KINH NGHIM Dạy tìm thành phần cha biết
của phép tính cho học sinh lớp 2 T HIU QU
A- Đặt vấn đề
Trong chng trỡnh giỏo dc Tiu hc hin nay, mụn Toỏn cựng vi cỏc mụn hc
khỏc trong nh trng Tiu hc cú nhng vai trũ gúp phn quan trng o to nờn
nhng con ngi phỏt trin ton din.
Toỏn hc l mụn khoa hc t nhiờn cú tớnh lụgớc v tớnh chớnh xỏc cao, nú l chỡa
khúa m ra s phỏt trin ca cỏc b mụn khoa hc khỏc.
Mun hc sinh Tiu hc hc tt c mụn Toỏn thỡ mi ngi Giỏo viờn khụng
phi ch truyn t, ging gii theo cỏc ti liu ó cú sn trong Sỏch giỏo khoa, trong cỏc
sỏch hng dn v thit k bi ging mt cỏch dp khuụn, mỏy múc lm cho hc sinh
hc tp mt cỏch th ng. Nu ch dy hc nh vy thỡ vic hc tp ca hc sinh s
din ra tht n iu, t nht v kt qu hc tp s khụng cao. Nú l mt trong nhng
nguyờn nhõn gõy ra cn tr vic o to cỏc em thnh nhng con ngi nng ng, t
tin, sỏng to sn sng thớch ng vi nhng i mi din ra hng ngy.
Đối với ni dung dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung , dạy nội
dung Tỡm thnh phn cha bit ca phộp tớnh nói riêng luôn là sự quan
tâm của cấp học đặc biệt là ở lớp 2. Nội dung ny lớp 2 là kin thc
ban u và phát triển thnh hệ thống kiến thức từ lớp 2 lờn cỏc lp trờn, n
cp 2 c gi l i s . Yu t ny tơng ứng vi mi vòng số l cỏc các
phép tính . Vỡ vy phơng pháp dạy học luôn cn đợc cải tiến, đổi mới
để phù hợp với lợng kiến thức theo từng phần.
iều cốt lõi của phơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học nói chung
và dạy Toán ở lớp 2 nói riêng đều phải dựa trên cơ sở các hoạt động
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh giúp học sinh tự phát hiện,
tự giải quyết các vấn đề của bài học và từ đó có thể tự chiếm lĩnh
các kiến thức và kỹ năng cần thiết với sự trợ giúp hợp lí của giáo viên
vào môi trờng giáo dục. Trong các bài dạy dành cho hoạt động thực
hành và luyện tập ngay ở trên lớp chiếm 80% tổng số thời gian dạy
học. Nội dung thực hành luyện tập không chỉ có ở các tiết luyện tập,
luyện tập chung, ôn tập mà ngay cả trong các tiết dạy bài mới cũng
1. Đặc điểm tình hình:
1.1) Đặc điểm tình hình khối 2:
- Năm học 2013 - 2014 nhà trường có 5 khối lớp trong đó khối 2 có 2 lớp. Tổng số học
sinh là 45; nam 23; nữ 22.
- Học sinh nên có điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện, kèm cặp thêm cho học sinh,
nhất là môn Toán.
- Song bên cạnh đó, điều kiện kinh tế của đa số nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó
khăn, nhiều gia đình chưa thực sự quan tâm tới việc học hành của con em mình còn phó
mặc cho giáo viên. Độ tuổi, trình độ học sinh không đều, nên ảnh hưởng đến chất lượng
học tập.
1.2. Thực trạng chung
Còn một số em thực hiện các phép cộng trừ trong phạm vi 100 chưa thạo, chưa
thuộc bảng nhân, chia đến phạm vi 5 .
Trong sách giáo khoa Toán 2 quá nhiều dạng “T×m thµnh phÇn cha biÕt
cña phÐp tÝnh” . Ngoài ra học sinh còn mắc sai lầm lẫn lộn trong việc thực hiện
các phép tính: cộng, trừ, nhân, chia , thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức.
Tôi đã khảo sát thực trạng xem các em còn gặp những sai lầm gì trong việc học “T×m
thµnh phÇn cha biÕt cña phÐp tÝnh”
2. Kết quả điều tra.
* Chất lượng về việc rèn luyện các kĩ năng cơ bản cộng trừ trong phạm vi 100 và nhân,
chia đến bảng 5 . Đặc biệt là dạng toán “ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” của
HS lớp 2 như sau:
Mức độ
Lớp 2 A ( 23 em)
Lớp 2B ( 22em)
Giỏi
SL
Qua số liệu điều tra tôi nhận thấy chất lượng môn Toán chưa cao, đặc biệt các
3
kĩ năng cơ bản về dạng toán “ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” các em chưa
nắm bắt vững, tỏ ra lúng túng với các phép tính có liên quan .
Thực tế cho thấy các em còn hổng kiến thức và kĩ năng tính toán nên các em rất ngại
học. Một số em tiếp thu rất kém phần này .
Từ thực trạng trên, với cương vị là một cán bộ quản lí tôi luôn trăn trở tìm ra giải
pháp để giúp các em khắc phục một số sai lầm cơ bản của học sinh khi học về dạn toán
“ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” góp phần nâng cao chất lượng môn toán
của trường mình.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
- Xác định rõ vai trò của “T×m thµnh phÇn cha biÕt cña phÐp tÝnh”
trong chương trình Toán 2.
- Giáo viên phải dạy cho học sinh cách học, nắm vững các dạng “T×m thµnh
phÇn cha biÕt cña phÐp tÝnh” . Với các dạng
+ Tìm x biết: a + x = b; x – a = b ; a - x = b ( với a,b là các số có đến hai chữ số bằng
sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của phép tính).
+ Tìm x biết: a x x = b ; x : a = b ( với a là số có một chữ số khác 0 ; áp dụng phép
nhân , chia trong bảng và sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của phép
tính).
- Tìm hiểu kĩ những sai lầm học sinh thường mắc phải khi học về các dạng toán này và
cách khắc phục trong từng trường hợp.
- Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp, có hiệu quả.
- Đa dạng các hình thức đánh giá kết quả học tập.
Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp cụ thể :
x + 4 = 10
x = 10 - 4
x=6
- Lưu ý HS , khi “ Tìm x” phải viết theo mẫu như trên( 3 dòng, các dấu “ =” thẳng cột.
- Cho HS học thuộc ghi nhớ: “Muốn tìm một số hạng ta lấy tổng trừ đi số hạng kia”.
Vận dụng ra bài toán như : Tìm x ( theo mẫu) x + 3 = 9
Dạng bài này cơ bản các em đều làm đúng cách làm và kết quả nhưng thường là sai
cách trình bày. Các em hay trình bày theo kiểu “x thẳng hàng với x” :
x+3 =9
x=9-3
x=6
- Do đó điểm thường không đạt tối đa. Nắm được nhược điểm này GV phải thường
xuyên nhắc nhở cách trình bày và lưu ý các em ghi nhớ là khi tìm x phải trình bày 3
dòng phải viết “dấu = thẳng với dấu =”
- Cách trình bày đúng để được điểm tuyệt đối phải là : x + 3 = 9
x=9-3
x=6
5
- Cũng với dạng toán “Tìm x biết: a + x = b” với số có hai chữ số thì các em hay mắc
thêm lỗi làm sai đáp số đó là do các em làm tính trừ chưa thạo. Có một số em cộng trừ
trong bảng chưa thuộc nên khi trừ có nhớ các em hay lầm.
Ví dụ:
Tìm x
18 + x = 37
x = 37 – 18
x = 29
Để khắc sâu kiến thức cho các em trong các tiết luyện tập thường có các dạng bài
tập tổng hợp và nâng cao hơn để học sinh phát huy tính sáng tạo và cũng là phát hiện
học sinh giỏi.
Ví dụ : Tìm x
14 + x = 6 + 9
Dạng bài này giáo viên phải chú ý hướng dẫn làm phép tính phụ để đưa về dạng cơ
bản. Bằng cách thực hiện kết quả của vế phải trước để đưa về dạng cơ bản.
14 + x = 6 + 9
14 + x = 26 - 9
14 + x = 15
14 + x = 15
x = 15 – 14
x = 15 – 14
x=1
x=1
6
Dạng toán này khi trình bày chú ý “phải đủ 4 dòng” luôn lưu ý “dấu bằng thẳng cột
với nhau”.
1.3. Dưới dạng toán “Tìm x biết: x + a + c = b ”
Ở dạng này HS dễ nhầm lẫn giữa vị trí hiệu trừ đi số trừ. Do tính chất giao hoán của
phép cộng nên kết quả vẫn đúng nhưng về bản chất của phép tính thì chưa chính xác.
7
Ví dụ :
x–7=5
X=7+5
X = 12
Đã có đến 55% HS mắc lối trên . Khi phát hiện sai lầm này tôi đã cho cả lớp nhận xét,
sau đó cho các em nhắc lại quy tắc “ Muốn tìm số bị trừ ta lấy hiệu cộng với số trừ ” .
Đồng thời giải thích cho học sinh hiểu được bản chất của phép trừ. Rồi tiếp tục cho một
số em làm sai lên làm lại rồi giải thích cách làm của mình theo quy tắc đã học. Để khắc
phục trình trạng này GV cần hướng dẫn HS cách ghi nhớ : Hiệu bao giờ cũng đứng sau
dấu bằng và nhớ viết số đứng sau dấu bằng trước rồi mới viết số trừ sau. Đối với bài
toán trên cách trình bày đúng phải là:
x–7=5
X= 5+7
X = 12
Tiếp theo tôi đưa ra một số bài để củng cố dạng toán này tôi thay ẩn số khác vào
cũng để HS thực hiện thành thạo hơn phép cộng có nhớ . Đối với HS lớp 2 luôn luôn
nhắc nhở cách trình bày dấu “ =” thẳng cột với nhau đồng thời cộng trừ có nhớ phải
thêm vào cột bên.
Ví dụ : Tìm y
y–8=9
y – 12 = 19
x = 10 – 6
x=4
Lưu ý HS khi tìm x phải viết theo mẫu trên và “các dấu “ =” phải thẳng cột”.
Trong khi học về dạng toán này HS hay các em hay làm sai ở dạng
Ví dụ : Tìm x 15 – x = 10
x = 10 + 15
x = 25
Ở đây các em lấm lẫn giữa tìm số bị trừ và số trừ thường làm trừ thành cộng. Do
một số em chưa phân biệt rõ tên gọi thành phần, của phép tính. Đế hướng dẫn HS làm
đúng theo ghi nhớ GV nên chỉ rõ trong phép tính này ; Muốn tìm x ta lấy số đứng trước
dấu trừ trừ đi số đứng sau dấu bằng . Bằng cách hướng dẫn máy móc nhưng lại dễ hiểu
nên các em đã trình bày phép tính đúng đến 100%.
Cách trình bày lại phép tính trên như sau :
Tìm x : 15 – x = 10
x = 15 - 10
x=5
Khi hướng dẫn làm luôn nhắc nhở HS chú ý đặt dấu « = » thẳng cột với nhau, chú ý
cẩn thận trong tính toán , đặc kỹ năng tính toán phải chính xác.
4. Rèn kĩ năng tìm thừa số chưa biết.
Chương trình lớp 2 đã có học nhân chia đến bảng 5. Khái niệm thừa số là khái niệm
mới đối với HS. Vậy tìm thừa số chưa biết dựa trên căn cứ của bảng nhân mà các em đã
được học, cách tìm thừa số x chưa biết được tiến hành như sau:
GV nêu : Có phép nhân X x 2 = 8 . Giải thích : Số x là thừa số chưa biết nhân với 2
bằng 8. Tìm x.
Từ phép nhân X x 2 = 8 ta có thể lập phép chia theo nhận xét “ Muốn tìm thừa số x ta
lấy 8 chia cho thừa số 2”
HS viết và tính kết quả X = 8 : 2
X=4
GV giải thích : x = 4 là số phải tìm để được 4 x 2 = 8
Cách trình bày : X x 2 = 8
của tìm số hạng chưa biết, dấu “ =” thẳng cột với nhau, song còn phải lưu ý đặt vị trí
của chữ X ở vị trí thừa số thứ hai.
+ Thường làm sai kết quả
Ví dụ: Tìm x
4 x X = 16
X = 16 : 4
X=8
Kết quả các em làm chưa đúng là do các em chưa thuộc bảng chia. Thường để hình
thành phép chia ta hay lấy từ phép nhân do vậy GV cần cho HS vận dụng từ phép nhân
để tính ngược lại như 16 = 4 x 4 từ đó tính ngược lại 16 : 4 = 4
Cách làm đúng của hai phép tính trên là :
X x 4 = 12
4 x X = 16
X = 12 : 4
X = 16 : 4
X=3
X=4
10
Để khắc sâu thêm cách làm và củng cố HS về bảng nhân chia tôi ra thêm một số ví
dụ sau:
Ví dụ : Tìm y
+ Lỗi sai vị trí của phép nhân khi tìm x
Ví dụ : Tìm x X : 3 = 2
X=3x2
X=6
Theo quy tắc theo các em đã thực hiện sai . Về bản chất HS hay lẫn lộn giữa thương
và số chia nhưng kết quả vẫn đúng . Đế khắc phục tình trạng này GV hướng dẫn cho HS
một cách dễ nhớ đó là khi viết các em luôn nhớ số ngay dấu bằng để nguyên rồi nhân
với số sau dấu chia như thế mới đúng ghi nhớ đã nêu.
Trình bày phép tính này đúng như sau:
X:3=2
X= 2x3
11
X=6
Với sự hướng dẫn và ghi nhớ máy móc như thế đẫ có 98,5% các em làm đúng dạng
toán này.
+Lối sai kết quả phép tính
Ví dụ : Tìm x x : 4 = 2
X=2x4
X=6
Để giải quyết những sai lầm này trước hết tôi yêu cầu các em dùng các phép tính để
chia thử lại các phép nhâncủa mình xem đúng hay chưa.
- Viết các phép chia lên bảng, yêu cầu học sinh nhắc lại bảng chia liên quan:
- Cho học sinh lần lượt thực hiện chia và giải thích cách làm của mình – giáo viên củng
cố. Sau đó tôi đưa ra bài tập tương tự:
Kết quả có 99,7% học sinh trong lớp thực hiện đúng các phép tính này
* Nói chung để thực hiện tốt các bài toán tìm số bị chia thì yêu cầu các em phải làm
thành thạo các phép nhân trên số tự nhiên và ghi nhớ các bảng nhân chia.
em còn có thể trao đổi ý kiến nhận xét cách giải quyết của các bạn và cảm thấy bản thân
mình cũng có đóng góp cho kết quả làm việc chung của nhóm vì vậy các em mạnh dạn,
tự tin hơn trong học tập và có quyết tâm vượt khó.
Hình thức học tập theo nhóm giúp các em có điều kiện củng cố và biểu quyết vốn
nhận thức của mình, hạn chế những sai lầm thường mắc phải. Đồng thời thông qua việc
làm thu thập kết quả học tập của từng nhóm, giáo viên có thể nắm được những sai lầm
chung nhất của các nhóm, của từng nhóm để có phương pháp khắc phục phù hợp.
10. Đánh giá kết quả học tập.
Để học sinh tự nguyện thấy những sai lầm của mình thì các em mới có điều kiện
ghi nhớ và sửa chữa sai lầm một cách tốt nhất nên không nhất thiết là giáo viên phải
đánh giá mà cũng có thể học sinh tự đánh giá lấy dựa trên chuẩn mực mà giáo viên đề
ra, cũng có thể cho từng nhóm, từng bàn đánh giá lẫn nhau, có như thế các em mới có
điều kiện củng cố vốn kiến thức của mình.
Đánh giá là việc làm rất quan trọng vì nó giúp học sinh tự tin vào mình hơn, giúp học
sinh có điều kiện nhận ra những sai lầm cần sửa chữa; đồng thời đánh giá đối với học
sinh tiểu học một cách đúng mức sẽ khuyến khích các em học tập rất nhiều.Bởi vậy tôi
luôn có sự thay đổi các hình thức đánh giá: có lúc là cho điểm, có lúc là động viên
khuyến khích. Và tạo ra nhiều hình thức đánh giá, đánh giá khi học sinh trả lời câu hỏi,
đánh giá khi học sinh học cá nhân, đánh giá khi học sinh chuyển bài làm cho nhau rồi
chấm; đánh giá bằng kiểm tra ngắn hoặc phiếu kiểm tra, đánh giá qua việc thi đua khi tổ
chức các trò chơi học tập ….đặc biệt là đánh giá việc ứng dụng giải bài toán về “ Tìm
thành phần chưa biết của phép tính” vào thực tiễn đời sống.
C. PHẦN KẾT LUẬN.
1. Kết quả:
13
Từ một số biện pháp thiết thực như đã nói trên của bản thân tôi đã chỉ đạo giảng dạy tại
5
22,8
Yếu
SL
3
0
%
13,0
0
So với kết quả đầu năm thì kết quả cuối năm có nhiều tiến bộ rõ rệt .Bằng các biện
pháp thực hiện như trên tôi đã giúp các em đã hạn chế được những sai lầm cơ bản của
tìm thành phần chưa biết của phép tính , góp phần học tốt hơn các phần khác trong
chương trình Toán 2. Đặc biệt các em được rèn các kĩ năng cơ bản về “Tìm thành phần
chưa biết của phép tính”.
Thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân chia số tự nhiên
Từ những sai lầm mà các em được rèn luyện, khắc phục các em tự tin hơn. Đó chính
là động lực thúc đẩy góp phần nâng cao chất lượng môn học.
2. Ý kiến đề xuất .
Qua việc tìm hiểu nội dung phần “Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở lớp 2”,
đồng thời dự kiến những phương hướng khắc phục những sai lầm của học sinh khi học
về “Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở lớp 2”. Tôi có một số ý kiến đề xuất
sau:
a. Đối với các cấp lãnh đạo
- Mở các chuyên đề thảo luận tập trung để giáo viên trao đổi, tiếp thu, học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau.
- Thường xuyên kiểm tra, khảo sát chất lượng dạy và học để giáo viên rút ra bài
học và chỉ đạo kịp thời trong chuyên môn.
XC NHN CA TH TRNG N V
Th Xuõn, ngy 14 thỏng 3 nm 2014
Tụi xin cam oan õy l sỏng kin kinh
nghim ca mỡnh vit, khụng sao chộp
ni dung ca ngi khỏc.
A.
Đặt vấn đề.
1
I.
Lời mở đầu.
1
II.
Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2
15
1
Nội dung chơng trình môn tự nhiên và xã hội.
6
xã hội lớp 3.
II.
Một số biện pháp thực hiện hình thức dạy môn
16
TN&XH lớp 3
1.
Xây dựng kế hoạch bài dạy
16
2.
Tổ chức tốt các hoạt động dạy - học
16
3.
Lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp với bài
16
học
4.
Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học
thường gồm ba phần:
đầu, mình và cơ quan di
chuyển.
thể ccohúng zsthường
gồm ba phần: đầu,
mình và cơ quan d
17