+ Tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa gắn lý thuyết vào thực tiễn trong các
dịp lễ, hội, hoặc xen kẽ trong các tiết chào cờ để học sinh có cơ hội phát triển các
kỹ năng cũng như các năng lực cơ bản, khắc phục tính nhút nhát, thụ động của
HS...
- Đối với học sinh: