BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NUÔI CẤY MÔ VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM
CỦA DỊCH CHIẾT THÔ TỪ CÂY LAN HUỆ (Hippeastrum
puniceum (Lam.) Kuntze) VÀ CÂY LAN HUỆ MẠNG
(Hippeastrum reticulatum var striatifo Herb)
Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ THỦY NGÂN
Ngành: NÔNG HỌC
Niên khoá: 2005 – 2009
Tháng 7/2009
NUÔI CẤY MÔ VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM
CỦA DỊCH CHIẾT THÔ TỪ CÂY LAN HUỆ (Hippeastrum
puniceum(Lam.) Kuntze) VÀ CÂY LAN HUỆ MẠNG
(Hippeastrum reticulatum var striatifo Herb)
Tác giả
LÊ THỊ THỦY NGÂN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
kỹ sư ngành Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
TS. TRẦN THỊ DUNG
TÓM TẮT
Lê Thị Thủy Ngân, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh. Tháng 7/2009,
với tên đề tài “Nuôi cấy mô và khảo sát hoạt tính kháng nấm của dịch chiết thô từ
cây Lan huệ (Hippeastrum puniceum (Lam.) Kuntze) và cây Lan huệ mạng
(Hippeastrum reticulatum var striatifo Herb)”, được sự hướng dẫn của TS. Trần Thị
Dung, TS. Từ Thị Mỹ Thuận. Đề tài đã được thực hiện tại Trung tâm Công Nghệ Sinh
Học - Công ty Cây xanh TP. Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2009 đến
tháng 7/2009.
Mục đích đề tài:
- Xác định nồng độ chất điều hoà sinh trưởng thích hợp cho sự tạo chồi.
- Xác định hoạt tính kháng nấm của củ Lan huệ, củ Lan huệ mạng ngoài tự nhiên
và cây in vitro.
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm thực hiện trên hai loại cây Lan huệ và Lan huệ mạng được bố trí theo
kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố:
+ Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên sự tạo chồi gồm 4
nghiệm thức (4 nồng độ chất điều hoà sinh trưởng) với 3 lần lặp lại.
+ Thí nghiệm khảo sát khả năng kháng nấm của củ ngoài tự nhiên và cây in vitro gồm
5 nghiệm thức (4 loại dịch chiết thô và 1 mẫu đối chứng ethanol) với 3 lần lặp lại.
Qua thực nghiệm, chúng tôi đạt được một số kết quả sau:
- Môi trường thích hợp nhất cho sự tạo chồi ở cây Lan huệ và cây Lan huệ mạng là
môi trường MS có bổ sung BA 2mg/l.
- Dịch chiết thô của củ Lan huệ ngoài tự nhiên có khả năng hạn chế sự sinh trưởng
các loại nấm: Fusarium moniliforme, Corynespora cassiicola.
- Dịch chiết thô của cây Lan huệ in vitro có khả năng hạn chế sự sinh trưởng nấm
Colletotrichum gloeosporioides.
- Dịch chiết thô của củ Lan huệ mạng ngoài tự nhiên có khả năng hạn chế sự sinh
trưởng các loại nấm: Phytopthora colocasia, Corynespora cassiicola.
2.2.4.4. Chất kích thích sinh trưởng .............................................................................9
2.2.5. Thành phần môi trường nuôi cấy......................................................................10
2.2.5.1. Đường làm nguồn carbon ..............................................................................10
2.2.5.2. Các muối khoáng đa lượng............................................................................10
2.2.5.3. Khoáng vi lượng ...........................................................................................11
2.2.5.4. Các vitamin ...................................................................................................12
2.3. Giới thiệu các loại nấm được sử dụng trong nghiên cứu ......................................12
2.3.1. Nấm Colletotrichum gloeosporioides ...............................................................12
iv
2.3.2. Nấm Fusarium moniliforme .............................................................................13
2.3.3. Nấm Phytophthora palmivora ..........................................................................14
nước. (Phamductoan). ................................................................................................15
2.3.4. Nấm Corynespora cassiicola ...........................................................................15
2.3.5. Nấm Ceratocystis sp. Gây bệnh chết nhanh cây nhãn.......................................16
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP .....................................................17
3.1. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài.................................................................17
3.2. Nội dung nghiên cứu...........................................................................................17
3.3. Vật liệu thí nghiệm..............................................................................................17
3.4. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................19
3.4.1. Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ BA thích hợp cho sự tạo chồi
của cây Lan huệ. ........................................................................................................19
3.4.2. Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ BA thích hợp cho sự tạo chồi
của cây Lan huệ mạng ...............................................................................................20
3.4.3. Thí nghiệm 3 :Khảo sát khả năng kháng 5 loại nấm của dịch chiết thô cây Lan
huệ và cây Lan huệ mạng...........................................................................................20
3.5. Phương pháp xử lý số liệu...................................................................................22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................................23
4.1. Ảnh hưởng của nồng độ BA thích hợp cho sự tạo chồi của cây Lan huệ. ............23
: Môi trường Murashige và Skoog (1962)
MS- BA0 (BA0)
: Môi trường MS không có bổ sung BA (BA = 0)
MS- BA1 (BA1)
: Môi trường MS có bổ sung BA = 1mg/l
MS- BA2 (BA2)
: Môi trường MS có bổ sung BA = 2mg/l
MS- BA3 (BA3)
: Môi trường MS có bổ sung BA = 3mg/l
ĐC
: Đối chứng
LHtn
: Lan huệ tự nhiên
LHin
: Lan huệ in vi tro
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1. Hoa Lan huệ mạng và Lan huệ. ............................................................3
Hình 2.2. Củ, lá, hoa cây Lan huệ. .......................................................................5
Hình 2.3. Củ, lá, hoa cây Lan huệ mạng. ..............................................................5
Hình 4.1. Chồi cây Lan huệ trên môi trường MS có bổ sung BA sau 8 TNC. .....24
Hình 4.2. Chồi cây Lan huệ mạng trên môi trường MS có bổ sung BA sau 8 TNC.
...........................................................................................................................25
Hình 4.3. Tản nấm Colletotrichum gloeosporioides trên môi trường PGA có các
loại dịch chiết từ cây Lan huệ và Lan huệ mạng sau 6 ngày nuôi cấy..................27
Hình 4.4. Tản nấm F. moniliforme trên môi trường PGA có các loại dịch chiết từ
cây Lan huệ và Lan huệ mạng sau 5 ngày nuôi cấy.............................................28
Hình 4.5. Tản nấm P. colocasia trên môi trường PGA có các loại dịch chiết từ
cây Lan huệ và Lan huệ mạng sau 6 ngày nuôi cấy.............................................30
Hình 4.6. Tản nấm C. cassiicola trên môi trường PGA có các loại dịch chiết từ
cây Lan huệ và Lan huệ mạng sau 9 ngày nuôi cấy.............................................32
Hình 4.7. Tản nấm Ceratocystis sp. trên môi trường PGA có các loại dịch chiết từ
cây Lan huệ và Lan huệ mạng sau 8 ngày nuôi cấy.............................................33
viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Kết quả tạo chồi cây Lan huệ trên môi trường MS có bổ sung BA sau 8
TNC. ......................................................................................................................23
Bảng 4.2. Kết quả tạo chồi cây Lan huệ mạng trên môi trường MS có bổ sung BA
sau 8 TNC. .............................................................................................................24
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của các dịch cây Lan huệ và Lan huệ mạng chiết thô đến sự
phát triển của nấm Colletotrichum gloeosporioides. ..............................................26
vị ngọt cay, tính ấm có độc, có tác dụng “tán ứ, tiêu thũng”.
Cây Lan huệ và cây Lan huệ mạng trong thiên nhiên có rất nhiều dược tính nhưng
để sản xuất các chế phẩm sinh học thì cây ngoài tự nhiên sẽ không đủ cung cấp với số
lượng lớn. Trước đây, để nhân giống cây Lan huệ và Lan huệ mạng người ta tiến hành
nhân giống từ vảy hành và tách củ, nhưng phải mất một quãng thời gian dài để thu
được kết quả mà hệ số nhân giống thấp, mặt khác nếu nhân liên tục nhiều năm, virút
tích lũy lại và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác làm cây sinh trưởng yếu. Trong
những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ sinh học hiện đại đã mở ra một hướng
đi mới đáp ứng nhu cầu về sản xuất cây giống cũng như củ giống, đó là ứng dụng công
nghệ nuôi cấy mô tế bào. Ưu điểm của phương pháp này là cho cây trồng thu hoạch
đồng loạt, cây sạch bệnh, đặc biệt là hệ số nhân giống lớn trong thời gian ngắn và
không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và mùa vụ trong năm,… Những ưu điểm của
công nghệ nuôi cấy mô đã được ứng dụng vào việc khảo nghiệm và nhân giống cây
Lan huệ và cây Lan huệ mạng để phục vụ nghiên cứu.
1
Nhiều biện pháp phòng trừ nấm gây bệnh cho cây trồng đã được đưa ra nhưng đạt
hiệu quả chưa cao. Sử dụng thuốc hoá học để diệt nấm có khả năng gây hiện tượng
kháng thuốc, có thể tiêu diệt các vi sinh vật có ích, để lại dư lượng thuốc trong thực
phẩm và gây ô nhiễm môi trường. Biện pháp dùng giống kháng có hiệu quả cao nhưng
nhiều loại nấm gây bệnh trên cây trồng không có sẳn giống kháng. Xu hướng hiện nay
là dùng các chế phẩm vi sinh trong đó những cây có hoạt tính kháng nấm trong tự
nhiên được nghiên cứu sử dụng để phòng trừ bệnh hại trên cây trồng, từ đó giảm bớt
việc sử dụng thuốc hoá học hạn chế gây ô nhiễm môi trường.
Từ những xuất phát trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nuôi cấy mô và khảo sát
hoạt tính kháng nấm của dịch chiết thô từ cây Lan huệ (Hippeastrum puniceum (Lam.)
Kuntze) và cây Lan huệ mạng (Hippeastrum reticulatum var striatifo Herb)”.
1.2.
Ngành
: Magnoliophyta
Lớp
: Liliopsida
Bộ
: Asparagales
Họ
: Amaryllidaceae
Chi
: Hippeastrum
Hình 2.1. Hoa Lan huệ mạng và Lan huệ.
(http://my.opera.com/vuonhoa/blog/show.dml)
2.1.2. Nguồn gốc, phân bố
Lan huệ tại Hoa kỳ là loài hoa rực rỡ nhất trong nhóm hoa có hình Loa kèn, hoa
nở gần như thường xuyên trong các ngày lễ nên rất được ưa chuộng. Cây Lan huệ
được trồng ở nhiều nước trên thế giới, gốc từ Nam Mỹ, là một cây hoa trồng ngoài
trời. Mùa hoa từ tháng 2 đến tháng 11 dương lịch, hoa nở đúng vào dịp lễ tình yêu nên
ở Châu Âu người ta gọi là hoa tình yêu.
sinh học loại cholino mimetic; ức chế hoạt tính sinh học của men acetylcholinesterase.
- Tác dụng chống siêu vi trùng: Lycorine có hoạt tính ức chế hoạt động tái lập
của siêu vi trùng HIV-1, khi thử trên dòng tế bào MT4. Lycorine ức chế sự phát triển
của siêu vi trùng coronavirus gây bệnh SARS ở liều EC50 = 15.7 ± 1.2 nM và đang
được nghiên cứu thêm để trị SARS.
- Tác dụng chống sưng viêm: Lycorine ức chế sự sản xuất TNF-alpha nơi các đại
thực bào của chuột thử nghiệm; ức chế tiến trình sinh tổng hợp proteins. Vì TNF-alpha
là một chất cytokine căn bản điều hòa tiến trình sưng viêm nên lycorine có triển vọng
được dùng là thuốc chống sưng, trị thấp khớp.
-
Galanthamine, cũng là một chất ức chế cholinesterase, đã được dùng để trị bệnh
Alzheimer. (Dược Sĩ Trần Việt Hưng, 2009)
4
Lan huệ trong Đông dược:
-
Theo Đông dược: củ có vị ngọt cay , tính ấm có độc , có tác dụng “tán ứ, tiêu
thũng”.
-
Thân hành được dùng giã nát đắp cầm máu và trị tổn thương khi té ngã. (Trần
Việt Hưng, 2009)
sẹo cây cà rốt trong một thời gian dài trên môi trường thạch cứng.
Năm 1941, Overbeck đã chứng minh được vai trò của chất kích thích sinh
trưởng trong nuôi cấy phôi họ cà. Trong thời gian này chất kích thích sinh trưởng nhân
tạo thuộc nhóm auxin đã được nghiên cứu và tổng hợp hoá học thành công.
Năm 1948, Steward đã xác định được tác dụng của nước dừa trong nuôi cấy mô
sẹo cây cà rốt.
Năm 1951, Skoog và Miller đã phát hiện ra các hợp chất có thể điều khiển sự
nhân chồi.
Năm 1955, người ta tìm ra tác dụng kích thích phân bào của kinetin. Sau đó các
chất cytokinin khác như BAP, 2IP, zeatin cũng được phát hiện.
Năm 1957, Skoog và Miller công bố kết quả nghiên cứu về tỷ lệ giữa kinetin /
auxin đối với sự hình thành các cơ quan từ mô sẹo trên cây thuốc lá.
Từ năm 1954 đến 1959, kỹ thuật tách và nuôi cấy tế bào đã phát triển, các tác
giả đã gieo tế bào đơn và nuôi cấy tạo được cây hoàn chỉnh.
Năm 1962, Murashige và Skoog đã cải tiến môi trường nuôi cấy đánh dấu một
bước tiến trong kỹ thuật nuôi cấy mô. Môi trường của họ đã được dùng làm cơ sở cho
việc nuôi cấy nhiều loài cây và vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
Năm 1960 – 1964, Morel cho rằng có thể nhân giống vô tính cây lan bằng nuôi
cấy đỉnh sinh trưởng. Từ kết quả đó, cây lan được xem là cây nuôi cấy mô lần đầu tiên
được thương mại hoá. Từ đó đến nay, công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được
6
phát triển với tốc độ nhanh trên nhiều cây khác (Haramaki, 1971; Murashige, 1972;
Miller và Murashige, 1976) và được ứng dụng thương mại hoá.
Năm 1964, Ball là người đầu tiên tìm ra mầm rễ từ việc nuôi cấy chồi ngọn và
ông đã thành công trong việc chuyển cây non của cây sen cạn và cây đậu trắng từ môi
trường nuôi cấy tối thiểu. Tuy nhiên, việc nhân giống cây vẫn chưa hoàn thiện. Sau đó,
nhiều nhà nghiên cứu đã khám phá ra những thành phần dinh dưỡng quan trọng cần
thiết cho sự phát triển của các tế bào được nuôi cấy (White 1951), Gautheret (1939),
tương đối thấp của auxin và cytokinin.
Để phát khởi chồi bất định cần nồng độ cao của cytokinin và thêm một lượng
auxin cân bằng. Để sản xuất mô sẹo cần nồng độ cao của auxin kết hợp với nồng độ
thấp của cytokinin.
Sự lựa chọn môi trường agar hay môi trường lỏng là cần thiết. Agar đỡ cho cây
và tạo sự thoáng khí nhưng có thể làm giảm sự tiếp xúc của cây mầm hấp thu dinh
dưỡng. (Trích bởi Phạm Thị Luyên, 2008)
2.2.4.3. Điều kiện nuôi cấy
- Ánh sáng
Mẫu cấy được đặt trên môi trường chứa nguồn năng lượng sẳn sang là đường,
sẽ ít tuỳ thuộc vào quang hợp. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy ánh sáng hấp thụ
đóng vai trò quan trọng trong phản ứng tạo thành cây nuôi cấy mô.
- Nhiệt độ
Ngoài ánh sáng, yếu tố môi trường khác có ảnh hưởng rõ ràng là nhiệt độ. Tuy
có nhiều loại cây trồng có nhiệt độ tối ưu cho sự tạo hình nhưng hầu hết việc nuôi cấy
thích hợp ở nhiệt độ 20 – 250C.
- Môi trường in vitro
Môi trường in vitro là môi trường trên và dưới mặt thạch trong bình nuôi cấy.
Môi trường in vitro có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển hình thái của cây in
vitro. Một số vấn đề của môi trường in vitro là mức độ quang hợp thấp không cân
bằng CO2 , mức độ hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng hạn chế,…Vì vậy cây
con in vitro sinh trưởng chậm, xuất hiện biến dị về hình thái và chất lượng mẫn cảm
với stress ở giai đoạn thuần hoá.
Đặc tính của môi trường in vitro và phản ứng của cây con in vitro với môi
trường có mối tương quan. Do đó việc kiểm soát môi trường in vitro được đặt ra để
điều khiển sự sinh trưởng. (Trích bởi Phạm Thị Luyên, 2008)
8
- Kích thích sự chuyển hoá vì chúng làm thuận lợi cho sự tổng hợp enzyme ly giải.
9
- Tác động tốt tới sự đậu trái không hạt.
- Phá vở miên trạng của chồi, mầm của hạt giống (Dương Công Kiên, 2002).
2.2.5. Thành phần môi trường nuôi cấy
2.2.5.1. Đường làm nguồn carbon
Nguồn carbon giúp mô và tế bào thực vật tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ
giúp tế bào phân chia, tăng sinh khối do hầu hết các mô nuôi cấy là dị dưỡng không có
khả năng tổng hợp carbon. Vì vậy cần thêm vào môi trường nuôi cấy các glucid cần
thiết cho sự tăng trưởng của mô (Trần Thị Dung, 2003).
2.2.5.2. Các muối khoáng đa lượng
Chất khoáng là yếu tố không thể thiếu cho sự sinh trưởng của cây in vitro. Các
nguyên tố đa lượng cần cung cấp là nitrogen, phosphorus, potassium, calcium,
magnesium, sunfur.
+ Nguồn nitrogen: Mô, tế bào thực vật trong nuôi cấy có thể sử dụng nitrogen
khoáng như ammonium và nitrat, đồng thời cũng sử dụng các dạng nitrogen hữu cơ
như amino acid. Tỷ lệ ammonium và nitrat thay đổi tuỳ theo loại cây và trạng thái phát
triển của mô.
Nitrat được cung cấp dưới dạng Ca(NO3)2.4H2O, KNO3, NaNO3 hoặc NH4NO3.
Ammonium được cung cấp dưới dạng (NH4)2SO4 hoặc NH4NO3. Trong một số trường
hợp có thể cung cấp dưới dạng urea.
+ Phosphorus: Là nguyên tố quan trọng trong đời sống thực vật, nó thường
tham gia vào quá trình vận chuyển năng lượng, sinh tổng hợp protein, acid nucleic và
tham gia vào cấu trúc của màng.
Nguồn phospho thường được sử dụng dưới hai dạng NaH2PO4.7H2O, KH2PO4.
+ Potassium: K+ là một cation chủ yếu trong cây, giúp cho cây cân bằng các
+ Đồng: Đồng hiện diện trong hệ thống enzyme cytochrome oxidase của chuỗi
vận chuyển điện tử hô hấp. Trong thực vật, đồng tồn tại dưới dạng ion hoá trị 1 và 2.
Nồng độ cao quá sẽ gây độc cho mô, được cung cấp dưới dạng CuSO4.5H2O.
+ Molydenum: Có nhiệm vụ trong sự chuyển hoá nitrate thành ammonium,
được cung cấp dưới dạng (NH4)6Mo7.4H2O.
+ Iod: I không được xem là nguyên tố chủ yếu, nhưng thường được them vào
môi trường ở nồng độ 5 µM để cải thiện sự tăng trưởng của rễ (Trần Thị Dung, 2003).
11
2.2.5.4. Các vitamin
Thực vật tổng hợp cá vitamin cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của
chúng. Thực vật cần vitamin để xúc tác các quá trình biến dưỡng khác nhau. Các
vitamin thường được sử dụng nhiều nhất trong nuôi cấy mô là: Thiamine (B1), acid
nicotinic (PP), Pyridoxin (B6), myo insitol, riboflavine (B12), biotin, acid folic, …
Vitamin C đôi khi được sử dụng ở nồng độ cao như một chất chống oxy hoá.
Myo-inositol có ý nghĩa cải thiện các phản ứng in vitro và sự tăng trưởng của cây
trồng, đặc biệt ở cây đơn tử diệp (Trần Thị Dung, 2003).
2.3. Giới thiệu các loại nấm được sử dụng trong nghiên cứu
2.3.1. Nấm Colletotrichum gloeosporioides
Đặc điểm hình thái :
Sợi nấm có vách ngăn, sinh sản vô tính cho ra đĩa cành và bào tử phân sinh. Ở
vùng nhiệt đới, giai đoạn hữu tính hầu như không xãy ra.
Nấm có bào tử trong suốt, đơn bào, hình trứng hay hơi thon cong, dài 10 – 15
µm. Cành bào tử ngắn, không màu, đĩa cành có lông màu nâu sẫm cho đến đen. Giác
bám màu nâu, hình chùy đến hình dạng không đều, kích thước dài 6 – 20 µm , rộng
4 – 12 µm.
Khả năng gây bệnh :
mạ cho đến lúc thu hoạch.
Bào tử phân sinh dạng đại bào tử có thể tồn tại và giữ sức sống trong đất từ 4 –
6 tháng trong điều kiện đồng ruộng, nhưng trong phòng thí nghiệm bào tử có sức sống
đến 2 năm. Bào tử phân sinh chỉ phát tán vào ban đêm từ 5 – 9 giờ tối. Trong khi bào
tử túi chỉ phát tán vào lúc nửa đêm và chỉ khi có mưa xong bào tử túi mới phát tán vào
ban ngày.
Nấm tồn tại chủ yếu ở dạng sợi và bào tử hữu tính trên tàn dư cây bệnh, trong
đất và hạt giống. Khi nhiệt độ từ 24 – 320C, ẩm độ cao, ánh sáng yếu là điều kiện tốt
nhất cho nấm gây bệnh. (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998).
13
2.3.3. Nấm Phytophthora palmivora
Đặc điểm hình thái:
Các dạng bào tử của nấm Phytophthora:
Túi bào tử: là một cấu trúc sinh dưỡng mà đôi khi chúng được xem như là bào
tử vô tính. Túi bào tử nảy mầm trực tiếp trên môi trường giàu dinh dưỡng, nước tự do
thấp và nhiệt độ cao.
Động bào tử: hình thành trong điều kiện môi trường giàu dinh dưỡng, nhiều
nước tự do và nhiệt độ thấp 15 – 180C. Chúng là những bào tử có vách mỏng hình bầu
dục, có thể bơi bằng hai lông roi theo đường xoắn ốc với độ lớn của đường bơi khoảng
26 – 70 µm. Động bào tử được sinh ra trong mỗi túi bào tử. Khi tiếp xúc với một bề
mặt thích hợp thì nó sẽ biến đổi thành dạng tròn, mất hai lông roi, nhanh chóng tiết ra
một tế bào vách, hình thành một ống mầm để xâm nhiễm vào cây và bắt đầu sinh
trưởng sợi nấm.
Bào tử noãn: là bào tử hữu tính, hình thành do sự kết hợp của các túi giao tử
được gọi là túi đực và túi noãn. Sterol là thiết yếu cho sự hình thành bào tử noãn.
Bào tử noãn được xem như là một cấu trúc nghĩ. Khi gặp điều kiện không thích
hợp thì chúng sẽ đi vào giai đoạn nghĩ tới khi điều kiện thuận lợi trở lại cho sự nảy
Trái với ngoài tự nhiên, nấm C. cassiicola rất khó sinh bào tử trong môi trường
nhân tạo. Chúng chỉ sinh bào tử ở những nơi rất đặc biệt về nhu cầu ánh sáng, nhiệt độ
hay dinh dưỡng. Hình dạng và màu sắc khuẩn lạc thay đổi tuỳ vào điều kiện nuôi cấy.
Nấm có thể phát triển được ở 8 – 360C, thích hợp nhất ở 280C và ngưng phát triển
ở 400C .
Khả năng gây bệnh:
Nấm Corynespora cassiicola có khoảng 160 loài kí chủ mhư: cao su, đu đủ, cà
chua... Tuy nhiên C. cassiicola trên cây cao su là chuyên biệt.
Nấm xâm nhập chủ yếu ở mặt dưới lá qua biểu bì và khí khổng, ngoài ra nấm
còn tiết ra men celluloza để phân huỷ màng tế bào. Trong quá trình sinh trưởng nấm
có thể tiết ra chất độc (CC toxin), hợp chất này rất độc trên cao su, cho nên chỉ với một
vết bệnh nhỏ trên gân lá cũng làm rụng lá. Đây là loại độc tính chuyên biệt, có tác
động đến hiện tượng chết mô lá, vỏ, kích thích lá hình thành tầng rời, dẫn đến rụng lá.
Ngoài tự nhiên bào tử phóng thích vào ban ngày và nhiều nhất từ 8 11 giờ. Sau thời gian mưa nhiều và tiếp theo nắng ráo, đây là điều kiện rất thuận lợi
cho sự phóng thích bào tử. Bào tử có khả năng tồn tại trong các vết bệnh hoặc trong
đất trong một thời gian dài, trên lá cao su khô nấm vẫn tồn tại và giữ nguyên khả năng
gây bệnh đến 3 tháng. (Phan Thành Dũng, 2006)
15