I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, Thể dục thể thao (TDTT) là một hoạt động không
thể thiếu, nhằm đào tạo và xây dựng con người mới phát triển toàn diện. TDTT
đóng góp một phần rất quan trọng trong giáo dục "Đức - Trí - Thể - Mỹ " cho
thế hệ trẻ. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì TDTT còn phản
ánh sự lớn mạnh của đất nước, tạo ra sự ổn định chính trị, nâng cao cuộc sống
tinh thần văn minh, tạo mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng
việc phát triển TDTT nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền TDTT phát triển
tiến bộ, có tính dân tộc và khoa học.
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một mặt giáo dục quan trọng không
thể thiếu được, góp phần thực hiện mục tiêu " Nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài " cho đất nước.
Điền kinh là môn thể thao rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt
động tự nhiên của con người: Đi bộ, chạy nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối
hợp. Ở nước ta môn điền kinh đã có lịch sử phát triển từ lâu đời, với các hình
thức tập luyện đa dạng. Đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng quần chúng
tham gia tập luyện và thi đấu. Khi chạy tất cả các nhóm cơ cùng tham gia hoạt
động nhưng chủ yếu là cơ quan nội tạng. Việc gắng sức luân phiên với thả lỏng
tích cực tạo điều kiện cho việc phát triển các tố chất sức nhanh, mạnh, bền, sự
mềm dẻo, khéo léo và khả năng phối hợp của con người. Môn chạy nói chung và
chạy ngắn nói riêng là biện pháp tốt nhất để rèn luyện nâng cao sức khoẻ, ngoài
ra còn trang bị cho người tập những phẩm chất đạo đức ý chí cũng như tăng
cường vốn kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong cuộc sống.
Điền kinh giữ vai trò quan trọng trong môn giáo dục thể chất trong trường
học nói chung và trong các trường phổ thông trung học nói riêng, đặc biệt là các
trường trung học cơ sở (THCS). Ngày nay phong trào TDTT nói chung và điền
kinh nói riêng trong chạy cự ly 60 (mét) đang được phát triển mạnh mẽ ở các
trường học. Chạy cự li 100 (mét) là một trong các nội dung thi đấu điền kinh đối
với học sinh THCS.
Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả ứng dụng một số bài tập thể lực nhằm nâng
cao thành tích chạy ngắn (100m) cho học sinh lớp 9 Trường THCS Nga Thanh,
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Với đề tài trên, tôi đã lựa chọn 32 em học sinh lớp 9B làm nhóm đối
chứng và 32 em học sinh lớp 9A làm nhóm thực nghiệm. Hai lớp có số lượng
học sinh nam và nữ bằng nhau để vận dụng vào trong công tác giảng dạy nhằm
nâng cao thành tích chạy ngắn (100m).
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp tham khảo tài liệu.
Phương pháp này giúp tôi hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến
vấn đề cần nghiên cứu thông qua việc tham khảo các văn bản, chủ trương của
Đảng và nhà nước về công tác giáo dục thể chất, tham khảo các tài liệu của các
chuyên gia, hình thành cơ sở lý luận, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu,
đồng thời xây dựng tổng quan, xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phương pháp phỏng vấn.
Sử dụng phương pháp này với mục đích tổng hợp các kiến thức và kinh
nghiệm của các giáo viên, huấn luận viên. Từ đó chọn lọc được một số bài tập
hợp lý để nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật chạy ngắn.
4.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
Sử dụng phương pháp này để tiến hành kiểm tra thành tích chạy ngắn
(100m) trước và sau thực nghiệm của học sinh khối 9 trường THCS xã Nga
Thanh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Cách thức tiến hành kiểm tra thành tích:
+ Kiểm tra mỗi lượt 4 học sinh,
+ Mỗi học sinh thực hiện 1 lần lấy thành tích.
- Thực hiện chạy ngắn theo luật điền kinh.
2
giữa dũng cảm với liều lĩnh, giữa khiêm tốn với nhu nhược, giữa tình cảm đúng
với tình cảm sai.
Khi tuyến sinh dục đã hoạt động đủ mạnh, đủ làm xuất hiện giới tính
chính thì trở lại kiềm hãm sự hoạt động của hai tuyến hạ não và giáp trạng. Bởi
thế, chiều cao phát triển chậm dần, ít năm nữa sẽ dừng hẳn, trái lại các chiều
ngang, các vòng cơ thể cùng với sức lực tăng lên rõ rệt.
Nói chung, cơ thể học sinh đang trên đà phát triển mạnh. Những sự mất
cân đối giữa các mặt đặt yêu cầu cho các nhà giáo dục phải biết chăm sóc các
em thật chu đáo. Thiếu luyện tập thể dục, ý thức giữ vệ sinh kém, nghỉ ngơi, vui
chơi, giải trí không hợp lý sẽ đưa đến những tác hại không nhỏ cho sức khỏe.
Nhưng nếu hiểu biết rõ đặc điểm và sử dụng đúng năng lực của các em thì tuổi
này có nhiều đóng góp tốt, có nhiều tài năng đang độ nảy nở, kể cả tài năng về
TDTT.
3
Để hiểu rõ hơn đặc điểm nói trên, cần biết thêm một số hệ thống cơ quan
dưới đây:
Hệ thần kinh: đã hoàn thiện về cơ cấu tế bào, nhưng chức năng sinh lý
vẫn đang phát triển mạnh. Hưng phấn vẫn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng
hợp mặc dù còn thấp nhưng sâu sắc hơn tuổi nhi đồng. Dễ thành lập phản xạ,
song cũng dễ phai mờ, cho nên tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng quên. Thần
kinh thực vật yếu ớt ở mức độ nhất định, các dấu hiệu về kích thích cảm giác
tăng lên, 14% trai và 26% gái xuất hiện trạng thái đau đầu vô cớ, chóng mệt, hồi
hộp, đôi khi có biểu hiện đau ở vùng dạ dày, dễ bị chấn thương tinh thần khi rối
loạn giấc ngủ, hoặc khi giáo dục sai phương pháp, khi công việc nặng nhọc, tập
luyện quá sức.
Hệ vận động: phát triển đáng chú ý cả về số lượng và chất lượng. Xương
đang cốt hóa mạnh mẽ, dài ra rất nhanh, Các xương nhỏ ở cổ tay, cổ chân đã
thành xương nhưng chưa vững vàng, lao động, học tập nặng nề dễ gây đau kéo
Với nhu cầu phát triển của xã hội và mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà
trường. Do đó việc nghiên cứu một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích
cho học sinh là phù hợp với mục tiêu, yêu cầu trên và là vấn đề cần thiết. Kết
quả nghiên cứu có thể góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn chạy ngắn
(100m) cho học sinh bậc trung học cơ sở, tạo một nền tảng vững chắc cho các
em bước lên cấp trung học phổ thông.
1.2. Nội dung chương trình bộ môn Thể dục lớp 9
Ở lớp 9, môn chạy ngắn được tiến hành giảng dạy trong 9 tuần của học kỳ
I và được phân bổ trong 18 tiết. Trong một tiết học 45 phút có 3 nội dung là chạy
ngắn, bài thể dục và chạy bền. Thời lượng để học 3 nội dung này chỉ chiếm
khoảng 32 - 35 phút. Do vậy, lượng vận động chưa cao nên chưa phát huy hết
khả năng của học sinh. Đó cũng là một khó khăn đòi hỏi người thầy phải tìm ra
những biện pháp để có thể nâng cao thành tích chạy ngắn cho học sinh.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những cuộc thi TDTT do tỉnh và huyện tổ chức, môn chạy ngắn là
một trong những môn mà trường THCS Nga Thanh luôn có thành tích chưa cao
so với những trường khác. Thực trạng trong kiểm tra thành tích cuối năm và thi
đấu Hội khỏe phù đổng cấp huyện, tỉnh của Trường THCS Nga Thanh còn rất
hạn chế, nhất là thành tích chạy ngắn (100m). Một phần do môn chạy ngắn chưa
thực sự được quan tâm đúng mức, một phần do tố chất thể lực và ý thức luyện
tập của các em học sinh chưa cao nên dẫn tới kết quả không được tốt trong các
cuộc thi TDTT.
Việc lựa chọn và áp dụng những bài tập thể lực chưa hợp lý cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến việc nâng cao thành tích chạy 100m của các em.
Vì trường chưa đạt chuẩn quốc gia nên điều kiện sân bãi chưa tốt, phạm vi
hẹp làm ảnh hưởng đến quá trình tập luyện của học sinh.
Thiết bị đồ dùng luyện tập còn hạn chế.
Học sinh chưa nghiêm túc tiếp thu, áp dụng phương pháp luyện tập và bài
8
Tỉ lệ
(%)
25
9A
32
24
Nhóm thực
nghiệm
Nhóm đối
9B
32
22
68,8
10
31,2
chứng
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1. Lựa chọn một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn
(100m) cho học sinh lớp 9.
Trên cơ sở đánh giá năng lực của học sinh, đồng thời qua việc nghiên cứu
cơ sở lí luận và thực tiễn công tác giảng dạy tôi đã lựa chọn được một số bài tập
trong giảng dạy kĩ thuật chạy nhanh:
- Chạy bước nhỏ 20m.
- Chạy đạp sau 30m.
- Chạy nâng cao đùi 30m.
- Chạy 30m tốc độ cao.
- Chạy 30m xuất phát cao.
9
Chạy trên cát
Chạy kéo người
10
Chạy lên bậc cầu thang
Những nhóm bài tập này khi áp dụng vào tập luyện phải theo dõi từ lúc
học sinh bắt đầu tập luyện để biết được điểm nào học sinh thực hiện còn yếu,
điểm nào cần bổ sung… mới phát huy hết khả năng tố chất sẵn có của các em.
Nếu sử dụng những bài tập không phù hợp với nhu cầu cần của học sinh sẽ
không đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc lựa chọn bài tập cho phù
hợp thì giáo viên phải nắm bắt trước tình hình, tâm lý, thể lực và khả năng của
học sinh sao cho bài tập áp dụng vào tập luyện mới đạt được hiệu quả tốt.
Giáo viên luôn quan tâm, chăm chút học sinh trong từng tiết học. Với
mỗi tiết học, giáo viên đã nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy để lựa chọn và tổ chức
những hình thức tập luyện sao cho phù hợp với đối tượng học sinh. Bên cạnh đó,
giáo viên luôn động viên khuyến khích, khơi gợi ở học sinh trí tưởng tượng, óc
sáng tạo nhằm kích thích được sự tìm tòi, ham học hỏi ở học sinh, hình thành
thói quen học tập tốt môn thể dục.
3.2. Ứng dụng các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn
(100m) cho học sinh lớp 9.
Sau khi nghiên cứu thực trạng, chọn lựa bài tập, tôi tiến hành soạn thảo
chương trình ứng dụng cụ thể như sau:
Bước 1: Lập tiến trình biểu theo phân phối chương trình của Sở giáo dục
và đào tạo năm học 2017 – 2018.
Bước 2: Soạn giáo án cho nhóm thực nghiệm (Lớp 9A) theo chương trình
Chưa
(%)
Đạt
Nhóm thực
nghiệm
9A
32
32
100
0
0
Nhóm đối
chứng
9B
32
26
81,2
đạt
Tỉ lệ
(%)
Nhóm thực
nghiệm
32
24
75
8
25
32
100
0
0
(Lớp 9A)
Nhóm đối
chứng
32
22
68.8
10
31.2
26
81.2
6
18.8
(Lớp 9B)
Qua bảng trên, ta có thể nhận thấy kết quả học tập của học sinh lớp 9A so
thành tích chạy (100m) cho học sinh lớp 9 là cần thiết và để giải quyết được vấn
đề nêu trên, quá trình nghiên cứu cần phải xây dựng đề ra giải pháp hữu hiệu
tích cực, cụ thể trong việc lựa chọn và ứng dụng để đạt được hiệu quả của đề tài.
Trong thực tế nghiên cứu ứng dụng một số bài tập bổ trợ trong việc nâng
cao thành tích chạy ngắn (100m) cho học sinh lớp 9 Trường THCS xã Nga
Thanh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tôi rút ra được các bài tập có hiệu quả
cao là:
- Chạy bước nhỏ 20m.
- Chạy đạp sau 30m.
- Chạy nâng cao đùi 30m.
- Chạy 30m tốc độ cao.
- Chạy 30m xuất phát cao.
- Chạy 30m xuất phát thấp.
- Chạy biến tốc 30m
13
- Chạy kéo lôi người khác bằng dây chun.
- Chạy trên cát.
- Chạy lên bậc cầu thang, chạy lên dốc.
- Tại chỗ vịn tường, vịn cây nâng cao đùi liên tục.
- Bài tập đứng lên ngồi xuống.
- Trò chơi vận động:“Người thừa thứ 3”,“Chạy đuổi”,“Chạy tiếp sức
chuyển vật”.
Trong những năm tới, tôi sẽ tiếp tục áp dụng phương pháp nghiên cứu ứng
dụng các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy ngắn (100m) vào trong
quá trình giảng dạy nội dung này, đồng thời sẽ nghiên cứu thêm các bài tập khác
để học sinh học tập tích cực và hiệu quả cao hơn.
Với kinh nghiệm còn chưa nhiều nhưng nhờ sự quan tâm chỉ đạo của ban
giám hiệu, sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, bản thân tôi đã luôn không ngừng
1. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1996), “Lý luận và phương pháp thể thao trẻ”,
NXB TDTT TP. Hồ Chí Minh.
2. Dương Nghiệp Chí, Võ Đức Hùng, Phạm Văn Thụ (1976), “Điền kinh”, NXB
TDTT Hà Nội.
3. P.N.GôiKhơMan - Ô.N.TơRôPhiMôp, Phi Trọng Hanh dịch từ tiếng Nga
(2003), “Điền kinh trong trường phổ thông”, NXB TDTT Hà Nội.
4. V.G.ALABIN - M.P.CRIVÔNÔXÔP do Quang Hưng lược dịch (1985, 2004),
“Bài tập chuyên môn trong Điền kinh”, NXB TDTT Hà Nội.
5. Đàm Thị Hậu, Trương Thanh Bình, Nguyễn Văn Tri, Lê Thị Kim Thảo
(2007), “Giáo trình Điền kinh”, NXB TDTT Hà Nội.
6. Trịnh Trung Hiếu (1997), “Lý luận và phương pháp giáo dục TDTT trong nhà
trường”, NXB TDTT Hà Nội.
7. Nguyễn Thị Kim Minh – Nguyễn Trọng Hải – Trần Đồng Lâm – Đặng Ngọc
Quang, Giáo trình điền kinh, NXB ĐHSP, 12/2003.
8. Ủy ban TDTT, Luật điền kinh, NXB TDTT Hà Nội, 2005.
9. Bài giảng chạy cự li ngắn, cự li trung bình, chạy tiếp sức.
10. Học thuyết huấn luyện Nhà xuất bản TDTT Hà Nội.
11. Trịnh Trung Hiếu, Lí luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT, 1997.
12. SGK Điền kinh, NXB TDTT Hà Nội, 2006.
13. Luật điền kinh, NXB TDTT Hà Nội, 2009.
15