DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
BPTT
CBXH
CNH, HĐH
ĐCSVN
HLHPNVN
KHHGĐ
NNL
PT NNL
SKSS
PTKT-XH
XĐGN
XHCN
CBCNVC- LĐ
Nguyên văn tiếng Việt
Biện pháp tránh thai
Công bằng xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Kế hoạch hóa gia đình
Nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực
Sức khỏe sinh sản
Phát triển kinh tế-xã hội
Xóa đói giảm nghèo
Xã hội chủ nghĩa
Cán bộ công nhân viên chức và người
lao động
2010 và 2010- 2015
Công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ nữ tây Hồ giai
71
Bảng 2.5.
đoạn từ năm 2008- 2014.
Giáo dục kiến thức pháp luật và đường lối của
74
Đảng nhà nước cho nguồn nhân lực nữ quân Tây
Bảng 2.6.
Hồ giai đoạn từ năm 2010- 2014
Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên
địa bàn quận Tây Hồ từ năm 2010- 2014
77
MỤC LỤC
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ ở
quận Tây Hồ thành phố Hà Nội......................................................................................42
2.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ ở quận Tây Hồ thành phố Hà Nội..........46
Năm.................................................................................................................................48
Đơn vị.............................................................................................................................48
Tổng số...........................................................................................................................48
4130................................................................................................................................48
562..................................................................................................................................48
656..................................................................................................................................48
%.....................................................................................................................................48
100..................................................................................................................................48
16,03...............................................................................................................................48
28,71...............................................................................................................................48
35,08...............................................................................................................................48
15,59...............................................................................................................................48
2,12.................................................................................................................................48
2,47.................................................................................................................................48
2012................................................................................................................................48
Người..............................................................................................................................48
3616................................................................................................................................48
3092................................................................................................................................48
703..................................................................................................................................48
%.....................................................................................................................................48
14,56...............................................................................................................................48
29,98...............................................................................................................................48
36,84...............................................................................................................................48
1,2,45..............................................................................................................................48
2,83.................................................................................................................................48
3,34.................................................................................................................................48
2013................................................................................................................................48
Người..............................................................................................................................48
8097................................................................................................................................48
%.....................................................................................................................................48
13,82...............................................................................................................................48
sách kế hoạch hóa gia đình và chính sách liên quan đến sức khỏe sinh sản giúp phụ nữ
có số con mong muốn, chính sách giáo dục nhằm tăng cường cơ hội đến trường và các
chính sách kinh tế khuyến khích thị trường lao động năng động, thị trường thương mại
tự do, tài chính dồi dào và có vốn tích lũy......................................................................82
3.3. Giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.....................................................................................84
Xu thế chung của thế giới hiện nay là chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài
nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế tri thức. Vì vậy, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng
trở thành nhân tố chủ đạo, giữ vị trí trung tâm đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia. Phụ nữ là người đảm nhiệm hai vai trò: vừa là lực lượng lao động
cơ bản của xã hội, vừa có trách nhiệm trực tiếp tái sản xuất ra con người.Cùng với phụ
nữ cả nước, nữ cán bộ, công nhân, viên chức và lao động quận Tây Hồ đã nỗ lực phấn
đấu không ngừng học tập, nâng cao trình độ, năng lực, năng động, sáng tạo trong lao
động, sản xuất kinh doanh, tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp hiệu quả vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quận; tiếp tục khẳng định được vai trò, vị trí của
phụ nữ: là người mẹ, người vợ giữ vai trò chủ chốt trong xây dựng hạnh phúc gia đình,
nuôi dạy con trưởng thành, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế, tích cực tham gia vào sự nghiệp bình đẳng giới. Quan
tâm đến sự phát triển của phụ nữ là đòi hỏi thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ
đến sự phát triển kinh tếtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Có nhiều nghiên cứu
khẳng định vai trò của phát triển nguồn nhân lực với phát triển kinh tế của Việt Nam
nhưng vai trò của phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam nói chung và quận Tây Hồ,
thành phố Hà Nội nói riêng chưa có nghiên cứu nào đánh giá về nguồn lực quan trọng
này đối với tiến trình phát triển, đây là lý do cơ bản về sự cần thiết của luận văn này.
......................................................................................................................................107
Danh mục tài liệu tham khảo............................................................................................6
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
động, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này,
tạo điều kiệnvà cơ hội cho họ góp phần tích cực vào sự phát triển chung của
quận là cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Đó chính là
lý do để vấn đề “Nguồn nhân lực nữ cho phát triển kinh tế - xã hội quận
Tây Hồ,thành phố Hà Nội hiện nay” được chọn làm đề tài luận văn cao học
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do vị trí, vai trò và ý nghĩa chiến lược quan trọng của nguồn nhân lực
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nên đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu như: “ Con người và nguồn lực con
người trong phát triển” của Viện Thông tin Khoa học xã hội (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1995); Công trình KHCN cấp nhà nước KX - 07 “ Con
người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”
năm 1995; “ Phát triển nguồn nhân lực. Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn
nước ta” của PTS Trần Văn Tùng và Lê ái Lâm ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1996); “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH”
của Phạm Minh Hạc (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001); “ Lao động, việc làm và
nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới” của Nolwen Henaff và Jean Yves Martin. Luận án tiến sĩ: “ Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo
dục - đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH HĐH” của Nguyễn Thanh, 2001; Luận án phó tiến sĩ: “Sử dụng nguồn nhân
lực trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta” của Trần Kim Hải, 1999…Các
công trình nghiên cứu trên đã hệ thống hóa một cách cụ thể, sâu sắc về nguồn
nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng
nguồn nhân lực Việt Nam, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển nguồn nhân lực của Việt Nam nói chung.
Nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan trọng trong chiến lược xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực, vì vậy vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học nghiên cứu
về phụ nữ. Tiêu biểu như: GS triết học Lê Thi với “Vấn đề tạo việc làm tăng
thu nhập nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay”,“Vài suy nghĩ về phương
đề cập đến vấn đề nguồn lực phụ nữ như “Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân
lực nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS Bùi
Thị Kim Quỳ (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2, 1996) “Cơ sở khoa học và
thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng cho phụ nữ “ của Tiến sĩ Nguyễn
Tín Nhiệm và Tiến sĩ Phan Thị Thanh (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số
4/2002) “Việc làm của phụ nữ Hà Nội” của Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh (Tạp chí
Khoa học về phụ nữ, 2/2003)…
Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã đề cập những khía cạnh khác
nhau về nguồn nhân lực nữ. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình
nào nghiên cứu về thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ của quận Tây Hồ,
thành phố Hà Nội. Trên cơ sở kế thừa cơ sở lý luận của các công trình nghiên
cứu khoa học nói trên, vận dụng điều kiện thực tế của quận Tây Hồ, thành
phố Hà Nội để phân tích, đánh giá những thực trạng trong phát triển nguồn
nhân lực nữ trên địa bàn quận, từ đó đề xuất các giải pháp phát huy nguồn
nhân lực nữ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn quận trong thời kỳ
hội nhập. Đây là vấn đề trọng tâm mà tác giả mong muốn làm sáng tỏ trong
luận văn của mình.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích tìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển nguồn
nhân lực nữ quận Tây Hồ trong phát triển kinh tế những năm gần đây, thời kỳ
chịu tác động lớn của quá trình hội nhập và CNH. Tập trung đánh giá thực
trạng phát triển nguồn nhân lực nữ ở quận Tây Hồ hiện nay với phát triển
kinh tế -xã hội. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp
phần phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy sự phat triển kinh tế - xã
hội.của quận Tây Hồ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và luận giải những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực nữ,
- Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ và việc phát huy nguồn nhân
lực nữ quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp đặc thù nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ quận
Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đối với phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
- Góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn lực phụ
nữ, bổ sung thêm những cơ sở khoa học có thể tham khảo trong hoạch định
chiến lược tổng thể và chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực
nữ trên địa bàn quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
- Dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập
về nguồn nhân lực nữ trong các trường, các cơ quan chức năng ở quận Tây
Hồ, Thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 9 tiết.
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nguồn nhân lực nữ đối với
phát triển kinh tế- xã hội.
Chương II: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ và ảnh hưởng của
nó đến phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Chương III: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ để thúc đẩy phát
triển kinh tế- xã hội ở Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đến năm 2020.
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC
NỮ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Nguồn nhân lực nữ và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
nguồn nhân lực nữ.
1.1. 1. Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực .
động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái
niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống
nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho
xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị
trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển
không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng
mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân
số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng,
sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất
đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang
và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã
hội.
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì
nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất.
1.1.1.2. Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực được nhiều tác giả bàn đến.Tổ chức lao động
quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng
hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà
còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu
quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”[54].
Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực”,
Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu
tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của
mỗi cá nhân” [55].
Hiểu theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực nữ bao gồm bộ phận dân số nữ có
khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội. Nói cách khác, nhân lực nữ
được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có
mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong
một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào
quá trình phát triển xã hội.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực nữ với tư cách là lực lượng lao động
của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ trong và trên tuổi lao động trở lên có khả
năng lao động. Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong
khoảng nhỏ hơn của độ tuổi lao động nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam
từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyên cao hơn
(thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ thường chiếm tỷ
lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội).
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang
tính chất tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội. Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao
động xã hội, vừa là người trực tiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất
nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
của bất kỳ quốc gia nào.
Thứ hai, nghiên cứu nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương pháp
tiếp cận đúng đắn. Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là
xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới
nữ). Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định.
Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể tự
nhiên vừa là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh
học của cơ thể. Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không
thể thay đổi được.Từ những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ đảm
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là tạo điều kiện về quyền
được học hành, được chăm sóc y tế, quyền được có việc làm và thu nhập
tương xứng, quyền ra quyết định và sử dụng các nguồn lực trong gia đình,
trách nhiệm chăm sóc gia đình...Vấn đề này sẽ quyết định đến cơ hội cuộc
sống của nguồn nhân lực nữ, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền
kinh tế.
Phát triển nguồn nhân lực nữ cũng được xem xét theo nghĩa bình đẳng về
luật pháp, về cơ hội- bao gồm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đào tạo, trong y
tế chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, tiếp cận nguồn vốn, khoa học công nghệ và
các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc và trong
tiếng nói.
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là nam giới và phụ nữ đều
có vị trí như nhau trong xã hội.Phụ nữ và nam giới có điều kiện như nhau để
thực hiện đầy đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng sự
phát triểnchính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước.Điều này cũng không
có nghĩa là phụ nữ và nam giới là hoàn toàn như nhau, song những điểm tương
đồng và khác biệt của họ được xã hội thừa nhận và được coi trọng như nhau.
Một điều cần nhấn mạnh là PTNNL nữ chủ yếu là nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực nữ của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ hoặc mỗi tổ chức. Ngoài
yếu tố sức lao động, chất lượng nguồn nhân lực nữ còn phụ thuộc vào cơ cấu của
đội ngũ lao động về ngành nghề, trình độ kỹ thuật, năng lực tổ chức, quản lý và
khả năng phối hợp hành động để đạt mục tiêu đề ra. Một cơ cấu nhân lực nữ hợp
lý và tổ chức hoạt động tốt sẽ có tác động cộng hưởng làm tăng sức mạnh của tổ
chức và của từng cá nhân để thực hiện mục tiêu đề ra. Do đó, PTNNL nữ của mỗi
quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ và mỗi tổ chức cần chú ý lựa chọn một cơ cấu hợp lý
và phù hợp với yêu cầu, trình độ phát triển của mỗi giai đoạn.
Như vậy chính sách PTNNL nữ bao gồm hầu hết những giải pháp tác
động đến quá trình tăng cường năng lực của từng người lao động nữ và tổ
tại ba yếu tố đó. Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt
chất lượng là sự phát triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, kỷ luật
của người lao động nữ.
Phát triển trí lực nguồn nhân lực nữ là phát triển năng lực trí tuệ. Đó là
quá trình nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức sáng
tạo và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động nữ trong hoạt động thực tiễn. Quá
trình này chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều nhân tố, trong đó giáo dục - đào
tạo giữ vai trò quyết định, vì nó trước hết là sản phẩm của giáo dục - đào tạo.
Do vậy, trong thời đại ngày nay đồng thời với việc xem con người là nguồn
lực quan trọng nhất, thì giáo dục - đào tạo đều được các quốc gia đặt ở vị trí
số một trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình. Đây cũng là cơ
sở để Nhà nước Việt Nam xác định: trong khi nguồn lực vật chất và tài chính
còn hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo phải trở
thành quốc sách hàng đầu.
Phát triển thể lực nguồn nhân lực nữ là gia tăng chiều cao, cân nặng,
tuổi thọ, sức mạnh và độ dẻo dai của thần kinh, cơ bắp. Vấn đề này phụ thuộc
vào một loạt các yếu tố: điều kiện tự nhiên, giống nòi, thu nhập và cách thức
phân bố chi tiêu, môi trường và điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi, các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng (giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao).
Trong đó, ngoài yếu tố giống nòi, thì thu nhập và các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Những yếu tố này chỉ có thể được
cải thiện trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển nhân cách, kỷ luật lao động nữ là phát triển yếu tố văn hóa, tinh
thần và quan điểm sống như: tính tích cực, dám nghĩ, dám làm, đạo đức, tác
phong, lối sống… trong mỗi người lao động nữ. Đó là quá trình nâng cao trình
độ nhận thức các giá trị cuộc sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp với
cộng đồng, đấu tranh với các tệ nạn xã hội để xây dựng lối sống lành mạnh và
hình thành tác phong lao động công nghiệp của nhân lực nữ. Thực chất là quá
nhất định để sinh nở. Có lẽ chính chức năng duy trì nòi giống đó đã tạo cho phụ
nữ nói chung và lao động nữ nói riêng tính kiên trì, chịu đựng cao.
Thứ hai, người phụ nữ thường được xã hội gán cho nhiều chức năng
cùng một lúc và phải gánh vác nhiều trách nhiệm nặng nề.Họ ngoài việc đảm
nhận chức năng tái sản xuất dân số (chức năng sinh đẻ) thì phải kiêm thêm
chức năng sản xuất của cải cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy nếu xét về
đặc điểm của lao động nữ với chức năng sản xuất của cải thì gánh nặng của
họ so với nam giới là rất nhiều. Mà phụ nữ lại là phái yếu cho nên chính điều
này làm cho trách nhiệm gánh nặng càng cao. Đây là một đặc điểm mang tính
bất lợi cho phụ nữ nói chung cũng như cho lao động nữ nói riêng trong tiến
trình phát triển của xã hội. Hơn thế nữa, nếu xét về hiện tại, thì quan niệm của
đại đa số người dân Việt Nam vẫn cho rằng người phụ nữ luôn là thứ yếu so
với nam giới, họ thường cho rằng phụ nữ thích hợp với việc nhà hơn là những
việc ngoài xã hội, có chăng nếu có đảm nhận một công việc gì đó thì những
công việc đó phải mang tính đơn giản, thứ yếu.
Thứ ba, người phụ nữ đức tính lao động cần cù, thông minh, sáng tạo
trong lao động sản xuất. Đặc tính này của người lao động nữ được thể hiện từ
thời kỳ Nguyên Thuỷ. Ngày nay đức tính này càng được thể hiện rất rõ,
những công việc đòi hỏi sự kiên trì và độ tỷ mỷ cao (thêu, đan, may vá). Tính
cần cù trong sản xuất, lao động hôm nay được họ phát huy mạnh mẽ hơn bao
giờ hết, nhất là lao động nữ trong nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ.
Những nhà khoa học nữ đang miệt mài và âm thầm làm công việc nghiên cứu
tìm ra nhiều công trình mới góp phần cho sự phát triển của đất nước.
Thứ tư, người lao động nữ hiện nay ngoài tính cần cù, sáng tạo trong
lao động và công việc họ còn thể hiện tinh thần thái độ ham học hỏi, khả năng
tiếp thu và trao dồi tri thức rất tốt. Điều này được thể hiện rõ qua số lượng số
học sinh, sinh viên nữ và đội ngũ nữ cán bộ nghiên cứu khoa học. Bên cạnh
đó người lao động nữ còn có khả năng thu xếp công việc một cách khoa học
cách của con người nên nhân tố này đang được coi là phương thức phát triển
nhanh chất lượng nguồn nhân lực. Giáo dục cơ sở là nền tảng để phát triển
các kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động kinh tế có hàm lượng
chất xám cao.Những ai không điều kiện tiếp cận đến giáo dục có nguy cơ bị
loại khỏi cơ hội mới, tụt lại.
Các quốc gia hiện nay đều coi đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho
phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người. Đối với nguồn nhân lực nữ,
sự tác động của giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì không chỉ
liên quan đến 1/2 nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của lực
lượng lao động trong tương lai. Điều này xuất phát từ mối liên hệ giữa học vấn
của phụ nữ với sự phát triển của xã hội theo tác động dây chuyền giữa trẻ em gái
- người mẹ - thế hệ tương lai. Các nghiên cứu cho thấy việc học tập của phụ nữ
mang lại những lợi ích đặc biệt quan trọng cho gia đình và xã hội.
Những nghiên cứu cũng cho thấy người mẹ có học vấn càng cao thì
sinh ít con hơn. Quan trọng hơn, học vấn của mẹ còn có tác động trực tiếp đến
việc dạy và học của con. Con của người mẹ có học vấn cao hơn có nhiều cơ
hội được đến trường hơn, người mẹ mù chữ hoặc trình độ học vấn thấp ít
quan tâm đến con và khó dạy con học. Người mẹ không đi học có tỷ lệ con
được tiêm chủng thấp, tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng cao.
Việc nâng cao địa vị phụ nữ và tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển
bền vững đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự kiên trì thực hiện quốc sách
giáo dục và đào tạo.Giảm khoảng cách về giới trong giáo dục - đào tạo sẽ thúc
đẩy sự phát triển toàn diện nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài.
Hai : Sức khỏe và chăm sóc y tế.
Phụ nữ gắn liền với việc sinh con duy trì sự tồn tại và phát triển của nhân
loại. Việc sinh con vì thế là hiện tượng xã hội, nhưng trước hết cũng là hiện
tượng tự nhiên, sinh học. Song chức năng sinh học đó được thực hiện trong mối
liên hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của nhiều nhân tố như gia đình, môi trường