luận văn thạc sĩ triết học tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của nguyễn bỉnh khiêm - Pdf 50

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại. Nghiên cứu tư
tưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thế giới
nói chung và của xã hội loài người nói riêng. Song ở mỗi giai đoạn, mỗi thời
đại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triết học.
Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiến
khác nhau. Trong đó có thể hiểu theo hai cách nhìn nhận. Thứ nhất, nhiều
người cho rằng Việt Nam không có triết học, chẳng hạn như Ngô Đức Kế và
Huỳnh Thúc Kháng trước đây cho rằng: Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng Mạnh nói thế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần
nào đó thôi. Trần Quốc Vượng cũng cho rằng: Giai cấp địa chủ phong kiến
Việt Nam không có khả năng sáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân
dân vĩ đại. Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có thích
nghi, đó là tư tưởng Đại Việt.
Song cũng có nhiều người khẳng định Việt Nam có triết học như Lê
Hữu Tầng nhận định: Việt Nam có triết học. Còn Giáo sư Vũ Khiêu xem
việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử
triết học Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam không phải là
lịch sử tư tưởng nói chung càng không phải là lịch sử trong hệ ý thức, mà
cơ bản là lịch sử tư tưởng triết học và những tư tưởng có quan hệ với tư
tưởng triết học.
Bản thân tôi cũng cho rằng Việt Nam có triết học. Nếu như triết học
phương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là
khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc
gắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam
hướng chủ yếu đến vấn đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm
1


là yêu nước. Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế


cho đến nay đã gần năm thế kỉ trôi qua những tư tưởng của ông vẫn còn
nguyên giá trị cho các thế hệ mai sau.
Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giá
trị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh. Trong khi đằng sau những tư
tưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến
bộ. Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữa
các sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư duy
được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng. Khác với triết học
Phương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới. Triết học Việt Nam nói
chung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những tư
tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thể
hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ. Đây là nét đặc sắc của
nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và phát
triển nó.
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện
chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận
văn thạc sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tư tưởng lớn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn,
niềm tự hào của dân tộc ta. Tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu sắc đến các thế
hệ con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp tri thức. Trong lịch sử đã từng có
những công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của ông một cách công
phu và sâu sắc. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh
khiêm đều là sự tập hợp những tác phẩm thơ, văn hoặc sấm mà ông đã viết và
phân tích chúng dưới góc độ văn học nghệ thuật hoặc tư tưởng nhân sinh. Còn
những công trình nghiên cứu mang tính triết học thì ít hơn. Cho đến nay có
một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau.
Nhóm công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp thơ văn của
Nguyễn Bỉnh Khiêm: Đầu tiên đó là cuốn sách Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn

phẩm “Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập”, Nguyễn
khuê, nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh (1997); “Trạng trình sấm và ký”,
4


Nguyên Nghiệp, nhà xuất bản văn hóa thông tin (2004); “Tuyết giang phu
tử”, Trần Tuấn Tiến, nhà xuất bản sân khấu (2011).
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và
tác phẩm của Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh Huyền tuyển chọn và giới
thiệu. Công trình tập trung những bài viết từ trước đến nay của nhiều nhà khoa
học lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp một cách hệ thống và khoa học.
Gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh
Khiêm giữa thế kỉ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng
và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm
thức thế nhân xưa và nay. Những bài viết này bao gồm những lời bình thú vị và
sâu sắc về con người, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nhóm công trình nghiên cứu về triết học có một số công trình nghiên
cứu như sau: Trước hết là cuốn sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý của
Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà xuất bản năm 1957. Cuốn sách là cái nhìn
mới về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các tác giả đã chỉ ra được một số
vấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Trạng Trình mà đến nay nó vẫn
mang nhiều giá trị. Năm 1992 trung tâm Hán Nôm TP. Hồ Chí Minh xuất bản
cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử triết học Việt Nam” do Phan
Văn Các biên soạn cũng là một cách nhìn mang tính triết học về tư tưởng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trong các cuốn sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1
của Nguyễn Tài Thư xuất bản năm 1993 và Lịch sử tư tưởng Việt Nam (văn
tuyển) của Trần Nguyên Việt xuất bản năm 2004, đã đề cập đến những tư
tưởng triết học Việt Nam trong đó có tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ngoài ra còn nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lý,
triết học của Trần Nguyên Việt như: tư tưởng về triết học tự nhiên của

Những tác phẩm cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ
sộ. Do những giới hạn nhất định mà luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi
những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số sáng
tác chủ yếu nhất của ông (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập,
Sấm Trạng Trình và một số bài văn bia).

6


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của triết học Mác –
Lênin. Đó là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử .
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng
như logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, khái quát
hóa, hệ thống... nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích một cách đúng
đắn và khoa học các tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
6. Đóng góp mới của đề tài
Tư tưởng biện chứng là một trong những thành tựu vĩ đại trong tư
tưởng nhân loại. Ở phương Tây tư tưởng triết học mang tính chất duy lí và nó
thường được trình bày một cách rõ ràng, cụ thể. Còn ở phương Đông tư tưởng
triết học lại ẩn đằng sau những tư tưởng về chính trị, xã hội hoặc những tác
phẩm mang tính kinh nghiệm của tác giả. Ở Việt Nam cũng vậy, tư tưởng
biện chứng có từ rất lâu trong ca dao, tục ngữ của người dân lao động, qua tư
tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn...

cách sâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta không thể
không tìm hiểu đôi nét về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam đương
thời.
Nếu như thời Lê Thánh Tông là thời kì hoàng kim của nhà Lê thì cuối
thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kì suy thoái, kéo theo
sự rối ren của tình hình kinh tế, chính trị xã hội với sự tranh chấp quyền lực
của các thế lực phong kiến khác nhau. Trong vòng 24 năm (1503 - 1527) nhà
Lê thay đổi đến sáu ông vua, có người (Quang Trị) ở ngôi đúng được 3 ngày.
Trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị sự mâu thuẫn ngày càng trầm
trọng, chúng luôn gây nên chiến tranh để tranh giành quyền lực và địa vị lẫn
nhau. Bản thân những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê lại
đều là những kẻ bất tài vô hạnh. Xã hội Việt Nam đương thời vô cùng rối ren
và phức tạp “Lê mạt, Trịnh - Nguyễn phân tranh”. Chính điều này đã có sự tác
động sâu sắc đến quá trình nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt, giai
đoạn ông bắt đầu trưởng thành và miệt mài kinh sử Nho giáo với những đạo lí
vua tôi tốt đẹp và mong ước:
“Hà phần phụ cập cộng tòng si (sư)
Khí nghiệp tương tương viễn đại kỳ”
(Ký hữu nhân)
9


Dịch:
“Cắp cặp sách cùng theo học ở đất Hà Phần
Hẹn ước con đường công danh sự nghiệp xa rộng”
(Gửi bạn)
Song đây lại chính là thời kì trị vì của hai ông vua “thối nát” nhất trong
lịch sử phong kiến nước ta mà các sử gia sau này gọi là “nỗi kinh hoàng” của
lịch sử Việt Nam đó là Lê Uy Mục và Lê Tương Dực. Và cũng chính sự “vô
dụng” của hai ông vua này dẫn đến hàng loạt những rối ren binh biến sau đó

nhân công để phục dịch cho sự xa xỉ của vua chúa phong kiến chúng còn bắt
quân lính ở năm phủ phải làm thêm trong mấy năm liền. Tất cả những điều
này làm cho triều chính nhiễu nhương, nhân dân căm hận, đất nước suy yếu
về mọi mặt. Sự xa xỉ vô lối này đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa:
“Thói tà ích hoang dâm lưu lê
Sang thì quen thói kiêu căng,
Giầu thì xa xỉ há rằng một ai.
Sửa sang những tường dài nhà rộng,
Nào kẻ hoa trạm bóng vẽ vời.
Đường đem chát chõa đồ xôi
Sáp đem làm củi đủ mùi xa hoa.
Ăn uống phí tiêu pha lại quá,
Nào khinh cừu, phi mã rủi rong”.
(Bài văn bia quán Trung Tân)
Có lẽ chính lối trị vì thối nát này của những ông “vua quỷ, vua lợn” của
triều Lê mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù đã mang trong mình “một bồ kinh
sách” và tấm lòng “ưu đời ái quốc” sâu sắc nhưng ông không ra thi thố và làm
quan mà chấp nhận ở quê nhà dạy học, trong những áng thơ của ông ta thấy
những nỗi niềm mơ ước về một thời đại “Ước một tôi hiền chúa thánh minh”
nhưng điều đó thật khó trước bối cảnh thời đại bấy giờ.
Chính sự ăn chơi vô độ và sự bạo tàn của Lê Tương Dực nên lên ngôi
được không lâu hắn bị Trịnh Duy Sản giết và lập Quang Trị lúc bấy giờ mới 8
tuổi lên làm vua, Quang Trị lên ngôi chưa kịp đổi niên hiệu thì anh Duy Sản
11


là Duy Mại đưa Quang Trị vào Tây Kinh (Thanh Hóa) và sau đó không lâu thì
bị giết. Nguyễn Hoàng Dụ nghe tin Duy Sản đã giết vua, rút quân trở về để uy
hiếp. Trước tình thế đó Duy Sản lại họp các tôn thất đại thần nhà Lê và lập
một người con trong tôn thất là Ỷ, 14 tuổi lên làm vua, tức là Chiêu Tông

Thăng Long được gọi là Bắc triều. Từ năm 1545, sau khi Nguyễn Kim mất thì
mâu thuẫn giữa Trịnh Kiểm và hai con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và
Nguyễn Hoàng lại nảy sinh. Năm 1558 Nguyễn Hoàng thấy Nguyễn Uông bị
Trịnh Kiểm ám hại bèn biện cớ xin vào Thuận Hóa để giữ mình. Thỉnh cầu đó
được chấp nhận có lẽ cũng vì Trịnh Kiểm muốn Nguyễn Hoàng đi xa để dễ
chuyên quyền hơn. Kể từ đây Nam triều lấy danh nghĩa nhà Lê nhưng thực
quyền lại thuộc họ Trịnh, vua nhà Lê chỉ là bù nhìn. Cuộc nội chiến giữa Nam
triều tức Lê - Trịnh và Bắc triều tức nhà Mạc kéo dài hơn năm thập kỉ. Trước
cảnh triều chính đất nước suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót mà rằng:
“Thái hòa vũ trụ bất Ngu, Chu
Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù.
Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,
Uyên ngư tùng tước vị thùy khu.
Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,
Hậu hoạn tu phòng nhập thất khu.
Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,
Túy ngôn trạch bạn nhậm nhàn du”
(Ngụ ý)
Dịch nghĩa:
“Non sông nào phải buổi bình thời,
Thù đánh nhau chi khéo nực cười.
Cá vực chim rừng ai khiến đuổi,
Núi xương sông máu thảm đầy nơi.
Ngựa phi chắc có lần quay cổ,
Thú dữ nên phòng lúc cắn người
Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa,

13





thương, sĩ thứ đều chung lòng căm hận triều đình. Triều chính bê tha bọn thống
trị đua nhau tranh giành quyền chiếm đoạt ruộng đất xung đột diễn ra liên miên.
Để thỏa mãn cho sự xa hoa trụy lạc chúng tăng cường bóc lột nhân dân nhiều
hơn, mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng trở nên gay gắt.
Dưới ách thống trị thối nát ấy và sự bóc lột cùng kiệt của bọn vua quan, phong
trào nông dân nhanh chóng loang ra rộng rãi khắp nơi. Khắp đất nước các phong
trào đấu tranh của nhân dân diễn ra mạnh mẽ. Chiến tranh cứ thế liên miên, giờ
đây không chỉ là chiến tranh của các tập đoàn phong kiến với nhau mà còn cả
bọn phong kiến thống trị với nhân dân. Đất nước ta như một lò lửa thương loạn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn mà chua chát:
“Chiến tranh hỗ tương tầm
Họa loạn chí thử cực”
(thương loạn)
Dịch nghĩa:
“Chiến tranh cuộc này kéo đến cuộc khác
Hỏa hoạn đến thế này là cùng cực”.
Trên mọi miền của đất nước đâu đâu cũng có chiến tranh, bọn triều
đình tìm mọi cách bắt bớ nhân dân đi lính, đi phu. Những người dân vô tội
chịu cảnh tan đàn sẻ nghé, con thơ nheo nhóc, vợ hiền tủi cực:
“Giáo và mộc tua tủa bay ra trào nước mắt
Nhân dân chốn chạy muốn tìm nơi an toàn
Khốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất”
(Cảm hứng, bài 4)
Trước cảnh tình đất nước Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đau đớn, xót xa.
Ông nhìn thấy hai mâu thuẫn nổi cộm trong xã hội đương thời đó là mâu giữa
bọn thống trị phong kiến với nhau và mâu thuẫn giữa chúng với nhân dân
đang bị bóc lột song mâu thuẫn đó không dễ dàng giải quyết được. Vì vậy,
xuyên suốt những áng thơ văn của ông ta luôn thấy chất chứa một nỗi niềm

Vất vả nghèo khổ, người nông phu than vãn
Đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc”.
(Tăng thử)
16


Hình ảnh “đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc” là hình ảnh có sức tố
cáo mãnh liệt hậu quả của những cuộc chém giết lẫn nhau trong giai đoạn này
đồng thời cũng là hình ảnh mang sức ám ảnh lớn với bản thân Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng như những người đọc. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tái hiện một cách
sâu sắc tình cảnh đất nước ta thế kỉ XVI vào trong thơ, văn của mình, qua đó
còn muốn thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả.
Về tình hình công thương có một số điểm đặc biệt làm cho tình hình
công thương không đến nỗi suy yếu như nông nghiệp bởi sự xa xỉ tiêu pha
của bọn vua chúa và sự ảnh hưởng của việc buôn bán với người Phương Tây.
Tuy nhiên sự phát triển cũng không đáng là bao bởi còn chịu sự chèn ép của
các thế lực phong kiến với thuế má nặng nề đã làm mất hứng thú của sự sản
xuất, chế độ thuế thổ sản lại càng phá hoại lực lượng sản suất. Đời sống nhân
dân khổ cực trăm bề. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
viết rằng: “thuế thổ sản trung thu hà lạm khiến người ta cùng kiệt không nộp
nổi, khốn đốn đến phải bỏ nghề. Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn,
có người vì thuế lụa mà phải hủy khung cửi, thúc thuế gỗ mà người ta bỏ rìu
búa, thu thuế cá mà người ta bỏ lưới chài, thu thuế mật thì bỏ mía, thu thuế
bông chè thì vườn tược bỏ hoang”[15, 14]. Trong thời kì này triều Lê có phát
triển nghề khai mỏ để đúc đồng, đúc tiền, một phần phục vụ cho cuộc sống xa
xỉ của vua chúa, mặt khác để lưu thông buôn bán.Việc buôn bán với nước
ngoài trong thời gian này đã đem đến một số khởi sắc cho nền thương nghiệp.
Tiền tệ lưu thông được dễ dàng, những đô thị cũng mọc lên tập trung một số
phú thương mới nhưng chưa có địa vị quan trọng trong xã hội. Bởi những mối
lợi lớn về ngoại thương là do nhà nước nắm giữ, mặt khác những mại bản

Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”.
(Thơ Nôm, bài 77)
Trước tình cảnh chiến tranh loạn lạc liên miên, đời sống vất vả cực
nhọc, sống chết lúc nào không hay dường như con người ta trở nên ích kỉ hơn,
vụ lợi hơn. Đây cũng chính là kết quả của một xã hội mà triều chính đảo điên,
chiến tranh xâu xé, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Nền kinh tế xã hội đương
thời đã tác động sâu sắc đến tình hình xã hội và chi phối sâu sắc cục diện
18


chính trị của đất nước. Mác và Ănghen đã nói trong bản tuyên ngôn của Đảng
cộng sản “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội (cơ
cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế sinh ra) là hai yếu tố cấu thành cơ sở
lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy” [28, 11]. Vì vậy chính cái
nền kinh tế trì trệ đương thời là cơ sở hạ tầng cho những tư tưởng triết học
thời bấy giờ. Do đó, những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng
sâu sắc của tình hình kinh tế xã hội của thế kỉ XVI đầy biến động.
Trên cơ sở tình hình chính trị - xã hội rối ren và phức tạp của thế kỷ
XVI, ý thức hệ tư tưởng của thời đại cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ. Hoặc
là vì quyền lợi, địa vị, hoặc là vì sức mạnh của đồng tiền, vì ăn chơi dâm dật
dẫn đến khắp nơi trong nước đã xảy ra “chiến tranh hỗ tương tầm”, chém giết,
tàn khốc, vô nhân đạo, Tất cả những cái đó đã phá vỡ cương thường đạo lí
Nho giáo mà thế kỷ XV - thế kỷ toàn thịnh của phong kiến tập trung đã cố
gắng xây dựng. Những người còn giữ được kỉ cương phép tắc, đạo vua tôi còn
rất ít. Nhìn chung thì đại bộ phận đã xu thời, a phụ những kẻ có thế lực nhất
để thời mưu quyền lợi, địa vị, ăn chơi dâm dật, đục khoét nhân dân. Cũng với
thời thế đảo điên, thế lực đồng tiền cũng góp phần làm giảm giá trị thiêng
liêng của đạo đức, lễ nghĩa và trật tự phong kiến. Tất cả như ông khái quát:
“Gió mưa gặp lúc u ám tối tăm
Cương thường ngày một suy sụp lỏng lẻo

kỉ XVI, triều Mạc đã tạo ra được một thời kì ổn định và phát triển của xã hội.
Ngay sử chính thống của triều Lê trên lập trường đối địch với triều Mạc cũng
phải ghi nhận những thành quả mà vương triều Mạc tạo ra từ năm 1532: “Từ
đấy, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có
trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng kiểm soát một
lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là vật của mình. Trong khoảng vài
năm đường xá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường được mùa
to, trong cõi tạm yên” [20, 126]. Đây có thể nói là một xã hội mà cho đến nay
vẫn là điều mơ ước của chúng ta, mà trong bối cảnh xã hội đương thời nhà
Mạc có thể làm được là một điều đáng ghi nhận và trân trọng. Bởi mỗi vương

20


triều ra đời cái cốt yếu là duy trì chế độ cho nhân có cuộc sống ấm no, thanh
bình.
Ngoài ra trong các chính sách đối nội, nhà Mạc nói chung vẫn theo nhà
Lê, song cũng có nhiều thay đổi có ý nghĩa tiến bộ, về ruộng đất, năm 1553
nhà Mạc ban hành chính sách mới quy đinh: ruộng quan và ruộng chùa của
các làng xã, ngoài phần cấp cho binh sĩ, “còn bao nhiêu ruộng sẽ theo số
người trong xã mà chia đồng đều” [10, 280]. Đây là chính sách rất tiến bộ đặc
biệt là so với chế độ quân điền của nhà Lê, nó tôn trọng truyền thống cộng
đồng làng xã hơn và có lợi cho dân chúng hơn. Trong triều Mạc các hoạt động
công thương nghiệp cũng có phần khởi sắc, nhiều chính sách thông thoáng,
thương nhân được đi lại buôn thuận lợi, tiền đúc nhiều, chợ mở nhiều nhất là
các thị trấn ở miền giáp ranh.Nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục,
nhất là nghề gốm sứ phát triển, lò gồm được mở nhiều trong nước nhất là ở
xứ đông và còn phục vụ cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài.
Về văn hóa, triều Mạc đặc biệt quan tâm, tuy trong hoàn cảnh đất nước
khó khăn, chiến tranh liên miên, nhưng triều đình vẫn mở đều các kì thi hội.

tiếp xúc về kinh tế, nhiều tư tưởng văn hóa cũng bắt đầu du nhập vào.
Trong khi đó như ta đã biết từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam
với cơ cấu kinh tế - xã hội, thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng Nho giáo
của nó đã bộc lộ sự trì trệ và bất cập so với xu thế chung của thời đại. Xã hội
Việt bấy giờ đứng ở trạng thái lưỡng nghi, cái mới thì chưa xuất hiện hẳn, cái
cũ thì chưa mất đi hẳn, mọi thứ trở nên xáo trộn không còn cái tôn ti trật tự
vốn có của Khổng Giáo, cương thường đạo lí sụp đổ, nền kinh tế hàng hóa bắt
đầu manh nha, đồng tiền trở thành nguồn sức mạnh to lớn có thể điểu khiển
được cả xã hội. Những bậc Nho sĩ bấy giờ như Nguyễn Bỉnh Khiêm bất lực
trước thời cuộc đảo điên.
Vì vậy trước sự sụp đổ của nhà Lê, nhà Mạc lên thay cũng không tránh
khỏi guồng quay của lịch sử. Mặc dù có nhiều cố gắng, có nhiều tiến bộ trong
buổi đầu khởi nghiệp, tuy nhiên cũng không tìm ra một mô hình mới cho chế
độ phong kiến Việt Nam. Những mâu thuẫn nội tại của chế độ quân chủ theo
mô hình Nho giáo tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chia cắt đất nước và nội
22


chiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bị phá vỡ và đời sống
nhân dân cực khổ. Thiết chế truyền thống dựa trên quan hệ cộng đồng nhà làng - nước bị suy yếu, còn một thiết chế mới xây dựng trên cơ sở phát triển
mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốc
gia lại chưa có điều kiện được hình thành.
Chính những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội trên ảnh hưởng rất sâu
sắc đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sinh ra và lớn lên trong
thời thế này, ông đã chứng kiến cái hiện thực rối ren của xã hội. Trong cuộc
đời dài ngót một thế kỷ, ông đã trải qua bao nhiêu thay đổi, hưng vong cũng
như những người chân chính thời bấy giờ, ông không thể nào đem tài năng
mà xây dựng lại kỷ cương, thời thế. Con đường xuất thế của ông là con đường
tất yếu của những bậc sĩ phu ưu thời mẫn thế trong thời buổi nổi loạn bấy giờ.
Vì vậy, sau 8 năm làm quan, ông lại trở về với cuộc đời thanh bạch chốn

Bảo Tư quận công. Bà nội được truy phong là Chính Phu nhân. Cha là Văn
Đinh, ấm phong tước Thái Bảo Anh quận công, sung chức Thái học sinh (học
sinh Quốc tử giám). Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan,
người làng Yên Tử, huyện Tiên Minh, tỉnh Hải Dương vốn nổi tiếng thông
minh, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tới chức Thượng thư Bộ hộ, là một vị quan
cương chính và hết lòng yêu dân. Vì vậy người đời sau có câu:
Họ Nhữ khai hoa tự Nhữ Lan
Tiếng lừng hai nước động Hoa, Nam
Danh thơm bút sử nào hay biết
Vua ban mỹ tự bút lừng thơm.
Con người tài hoa, đỗ đạt này đã sinh ra người con gái mang tên Nhữ
Thị Thục, chính là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có lẽ khi tìm hiểu về tư
tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là thiếu nếu không nói về người
mẹ tài ba của ông. Chính bà là bước đệm cho những tư tưởng hoài bảo của
Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này. Đó là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi,
thông kinh sử, giỏi văn chương lại tinh thông tướng số. Bà là người phụ nữ
đặc biệt giữa thế kỉ XVI với những ước vọng lớn và tư duy khác biệt. Bà
quyết chí muốn tạo lấy một người con hơn người, nên ngoài hai mươi tuổi
24


vẫn không tìm được người ưng ý. Đến lúc gần 30 tuổi, gặp ông Văn Định, cho
là có tướng sinh quý tử mới chịu lấy. Ngay từ khi sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã là cậu bé khôi ngô tuấn tú, nhanh nhẹn hơn người, cùng với sự giáo dục rất
nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là mẹ ông. Trong sách “Đại Việt sử loại
tiệp lục” của Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân, ghi rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc
nhỏ rất thông minh, lại nhờ sự giáo dục của mẹ, nên lúc bốn tuổi đã thuộc và
hiểu các chính văn kinh truyện. Sự tinh anh của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được
bộc lộ từ rất sớm, chưa đầy năm ông đã biết nói. Theo Phả kí của Vũ Khâm
Lân: “một hôm, vào buổi sáng sớm Văn Định đang bế con trên tay, bỗng thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status