ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
NGUYỄN ĐÌNH SANG
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG VÀ PHÕNG TRỊ
BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THƢƠNG PHẨM NUÔI TẠI TRẠI GÀ
CÔNG TY EMIVET – XÃ NGỌC LƢƠNG, HUYỆN YÊN THỦY,
TỈNH HÕA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Giảng viên hƣớng dẫn:
TS. Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trƣờng và thực tập tại cơ sở,
nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp. Để hoàn thành đƣợc bản
khoá luận này, em đã nhận đƣợc sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn,
sự giúp đỡ và tạo điều kiện của ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y của
Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, và trại gà của Công Ty EMIVETxã Ngọc Lƣơng, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Em cũng nhận đƣợc sự
cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của
ngƣời thân trong gia đình. Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời
cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trƣớc hết em xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hƣớng
dẫn tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn TS. Nguyễn Văn Quang đã trực tiếp
hƣớng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại gà của Công Ty
EMIVET- xã Ngọc Lƣơng , huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều
kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, ngƣời thân, bạn bè đã luôn
ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Mycoplasma gallimarum
MS:
Mycoplasma synoviae
TĂ:
Thức ăn
tr:
Trang
TTTĂ:
Tiêu tốn thức ăn
TY:
Thú y
kg:
Kilogam
g:
Gram
Cs:Cộng sự
4.1.1. Công tác chăn nuôi ................................................................................ 40
4.1.2. Công tác thú y ....................................................................................... 46
v
4.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của gà ................................................... 47
4.2.Tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trọng ............................................................... 48
2.7. kết quả điều trị 1 số bệnh trên gà thƣơng phẩm ....................................... 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ................................................................ 53
5.1. Kết luận .................................................................................................... 53
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 53
5.3. Tồn tại ...................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 54
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông
thôn. Thu nhập chính của họ là từ ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trong đó,
ngành chăn nuôi gia cầm đƣợc ƣu tiên phát triển hàng đầu do khả năng đáp
ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng. Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp
một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nƣớc ta nhƣ công
nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc.
Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời. Ở nông
thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu nhƣ gia đình nào cũng có nuôi một vài
con. Trƣớc đây, chăn nuôi gia cầm thƣờng theo phƣơng thức quảng canh tận
-Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn gà thƣơngphẩm.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
Trại gà Công ty Emivet đƣợc xây dựng trên địa bàn xã Ngọc Lƣơng
huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình. Đây là xã phía nam huyện Yên Thủy có các
điều kiện nhƣ sau:
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
* vị trí địa lí
Xã Ngọc Lƣơng, Huyện Yên Thủy là một xã trung du miền núi của tỉnh
Hòa Bình,nằm ở phía nam của huyện, cách thành phố Hòa Bình 97km.Vị trí
địa lí xã nhƣ sau:
Phía đông giáp với 2 xã Thạch Bình và Phú Sơn của huyện Nho
Quan, Tỉnh Ninh Bình.
Phía tây giáp với Cúc Phƣơng của huyện Nho Quan.
Phía nam giáp với 2 xã Đồng Phong và Yên Quang của huyện Nho Quan.
- Ngoài ra trong xã còn có nhiều khu tiểu thủ công nghiệp. Còn lại là
diện tích đất chƣa sử dụng.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
* Tình hình xã hội
- Về dân cư
Theo số liệu của ủy ban nhân dân xã thì dân số của xã trong năm 1999
là 8219 với 3.259 hộ đƣợc chia làm 10 xóm, gồm 3 dân tộc anh em sinh sống
là: Mƣờng, Kinh, Tày, …Trong đó dân tộc thiểu số chiếm 60% dân số toàn xã.
Đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời dân những năm gần đây đƣợc
nâng cao rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phƣơng tiện nghe nhìn nhƣ:
đài, ti vi, sách báo. Đây là điều kiện để nhân dân trong xã nắm bắt kịp thời
đƣợc các chủ trƣơng của Đảng và Nhà Nƣớc, các thông tin khoa học kỹ thuật
để phục vụ đời sống hàng ngày.
- Về y tế
5
Trạm y tế xã luôn làm tốt các công tác dự phòng, các trƣơng trình y tế
Quốc gia, duy trì và nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe
cho nhân dân, tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát các dịch bệnh có nguy
cơ xảy ra trên địa bàn. Năm 2012, trạm xã đã khám và điều trị cho nhân dân
đƣợc 11.000/7.000 lƣợt ngƣời, duy trì công tác tiêm chủng và cho trẻ em
uống Vitamin đạt 100%. Tỷ lệ ngƣời sử dụng nƣớc sạch đạt 73%. Xã cũng tổ
chức khám sức khỏe cho các đối tƣơng chính sách, tổ chức tập huấn VSATTP
và khám định kỳ cho các đối tƣợng kinh doanh.
- Về giáo dục
Xã có nhiều cơ quan trƣờng học đóng trên địa bàn xã nhƣ: trƣờng Mầm
Non Ngọc Lƣơng, trƣờng Tiểu học Ngọc Lƣơng, trƣờng Trung học cơ sở
Ngọc Lƣơng, trƣờng Phổ thông trung học Yên Thủy. Các trƣờng luôn thực
2012 trên diện tích 2,1 ha trong đó bao gồm:
- Diện tích cho xây dựng kho và nhà ở: 0,1 ha
- Diện tích cho chăn nuôi gà là: 1,5 ha
- Diện tích trồng cây ăn quả là: 0,5 ha
Về trồng trọt
- Trong trại trồng chủ yếu cây ăn quả nhƣ mít, ổi, xoài ngoài ra còn
trồng thêm chanh bƣởi.
- Trồng rau để cung cấp thực phẩm cho trại.
Về chăn nuôi
Chăn nuôi gà là chủ yếu, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế.
Chăn nuôi lợn với mục đích để cung cấp thịt cho trại.
Công tác thú y của trại
Trại chú ý công tác phòng bệnh bao gồm các nội dung sau:
Hạn chế cho ngƣời ngoài vào khu vực chăn nuôi, công nhân đƣợc trang
bị quần áo bảo hộ lao động đầy đủ.
Chuồng trại đƣợc quét dọn vệ sinh sạch sẽ.
7
Thƣờng xuyên phun sát trùng bằng haniodone 10% với tần suất
lần/tuần. Trại đã thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vacxin cho toàn bộ
đàn gà trong trại.
Nhờ vào tiến hành tốt phòng bệnh cho đàn vật nuôi, nên trong quá trình
chăn nuôi cũng hạn chế đƣợc phần nào dịch bệnh xẩy ra.
2.2. Tổng quan nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Đặc điểm sinh giải phẫu, sinh lí của gia cầm
-bộ phận bên ngoài
Gà hƣớng thịt có đặc điểm chung là tầm vóc lớn, tốc độ sinh trƣởng
kinh tế đặc biệt, nhất là ở thuỷ cầm. Từ 1 con vịt, ngỗng có thể nhận đƣợc 150
– 200 g lông
+Lông tơ: Có nhiều ở gà tây, vịt, ngỗng, thƣờng phân bố ở vùng ngực,
nằm sát dƣới da, dƣới lớp lông cánh chính và đuôi. Màu sắc của bộ lông Ở gia
cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện dƣới
dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố mêlanin và dạng dịch của sắc tố
lipocrôm. Sắc tố mêlanin quy định từ màu càfê- vàng đến màu đen; còn
lipôcrôm quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm. Ở gia cầm màu sắc
lông khác nhau có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng (vấn đề
màu sắc lông sẽ đƣợc thảo luận ở phần giống gia cầm). Chân của gia cầm
đƣợc bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về màu sắc. Chân vàng
là do sự có mặt của lipôcrôm đồng thời thiếu vắng mêlanin. Màu đen của
chân là do sự xuất hiện của mêlanin. Khi màu đen có mặt ở thể trội và màu
vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây). Khi đồng
thời cả 2 màu đều không xuất hiện thì chân có màu trắng. Về cƣờng độ (độ
đậm nhạt) của màu vàng tuỳ thuộc vào hàm lƣợng xantôphin trong khẩu phần
+ Da: Bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trƣờng, nhất là ở gia cầm non. Da gồm 2
phần chính, lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ cùng với lớp mô liên kết mỏng
và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, nghèo mạch máu và hầu nhƣ
9
không có tuyến ngoại tiết. Dƣới lớp biểu bì là lớp mô liên kết mỏng gần giống
nhƣ mô mỡ, có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh. Đặc điểm lớn nhất
của da gia cầm là mỏng, nghèo các tuyến dƣới da, không có tuyến mồ hôi.
Ngƣời ta cho rằng, cùng với việc phát triển của lớp da, khả năng điều chỉnh
nhiệt của nó dần dần thay đổi, cho phép cơ thể gia cầm thích nghi với sự thay
đổi nhiệt độ của môi trƣờng xung quanh. Trong những ngày đầu tiên sau khi
Hệ cơ
Ở gia cầm, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc. Sự phát triển của hệ cơ phụ
thuộc vào loài, giống, tuổi gia cầm. Ở các phần khác nhau của cơ thể gia cầm
hệ cơ phát triển ở mức độ khác nhau. Cơ ngực phát triển tốt theo sự vận động
của cánh và bảo vệ các cơ quan, bộ phận bên trong của ngực và bụng. Cơ có ý
nghĩa kinh tế quan trọng trong sản xuất thịt, nó chiếm tỷ lệ lớn trong phần thịt
ăn đƣợc của gà. Ở một số giống gà tây cơ ngực có thể phát triển đạt đến 1,51,9 kg. Màu sắc cơ của gia cầm là màu trắng hoặc sẫm (đỏ sẫm). Khi luộc thì
cơ của gà và gà tây thì sáng hơn còn ở thuỷ cầm thì sẫm hơn. Tốc độ chảy của
máu qua cơ quy định màu của nó. Chân có thịt màu sẫm trong khi ngực có
thịt màu trắng. Gà, gà tây đi lại nhiều thì thịt có màu sáng hơn, trong khi thuỷ
cầm thịt có màu sẫm hơn. Độ lớn của tế bào cơ biến động từ 10-100, chiều dài
từ 6-12 cm. Các tế bào cơ chứa 70 -75% là nƣớc, 17 -19% protit, 1 -7% các
hợp chất không chứa nitơ, khoảng 1% chất khoáng và 3,9% mỡ. Ngày nay đã
xác định đƣợc mối tƣơng quan thuận giữa khối lƣợng cơ đùi, cơ lƣờn (ngực)
với khối lƣợng cơ thể gia cầm
Hệ hô hấp
Hệ hô hấp ở gia cầm ngoài phổi còn có các túi khí. Phổi của gia cầm
nhỏ nên ngoài phổi ra, ở gia cầm còn có 7-9 túi khí tham gia vào quá trình hô
hấp. Đó là 1 túi cổ, 2 túi dƣới đòn, 2 túi ngực trƣớc, 2 túi ngực sau và 2 túi
bụng. Trong quá trình hô hấp, phổi thực hiện động tác chủ động còn các túi
khí thì bị động. Thể tích chung của các túi khí ở gà là 125- 160 cm3 , thể tích
khí ở phổi là 13-15 cm3 . Ở gia cầm không có hoành cách mô phân cách giữa
xoang ngực và xoang bụng nhƣ ở gia súc, vì vậy không có áp lực đặc biệt của
11
ngực khi hô hấp mà chỉ có áp lực của phổi. Một lần thực hiện động tác hô
hấp, dung lƣợng của phổi và khí trong đƣờng hô hấp khoảng 45 cm3 ở gà, 38
cm3 ở vịt, 4,7-5,2 cm3 ở bồ câu. Hàm lƣợng ôxy trong khí hít vào là 20,94%
trong dạ dày tuyến là không lâu, sức tiêu hoá tại đây là không đáng kể. Tại dạ
dày tuyến có sự phân giải prôtit và đồng hoá chất khoáng. Dạ dày cơ có dạng
hình tròn hoặc ô van, có hai thành cứng, phía trong đƣợc phủ lớp niêm mạc
dày, cứng. Chất tiết trong dạ dày cơ có dạng lỏng, có pH= 3-4,5. Thành phần
dịch dạ dày gồm nƣớc, HCl, men pepxin. Dạ dày cơ có khối lƣợng 50g,
nhƣng do lớp cơ dày nên sức co bóp lên tới 100-150 mmHg ở gà, 180 mmHg
ở vịt, 260-280 mmHg ở ngỗng. Trong dạ dày cơ luôn luôn có cát sỏi hỗ trợ
cho sự tiêu hoá. Ở dạ dày cơ, hydratcacbon đƣợc cắt ngắn, chia nhỏ ra, protit
phân giải thành các peptit và axit amin tuy chƣa thật triệt để.
Ruột của gia cầm có độ dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào loài, giống,
cá thể, tuổi, phƣơng thức nuôi, loại thức ăn... Ruột non bắt đầu từ nơi tiếp
giáp với dạ dày cơ, kéo dài cho đến đoạn ruột thừa (túi mù, ruột tịt). Ruột già
bắt đầu từ chỗ tiếp giáp ruột non đến hậu môn. Tiêu hoá và hấp thu các chất
dinh dƣỡng diễn ra chủ yếu ở ruột non. Ở ruột già có nhiều vi sinh vật, nó
giúp cho việc lên men và tiêu hoá xenlulo, chất không đƣợc tiêu hoá đƣợc bài
tiết qua hậu môn (ổ nhớp) phần tận cùng của ống tiêu hoá.
Quá trình tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng ở gia cầm
- Tiêu hoá ở miệng:
Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ. Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài
gia cầm rất khác nhau. Gà, gà tây và chim bồ câu có mỏ ngắn, nhọn và cứng,
hơi cong. Thuỷ cầm có mỏ dài và bẹt, đoạn cuối của nó cong tròn và có một
mẩu cong về phía dƣới. Đƣờng vành mỏ trên có thêm những răng nhỏ bằng
sừng dùng dể lọc nƣớc và cắn rau, cỏ. Trong chất sừng của mỏ có rất nhiều
các đầu dây thần kinh, có chạc ba đƣợc gọi là các tiểu thể xúc giác. Dây thần
kinh còn có ở trên vòm miệng cứng và dƣới lớp sừng biểu bì của lƣỡi. Ở thuỷ
cầm mái, phần sừng ở mỏ trên thƣờng có màu sắc rực rỡ hơn ở con trống.
13
cầm đói, thức ăn đƣợc đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều. Trong thành
thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm
ƣớt và trơn thức ăn khi nuốt.
- Tiêu hoá ở diều:
Diều là là bộ phậnphình to của thực quản, nằm tiếp giáp giữa ngực và
cổ, ở dƣới da mặt trƣớc cổ. Diều gà rất phát triển hình thành một túi chứ thức
ăn, diều vịt và ngỗng kém phát triển, chỉ là phần phình to của thực quản. Diều
không có tuyến tiết dịch tiêu hoá, nó chỉ có tác dụng dự trữ, thấm ƣớt và làm
mềm thức ăn nhờ niêm dịch. Tuy vậy, thức ăn trong diều vẫn đƣợc tiêu hoá
một phần nhờ men amylaza của nƣớc bọt xuống và hoạt động của vi sinh vật,
mặc dầu không đáng kể. Khi gia cầm ăn, một phần thức ăn dừng lại ở diều,
phần khác thì đi thẳng xuống dạ dày. Thời gian thức ăn dừng lại ở diều
khoảng3-4 giờ đến 16-18 giờ. Diều co bóp đẩy thức ăn xuống dạ dày nhƣng
khi dạ dày đầy thức ăn thì diều ngừng co bóp. Hoạt động của diều do dây thần
kinh mê tẩu chi phối, nếu cắt bỏ dây mê tẩu hai bên cổ làm co bóp của diều
dừng lại. Gà bị cắt diều sẽ mất tính thèm ăn, tỷ lệ tiêu hoá thức ăn giảm rõ rệt.
Bồ câu cả trống và mái, khi mớm thức ăn cho con trong diều sản sinh ra một
loại dịch thể màu trắng sữa (gọi là sữa diều). Nó chứa protein, lipit, muối
khoáng, men amylaza, sarcaraza (từ màng niêm dịch của diều bị biến chất và
rụng ra). Dịch này đƣợc bồ câu ợ lên miệng để mớm cho con trong vòng 20
ngày đầu sau khi nở.
-Tiêu hoá ở dạ dày tuyến:
Dạ dày tuyến có dung tích nhỏ, nhƣng thành của nó dày. Trong thành
niêm mạc dạ dày tuyến có tuyến dịch vị (khoảng 30-40 tuyến). Dịch vị do
tuyến tiết ra chứa men pepxin và axit chlohydric (HCl), độ pH là 3,1-4,5
Lƣợng dịch vị tiết ra sau 30 phút của gà là 11,3 ml, nhiều nhất là một
giờ sau khi ăn. Nếu cho thức ăn giàu protein thì dịch vị tiết ra nhiều hơn so
với cho ăn thức ăn thực vật. Trong khẩu phần chứa 15-20% protein tiêu hoá
16
-Tiêu hoá ở ruột:
Ruột noncủa gia cầm đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dƣới giáp với
manh tràng. Ruột già của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn
và 2 manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Thành ruột cũng có lớp
nhung mao nhăn nheo. Các tuyến tiêu hoá phân bố suốt dọc thành niêm mạc
ruột. Riêng gà và gà tây khôngcó tuyến tá tràng. Ngƣợc lại, tuyến tuỵ của gia
cầm rất phát triển. Ở tá tràng, các chất đƣợc tiêu hoá và hấp thu với tốc độ
mạnh dƣới tác dụng của mật, tuyến tuỵ và tuyến ruột. Dịch mật đƣợc tiết ra từ
gan, có màu xanh lá cây và sánh nhầy. Dịch mật chứa 78-80% nƣớc, 20-22%
chất đặc, trong đó có axit mật, keo, cholesterin, muối vô cơ và sắc tố mật
(bilirubin, biliverdin). Dịch mật của gia cầm khác với gia súc là trong thành
phần của nó chứa axit clohidric. Axit HCl cùng với nhũ chấp đƣợc chuyển từ
dạ dày vào tá tràng, dƣới tác dụng của HCl, hocmon dịch tràng đƣợc hình
thành ở màng nhầy tá tràng và theo máu đến tuyến tuỵ và kích thích tuyến tuỵ
tiết dịch tuỵ. Dịch tuỵ lỏng, trong suốt có phản ứng kiềm yếu, pH = 7,2-7,5.
Trong dịch tuỵ có nhiều men tripxin, erepxin, amylaza, mantaza, lipaza.
Thông qua kích thích cơ học vào màng nhầy, tuyến ruột tiết ra dịch ruột. Dịch
ruột có tỉ trọng 1,076; phản ứng kiềm pH = 7,42 màu đục. Trong dịch ruột có
chứa men enterpkinaza, erepxin, amylaza, mantaza. Tiêu hoá ở ruột già cũng
có hai quá trình lên men và thối rữa. Lên men xảy ra mạnh ở manh tràng, thối
rữa ở trực tràng. Manh tràng gia cầm khá phát triển nên quá trình lên men
tƣơng đối mạnh, nhất là những gia cầm ăn nhiều thức ăn thực vật thô sơ. Ruột
của gia cầm nói chung tƣơng đối ngắn, thức ăn lƣu lại không quá một ngày
đêm. Đầu cuối của trực tràng đổ vào một xoang chung gọi là xoang tiết niệu
sinh dục. Nó do bốn bộ phận thông với nhau tạo thành. Trực tràng thông với
bộ phận lớn nhất gọi là bộ phận đƣờng phân (A), tiếp theo về sau gọi là ngăn
bài tiết chung (B), ống dẫn tinh (hoặc ống dẫn trứng) và ống dẫn nƣớc tiểu
hồng cầu là 90-120 ngày. Phần lớn nitơ và axít amin trong tế bào nằm trong
nhân của nó. Số lƣợng hồng cầu phụ thuộc tuổi, giống, trạng thái khi nghiên
18
cứu máu. Trong 1 mm3 máu có chứa 3,3-3,6 triệu hồng cầu (ở gà mái là 2,53,0 triệu, trên 3 triệu ở gà trống). Bạch cầu chia 2 nhóm là nhóm có bắt màu
và nhóm không bắt màu. Trong 1 mm3 máu có chứa 20-34 triệu bạch cầu. Số
lƣợng phụ thuộc giống, tuổi, cá thể... Trong huyết tƣơng máu của gia cầm
không có kháng thể mà kháng thể chỉ có trong bạch cầu. Trong bạch cầu đã
xác định có 63 loại kháng thể khác nhau. Kháng thể đƣợc di truyền và không
thay đổi trong suốt quá trình sống của gia cầm. Do vậy, nhóm kháng thể ở
mỗi loại gia cầm là đặc trƣng cho cá thể và có thể sử dụng trong công tác
chọn giống.
Hấp thu dinh dưỡng:
Ở gia cầm, các quá trình hấp thu chủ yếu xảy ra ở ruột non. Ở đây các
sản phẩm phân giải cuối cùng protein, lipit và gluxit, nƣớc, các chất khoáng,
các vitamin đƣợc hấp thu.
-Hấp thu chất chứa nitơ:
Đƣợc hấp thu dƣới dạng các các axit amin. Cƣờng độ hấp thu các axit
amin riêng biệt không phụ thuộc vào khối lƣợng phân tử của chúng. Ở gà thấy
có sự hấp thu một cách cạnh tranh giữa một số axit amin. Gluxit đƣợc hấp thu
dƣới dạng các đƣờng đơn (monosacarit) và đƣờng đôi (disacarit). Khả năng
hấp thu đƣờng ở gà đƣợc phát triển trong 14 ngày tuổi. Glucoza và galactoza
đƣợc hấp thu nhanh hơn một cách đáng kể so với fructoza và mantoza.
-Hấp thu mỡ:
Trong ruột, dƣới tác động của men lipaza, mỡ đƣợc phân giải đến
glyserin và axit béo. Các sản phẩm của sự phân giải mỡ, về cơ bản đƣợc hấp
thu trong phần mỏng của ruột. Glyserin đƣợc hoà tan rất tốt trong nƣớc và
đƣợc hấp thu rất nhanh. Các axit béo kết hợp với các axit mật, kali và natri tạo