SKKN Kinh nghiệm dạy tìm thành phần chưa biết của phép tính cho học sinh lớp 2 đạt hiệu quả - Pdf 26

KINH NGHIM Dạy tìm thành phần cha biết
của phép tính cho học sinh lớp 2 T HIU QU
A- Đặt vấn đề
Trong chng trỡnh giỏo dc Tiu hc hin nay, mụn Toỏn cựng vi cỏc mụn hc
khỏc trong nh trng Tiu hc cú nhng vai trũ gúp phn quan trng o to nờn
nhng con ngi phỏt trin ton din.
Toỏn hc l mụn khoa hc t nhiờn cú tớnh lụgớc v tớnh chớnh xỏc cao, nú l chỡa
khúa m ra s phỏt trin ca cỏc b mụn khoa hc khỏc.
Mun hc sinh Tiu hc hc tt c mụn Toỏn thỡ mi ngi Giỏo viờn khụng
phi ch truyn t, ging gii theo cỏc ti liu ó cú sn trong Sỏch giỏo khoa, trong cỏc
sỏch hng dn v thit k bi ging mt cỏch dp khuụn, mỏy múc lm cho hc sinh
hc tp mt cỏch th ng. Nu ch dy hc nh vy thỡ vic hc tp ca hc sinh s
din ra tht n iu, t nht v kt qu hc tp s khụng cao. Nú l mt trong nhng
nguyờn nhõn gõy ra cn tr vic o to cỏc em thnh nhng con ngi nng ng, t
tin, sỏng to sn sng thớch ng vi nhng i mi din ra hng ngy.
Đối với ni dung dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung , dạy nội dung Tỡm
thnh phn cha bit ca phộp tớnh nói riêng luôn là sự quan tâm của cấp học đặc
biệt là ở lớp 2. Nội dung ny lớp 2 là kin thc ban u và phát triển thnh hệ thống
kiến thức từ lớp 2 lờn cỏc lp trờn, n cp 2 c gi l i s . Yu t ny tơng ứng
vi mi vòng số l cỏc các phép tính . Vỡ vy phơng pháp dạy học luôn cn đợc cải tiến,
đổi mới để phù hợp với lợng kiến thức theo từng phần.
iều cốt lõi của phơng pháp dạy học Toán ở Tiểu học nói chung và dạy Toán ở
lớp 2 nói riêng đều phải dựa trên cơ sở các hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh giúp học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học và từ đó có thể
tự chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng cần thiết với sự trợ giúp hợp lí của giáo viên vào
1
môi trờng giáo dục. Trong các bài dạy dành cho hoạt động thực hành và luyện tập ngay
ở trên lớp chiếm 80% tổng số thời gian dạy học. Nội dung thực hành luyện tập không
chỉ có ở các tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập mà ngay cả trong các tiết dạy bài mới
cũng chiếm không dới 60% thời lợng.
Để học sinh có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng cần thiết ngời giáo viên

Trong sách giáo khoa Toán 2 quá nhiều dạng “T×m thµnh phÇn cha biÕt cña phÐp
tÝnh” . Ngoài ra học sinh còn mắc sai lầm lẫn lộn trong việc thực hiện các phép tính:
cộng, trừ, nhân, chia , thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức. Tôi đã khảo sát
thực trạng xem các em còn gặp những sai lầm gì trong việc học “T×m thµnh phÇn cha
biÕt cña phÐp tÝnh”
2. Kết quả điều tra.
* Chất lượng về việc rèn luyện các kĩ năng cơ bản cộng trừ trong phạm vi 100 và nhân,
chia đến bảng 5 . Đặc biệt là dạng toán “ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” của
HS lớp 2 như sau:
Qua số liệu điều tra tôi nhận thấy chất lượng môn Toán chưa cao, đặc biệt các
kĩ năng cơ bản về dạng toán “ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” các em chưa
nắm bắt vững, tỏ ra lúng túng với các phép tính có liên quan .
Thực tế cho thấy các em còn hổng kiến thức và kĩ năng tính toán nên các em rất ngại
học. Một số em tiếp thu rất kém phần này .
Từ thực trạng trên, với cương vị là một cán bộ quản lí tôi luôn trăn trở tìm ra giải
pháp để giúp các em khắc phục một số sai lầm cơ bản của học sinh khi học về dạn toán
“ Tìm thành phần chưa biết của phép tính” góp phần nâng cao chất lượng môn toán
của trường mình.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
4
Mức độ
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Lớp 2 A ( 23 em) 0 0 5 21,7 11 47,8 7 30,5
Lớp 2B ( 22em) 6 27,2 9 41,0 7 31,8
- Xác định rõ vai trò của “T×m thµnh phÇn cha biÕt cña phÐp tÝnh” trong chương trình
Toán 2.
- Giáo viên phải dạy cho học sinh cách học, nắm vững các dạng “T×m thµnh phÇn cha
biÕt cña phÐp tÝnh” . Với các dạng
+ Tìm x biết: a + x = b; x – a = b ; a - x = b ( với a,b là các số có đến hai chữ số bằng

GV chỉ vào thành phần và kết quả của phép cộng : x + 4 = 10 để hỏi “ Trong phép tính
cộng này x gọi là gì?; 4 gọi là gì?; 10 gọi là gì?
X là số hạng chưa biết; 4 là số hạng đã biết ; 10 là tổng. Muốn tìm số hạng x ta làm thế
nào?
- GV gợi ý suy nghĩ bằng cách sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của
phép tính để tìm ra bằng cách lấy tổng trừ đi số hạng kia. Và hướng dẫn cách trình bày
phép tính. x + 4 = 10
x = 10 - 4
x = 6
- Lưu ý HS , khi “ Tìm x” phải viết theo mẫu như trên( 3 dòng, các dấu “ =” thẳng cột.
- Cho HS học thuộc ghi nhớ: “Muốn tìm một số hạng ta lấy tổng trừ đi số hạng kia”.
Vận dụng ra bài toán như : Tìm x ( theo mẫu) x + 3 = 9
Dạng bài này cơ bản các em đều làm đúng cách làm và kết quả nhưng thường là sai
cách trình bày. Các em hay trình bày theo kiểu “x thẳng hàng với x” :
x + 3 = 9
x = 9 - 3
x = 6
- Do đó điểm thường không đạt tối đa. Nắm được nhược điểm này GV phải thường
xuyên nhắc nhở cách trình bày và lưu ý các em ghi nhớ là khi tìm x phải trình bày 3
dòng phải viết “dấu = thẳng với dấu =”
- Cách trình bày đúng để được điểm tuyệt đối phải là : x + 3 = 9
6
x = 9 - 3
x = 6
- Cũng với dạng toán “Tìm x biết: a + x = b” với số có hai chữ số thì các em hay mắc
thêm lỗi làm sai đáp số đó là do các em làm tính trừ chưa thạo. Có một số em cộng trừ
trong bảng chưa thuộc nên khi trừ có nhớ các em hay lầm.
Ví dụ: Tìm x 18 + x = 37
x = 37 – 18
x = 29

1.3. Dưới dạng toán “Tìm x biết: x + a + c = b ”
Đây là dạng toán yêu cầu học sinh tư duy sáng tạo một chút, phải thực hiện theo thứ
tự của phép tính, đồng thời tính kết quả chính xác.
Ví dụ : Tìm x x + 7 + 5 = 24
x + 7 = 24 – 5
x + 7 = 19
x = 19 – 7
x = 12
Đối với dạng bài: x + 7 + 5 = 24 có thể hướng dẫn học sinh tính theo cách gọn hơn.
x+ 7 + 5 = 24 đưa về dạng ; x + 12 = 24 rồi thực hiện như dạng cơ bản đã học.
2. Rèn kĩ năng tìm số bị trừ chưa biết.
Dạng toán “x – a = b” cũng là dạng tìm thành phần chưa biết của phép tính ở lớp 2.
Sau khi đã học dạng “x + a = b” HS đã hiểu x là ẩn số phải tìm GV vào bài dạy dạng
nhẹ nhàng và HS cũng sẽ hiệu ngay tình huống có vấn đề là ở chỗ nào.GV giới thiệu
cách tìm số bị trừ chưa biết theo cách từ trực quan đến tư duy theo trình tự sau:
8
GV gắn 10 ô vuông lên bảng. Nêu câu hỏi để HS nhận ra: Có 10 ô vuông. GV tách 4
ô vuông . Hỏi lúc đầu có 10 ô vuông, lấy đi 4 ô vuông thì còn mấyô vuông. Lấy đi thì
làm phép tính gì? Cho HS nêu phép tính 10 – 4 = 6.
Cho HS gọi tên số bị trừ , số trừ , hiệu trong phép trừ 10 - 4 = 6.
GV giúp HS nêu vấn đề; Nếu che lấp số bị trừ trong phép trừ trên đi thì làm thế nào để
tìm được số bị trừ ?.
GV giới thiệu: Ta gọi số bị trừ chưa biết là x, khi đó ta viết được: x – 4 = 6. Cho HS
đọc và nêu số bị trừ, số trừ và hiệu trong x – 4 = 6
HS nêu cách tìm số bị trừ x từ cách xét mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ;
x = 10, mà 10 = 6 + 4. Từ đó gợi ý cho HS nêu được: “Muốn tìm số bị trừ ta lấy hiệu
cộng với số trừ”. Rút ra ghi nhớ và cho HS nhắc lại ghi nhớ .
Hướng dẫn HS trình bày 3 dòng, viết x thẳng cột như tìm số hạng chưa biết.
Ở dạng này HS dễ nhầm lẫn giữa vị trí hiệu trừ đi số trừ. Do tính chất giao hoán của
phép cộng nên kết quả vẫn đúng nhưng về bản chất của phép tính thì chưa chính xác.

lấy đi chưa biết, ta gọi đó là x. Có 10 ô vuông, lấy đi một số ô vuông chưa biết tức là ta
phải trừ - x là 10 –x còn lại 6 ô vuông tức là = 6 ta có phép tính đầy đủ là : 10 – x = 6.
GV cho HS nhắc lại phép tính và nên thành phần của phép tính.
Vậy “Muốn tìm số trừ ta làm thế nào?” GV hướng dẫn dựa vào mối quan hệ của
phép tính để tìm kết quả và rút ra ghi nhớ : “ Muốn tìm số trừ ta lấy số bị trừ trừ đi
hiệu” và trình bày phép tính cụ thể : 10 – x = 6
x = 10 – 6
x = 4
Lưu ý HS khi tìm x phải viết theo mẫu trên và “các dấu “ =” phải thẳng cột”.
Trong khi học về dạng toán này HS hay các em hay làm sai ở dạng
10
Ví dụ : Tìm x 15 – x = 10
x = 10 + 15
x = 25
Ở đây các em lấm lẫn giữa tìm số bị trừ và số trừ thường làm trừ thành cộng. Do
một số em chưa phân biệt rõ tên gọi thành phần, của phép tính. Đế hướng dẫn HS làm
đúng theo ghi nhớ GV nên chỉ rõ trong phép tính này ; Muốn tìm x ta lấy số đứng trước
dấu trừ trừ đi số đứng sau dấu bằng . Bằng cách hướng dẫn máy móc nhưng lại dễ hiểu
nên các em đã trình bày phép tính đúng đến 100%.
Cách trình bày lại phép tính trên như sau :
Tìm x : 15 – x = 10
x = 15 - 10
x = 5
Khi hướng dẫn làm luôn nhắc nhở HS chú ý đặt dấu « = » thẳng cột với nhau, chú ý
cẩn thận trong tính toán , đặc kỹ năng tính toán phải chính xác.
4. Rèn kĩ năng tìm thừa số chưa biết.
Chương trình lớp 2 đã có học nhân chia đến bảng 5. Khái niệm thừa số là khái niệm
mới đối với HS. Vậy tìm thừa số chưa biết dựa trên căn cứ của bảng nhân mà các em đã
được học, cách tìm thừa số x chưa biết được tiến hành như sau:
GV nêu : Có phép nhân X x 2 = 8 . Giải thích : Số x là thừa số chưa biết nhân với 2

Ví dụ: Tìm x 4 x X = 16
X = 16 : 4
X = 8
Kết quả các em làm chưa đúng là do các em chưa thuộc bảng chia. Thường để hình
thành phép chia ta hay lấy từ phép nhân do vậy GV cần cho HS vận dụng từ phép nhân
để tính ngược lại như 16 = 4 x 4 từ đó tính ngược lại 16 : 4 = 4
Cách làm đúng của hai phép tính trên là :
X x 4 = 12 4 x X = 16
12
X = 12 : 4 X = 16 : 4
X = 3 X = 4
Để khắc sâu thêm cách làm và củng cố HS về bảng nhân chia tôi ra thêm một số ví
dụ sau:
Ví dụ : Tìm y y x 2 = 14 3 x y = 18
y = 14 : 2 y = 18: 2
y = 7 y = 9
Với cách làm như vậy trong lớp đã có 97% HS làm đúng cả cách trình bày và kết
quả.
5.Rèn kĩ năng tìm số bị chia chưa biết.
Kỹ năng tìm số bị chia là phần cuối cùng của tìm thành phần chưa biết ở chương trình
Toán lớp 2. Nối tiếp sau phần học tìm thừa số chưa biết trong một tích . Dạy tìm số bị
chia sẽ dựa trên quan hệ giữa phép nhân và phép chia.
GV nêu : Có phép chia x : 2 = 5
Giải thích : Số x là số bị chia chưa biết , chia cho 2 được thương là 5.
Dựa vào bảng nhân 5 ta làm như sau: Lấy 5 (là thương ) nhân với 2 ( là số chia) ta
được 10 ( là số bị chia)
Vậy x = 10 là số phải tìm vì 10 : 2 = 5
Trình bày : x : 2 = 5
X = 5 x 2
X = 10

6. Việc dạy học trên lớp
Trong khi dạy học trên lớp, người giáo viên phải dạy cho học sinh cách tìm ra “
chân lý” chứ không phải mang “chân lý” đến cho học sinh, tức là trong các giờ học,
nhất là các tiết truyền thụ tri thức mới, giáo viên phải hướng dẫn , điều khiển cho học
sinh tự giác tích cực huy động vốn hiểu biết về kinh nghiệm của bản thân “ phát hiện”.
14
“khám phá” ra tri thức mới , có như vậy mới gây hứng thú cho học sinh , giúp cho học
sinh hiểu rõ, nhớ lâu kiến thức.
Mặt khác toán học nói chung và tìm thành phần chưa biết( ẩn số) nói riêng trong
chương trình tiểu học được ứng dụng rất rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy
ngoài các ví dụ bài tập ở sách giáo khoa, giáo viên nên lấy các ví dụ hay yêu cầu học
sinh lấy ví dụ bài toán trong thực tế trong cuộc sống để học sinh dễ hiểu và dễ nhớ hơn
giúp các em có thể giải các bài toán trong thực tế hàng ngày một cách linh hoạt và
nhanh chóng . Đồng thời việc lấy các ví dụ ngoài thực tế này tạo cho các em một cơ sở
nhất định, tạo được niềm tin và sự hứng thú cho các em , giúp cho các em hiểu sâu hơn,
kĩ hơn về bài học để khi học hết bài học Tiểu học các em có thể học tiếp lên các lớp trên
hoặc đi vào cuộc sống lao động như mục tiêu giáo dục đề ra.
7. Tổ chức học nhóm:
Để hạn chế những sai lầm cho học sinh việc tổ chức cho các em học nhóm cũng là
một vấn đề quan trọng.
Ở trên lớp tuỳ theo tính chất, nội dung của mỗi bài học tiết học mà có thể phân chia
thành các nhóm khác nhau:
Nhóm hỗn hợp (có cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu).
Nhóm theo trình độ ( nhóm học sinh giỏi, nhóm học sinh khá ). Nhóm theo sở trường

Sự phân chia nhóm tạo điều kiện cho các em có thể giúp đỡ lẫn nhau đồng thời các
em còn có thể trao đổi ý kiến nhận xét cách giải quyết của các bạn và cảm thấy bản thân
mình cũng có đóng góp cho kết quả làm việc chung của nhóm vì vậy các em mạnh dạn,
tự tin hơn trong học tập và có quyết tâm vượt khó.
Hình thức học tập theo nhóm giúp các em có điều kiện củng cố và biểu quyết vốn

Lớp 2B ( 22em) 6 27,2 11 50,0 5 22,8 0 0
So với kết quả đầu năm thì kết quả cuối năm có nhiều tiến bộ rõ rệt .Bằng các biện
pháp thực hiện như trên tôi đã giúp các em đã hạn chế được những sai lầm cơ bản của
tìm thành phần chưa biết của phép tính , góp phần học tốt hơn các phần khác trong
chương trình Toán 2. Đặc biệt các em được rèn các kĩ năng cơ bản về “Tìm thành phần
chưa biết của phép tính”.
Thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân chia số tự nhiên
Từ những sai lầm mà các em được rèn luyện, khắc phục các em tự tin hơn. Đó chính
là động lực thúc đẩy góp phần nâng cao chất lượng môn học.
2. Ý kiến đề xuất .
Qua việc tìm hiểu nội dung phần “Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở lớp 2”,
đồng thời dự kiến những phương hướng khắc phục những sai lầm của học sinh khi học
về “Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở lớp 2”. Tôi có một số ý kiến đề xuất
sau:
a. Đối với các cấp lãnh đạo
- Mở các chuyên đề thảo luận tập trung để giáo viên trao đổi, tiếp thu, học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau.
- Thường xuyên kiểm tra, khảo sát chất lượng dạy và học để giáo viên rút ra bài
học và chỉ đạo kịp thời trong chuyên môn.
b. Đối với giáo viên.
- Trước khi dạy học bài mới phải dự kiến các sai lầm mà học sinh có thể mắc phải để
có biện pháp khắc phục luôn trong từng bài, từng phần tránh các hiện tượng sai lầm và
mất nhiều thời gian.
- Nên thay đổi cách đánh giá và các hình thức đánh giá khác nhau để gây sự hứng thú
cho các em, giúp các em tự nhận ra sai lầm của mình và tự sửa chữa.
17
- Khi phát hiện thấy những sai sót thường phải gọi chính những học sinh làm sai giải
thích, trình bày cách làm của mình và giáo viên hướng dẫn (dưới dạng câu hỏi) để học
sinh tự nhận thấy cái sai của mình, giáo viên cũng có thể cho học sinh khác nhận xét.
Cuối cùng giáo viên củng cố lại kiến thức để sửa chữa sai lầm không chỉ riêng cho em

B.
Giải quyết vấn đề.
5
I. Các giải pháp thực hiện. 5
1. Quy trình dạy tiết tự nhiên và xã hội lớp 3. 5
2. Các hình thức tổ chức dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 3. 6
II. Một số biện pháp thực hiện hình thức dạy môn TN&XH lớp 3 16
1. Xây dựng kế hoạch bài dạy 16
2. Tổ chức tốt các hoạt động dạy - học 16
3. Lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp với bài học 16
4.
Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học
17
C. Kết luận
18
1. Kết quả nghiên cứu 18
2. Bài học kinh nghiệm 18
3.
ý kiến đề xuất
1919
thường gồm ba phần: đầu, mình
và cơ quan di chuyển.
thể ccohúng zsthường gồm ba
phần: đầu, mình và cơ quan d
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status