TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT học của HÊRACLIT GIÁ TRỊ và hạn CHẾ - Pdf 40

3

MỞ ĐẦU
Khởi điểm từ thời cổ đại, đến nay, phép biện chứng đã trải qua nhiều giai
đoạn phát triển khác nhau, gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực
tiễn. Tuy nhiên, để đạt đến trình độ rực rỡ, toàn diện, hoàn thiện như phép
biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin thì không thể không kể đến sự
hình thành manh nha của phép biện chứng mộc mạc, chất phác thời cổ đại.
Điều này được thể hiện rõ nét trong triết học Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc cổ
đại và đặc biệt là trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại.
Triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại, trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử
tư tưởng nhân loại, đã khẳng định mình với những đặc trưng rất riêng so với
những trường phái triết học khác trong lịch sử xét trên nhiều phương diện.
Trong đó, phép biện chứng nói chung, tư tưởng biện chứng trong triết học
Hêraclít nói riêng mang một dấu ấn riêng của thời đại, nó đã trở thành một
trong những cơ sở tiền đề quan trọng mà C.Mác, Ph.Ăngghen kế thừa, phát
triển để xây dựng nên phép biện chứng duy vật trong triết học Mác.
Nghiên cứu phép biện chứng trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại nói
chung, tư tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít nói riêng có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong giáo
dục và đào tạo. Nó là cơ sở khoa học cho việc xem xét các sự vật, hiện tượng
đúng hiện thực đang tồn tại, trong mối liên hệ với nhau, trọng trạng thái động
và trong khuynh hướng chung là phát triển.




4

NỘI DUNG
I. ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH

mang tính giai cấp sâu sắc. Các thế giới quan của giai cấp chủ nô, các trí thức
triết học dần dần trở thành các nhà tư tưởng thống trị trong xã hội nô lệ.
Tuy nhiên tất cả những điều đó được thể hiện ở các tư tưởng triết học
thời cổ một cách tự phát, chúng không được các nhà triết học cổ đại ý thức
một cách tự giác. Dưới con mắt của họ triết học ra đời từ nhu cầu hiểu biết
của con người. Lúc đầu họ ngạc nhiên bởi những điều trực tiếp làm họ băn
khoăn, sau đó họ dần dần đặt ra những vấn đề cơ bản hơn, chẳng hạn như về
sự thay đổi vị trí của mặt trăng, mặt trời và các vì sao và cả nguồn gốc vũ trụ.
Quan niệm trên mặc dù thể hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với nhận
thức con người thời cổ, nhưng nó đề cập một khía cạnh sâu sắc về cơ sở nhận
thức luận của việc hình thành triết học cổ đaị Hy Lạp.
Nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất thủ công nghiệp, nông nghiệp,
thương nghiệp và hàng hải ở Hy lạp cổ đại quyết định sự phát sinh và phát
triển của những tri thức về thiên văn, khí tượng, toán học và vật lý học. Chính
sự xuất hiện các tri thức khoa học sơ khai (phát hiện ra lịch, những phát kiến
về toán học của Talet, Pitago. Hình học của Ơclit; vật lý học của Acsimet) đã
tạo điều kiện rất lớn hình thành triết học - tự nhiên. Khoa học lúc đó chưa
phân nghành, các nhà triết học đồng thời là các nhà toán học, vật lý học, thiên
văn học. Như vậy từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại đã gắn với nhu cầu
thực tiễn và gắn liền với khoa học. Chúng làm cho quan niệm thần thoại truyền
thống và các tôn giáo nguyên thuỷ vào thế kỷ VI - V tr.CN đã không còn đáp
ứng và lý giải được các vấn đề thuộc thế giới quan. Những khám phá khoa học
đầu tiên của người cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ và nhân
sinh quan của các tôn giáo và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lý giải
về thế giới xung quanh và cuộc sống của mình, sự quan sát các hiện tượng tự
nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích
chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan
duy vật tự phát và biện chứng sơ khai của triết học Hy lạp cổ đại.





7

chỉ sưu tầm, ghi chép được 130 đoạn. Bởi sau khi phái chủ nô dân chủ thắng
thế, Hêraclit từ chối tham gia hoạt động nhà nước, về sống đơn độc. Trong
thời kỳ này, ông nhờ đền thờ Di-an, bảo quản toàn bộ tác phẩm của mình
nhưng ở đó người ta đã không giữ được để truyền lại cho thế hệ sau. Đó là
những đoạn viết về triết học tự nhiên và những quan niệm bản chất rất khó
hiểu. Vì thế, người đương thời gọi ông là nhà triết học tối nghĩa. Thực ra,
những lời phát biểu của ông đã có chứa đựng những tư tưởng lớn của phép
biện chứng mà bằng con mắt trực quan người ta không thể hiểu được tại sao
cái một và cái nhiều lại thống nhất, cái này vừa lại là nó lại không phải là nó,
cùng một vật vừa tốt lại vừa không tốt, vừa đẹp lại vừa xấu. Nghĩa là tất cả
đều vừa tồn tại vừa không tồn tại. Những tư tưởng biện chứng sơ khai đó của
Hêraclit đã được các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập
triết học macxit đánh giá cao.
Như vậy, với xuất thân từ tầng lớp quý tộc và bộ óc thông minh cùng
niềm say mê đã giúp Hêraclit tập trung được vào việc nghiên cứu khoa học,
đặc biệt là triết học mà nổi bật là tư tưởng biện chứng sơ khai.
1.2. Tiền đề lý luận của sự hình thành tư tưởng biện chứng trong
triết học Hêraclít
Trong giai đoạn cộng sản nguyên thủy, ở Hy Lạp cổ đại, mặc dù chưa có
triết học nhưng đã có những mầm mống của những tư tưởng triết học thể hiện
trong văn học dân gian, trong thần thoại, tín ngưỡng và diễn ra sự phân công
lao động trí óc và lao động chân tay. Triết học ra đời phải có những điều kiện
tất yếu về mặt xã hội và mặt tư duy. Xã hội chiếm hữu nô lệ hình thành những
điều kiện khách quan cần thiết cho sự ra đời của triết học. Với tư cách là hệ
thống những quan điểm của con người về thế giới, chỉ thực sự ra dời vào
khoảng thế kỷ VI tr.CN khi chế độ chiếm hữu nô lệ đã được xác lập và ổn

Cập cổ đại, triết học ở Babilon đã hình thành và phát triển từ quan niệm duy
vật và vô thần. Như vậy, triết học Ai Cập và Babilon có ảnh hưởng tích cực
tới sự phát triển của triết học khoa học ở Hy Lạp cổ đại. Quá trình hình thành
và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại cũng phản ánh cuộc đấu tranh giữa


9

tri thức khoa học và mê tín, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tôn
giáo. Đó là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tinh thần, tư tưởng trong xã
hội chiếm hữu nô lệ của Hy lạp, cuộc đấu tranh gay gắt nhất trong lĩnh vực
này là cuộc đấu tranh trường kỳ giữa hai phái: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm. Cuộc đấu tranh này phản ánh khá trung thực cuộc đấu tranh giữa 2
tầng lớp trong giai cấp chủ nô: phái chủ nô qúy tộc gồm những người chủ nô
là chủ ruộng đất - đại biểu cho xu hướng phản tiến bộ, phản động, bảo vệ mê
tín, muốn duy trì thiết lập chế độ độc tài chuyên chế trong xã hội Hy lạp cổ
đại và phái dân chủ chủ nô gồm những chủ nô là công thương, đại biểu cho
xu hướng tiến bộ của lịch sử, ra sức xây dựng một chế độ cộng hòa dân chủ
(tất nhiên là dân chủ cho chủ nô) có tác động tích cực tới việc phát triển lực
lượng sản xuất. Vì thế có thể nói: Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, chủ
nghĩa duy vật là hệ thống quan niệm triết học của phái dân chủ chủ nô, còn
chủ nghĩa duy tâm thường là những quan niệm triết học của phái chủ nô quý
tộc phản động.
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại ngày nay từ khi ra đời đã gắn liền với
thực tiễn, gắn liền với khoa học tự nhiên và nhu cầu phát triển của tự nhiên.
Xuất hiện trong điều kiện các tri thức khoa học sơ khai, triết học Hy Lạp cổ
đại đã có mầm mống của tất cả các kiểu thế giới quan sau này. Và trong điều
kiện còn rất hạn chế đó, các nhà triết học có xu hướng tiến bộ của Hy Lạp
cũng đã có những đóng góp nhất định trong lịch sử triết học trong đó có tư
tưởng biện chứng sơ khai của nhà triết học Hêraclít.

khí và ngược lại. Như vậy là từ lửa và do tác động của lửa mà vật chất chuyển
hóa thành các thể hơi, thể lỏng, thể rắn và các dạng vật chất ấy lại chuyển hóa
theo con đường ngược lại, quay về với lửa.
Theo Hêraclít, tùy thuộc theo nhiệt độ của lửa mà mọi vật có thể chuyển
hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hai cấp độ, còn gọi là theo hai
con đường: “Con đường đi xuống” (chính là sự phát sinh ra vũ trụ từ lửa)
đồng thời là “sự thiếu hụt lửa” được chuyển hóa theo trật tự: thể hơi (không
1

PTS Đinh Ngọc Thạch, Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 37.


11

khí) - thể lỏng (nước) - thể rắn (đất). Nhưng “con đường đường đi xuống” đó
phải được bù đắp bằng “con đường đi lên” (chính là quá trình tất thảy vũ trụ
biến thành lửa bởi một đám cháy trên quy mô toàn vũ trụ) được chuyển hóa
theo trật tự: lửa - thể rắn (đất) - thể lỏng (nước) - thể hơi (không khí).
Lửa là bản chất của mọi sự vật, của trạng thái vật chất, lửa tác động vào
sự chuyển hóa của vật chát từ trạng thái này sang trại thái khác theo hai con
đường nói trên. Lửa của Hêraclít không phải là hiện tượng tự nhiên, tự phát
xa lạ vói logos, không tuân thủ một độ nào, không phải là một lực lượng
không được điều hành nào đó, không biết mình sáng tạo ra gì.
Toàn bộ thế giới theo cách gọi của Hêraclít là vũ trụ, đều tồn tại ở ngoài
ý thức của con người, đều là sản phẩm biến đổi của lửa. Vũ trụ không phải do
một lực lượng siêu nhân thần bí nào sáng tạo ra, mà nó “mãi mãi đã, đang và
sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi” hay vũ trụ
này là một đối với mọi cái hiện tồn, không do thần nào, người nào tạo dựng,
mà mãi mãi, đã đang và sẽ là ngọn lửa sống vĩnh cửu, bốc cháy và tắt đi theo
“độ”. Như vậy, vũ trụ theo ông là không do ai sáng tạo ra, mà là ngọn lửa

bất biến loại trừ bản thân sự chảy và sự biến đổi. Với luận điểm này của
Hêraclít, Hêghen nhận xét: “Khi nói rằng mọi cái đang trôi đi, Hêraclít coi
sinh thành là phạm trù cơ bản của mọi tồn tại”2.
Bên cạnh quan niệm về dòng sông luôn đổi mới thường xuyên và liên
tục. Hêraclít cũng khẳng định rằng mặt trời cũng mỗi ngày một mới. Theo
ông, vạn vật trong vũ trụ không có gì là ổn định và bất biến hơn là dòng sông
luôn chảy và mặt trời luôn chiếu sáng. Tức là sự đứng im cũng là một tính
biến đổi của dòng sông, nhờ cái sự đứng im đó mà là dòng sông là ổn định,
xác định và bất biến. Điều này như chính chúng ta có thể nói, sự vận động là
cái mà nhờ đó mà dòng sông là không xác định, biến đổi và bất ổn định, trong
sự đứng im và tính bất ổn của dòng sông, không loại trừ sự vận động (hay
chính là dừng chảy) của dòng sông. Với Hêraclít, khi biến đổi, nó đứng im
(nghỉ ngơi), nếu ngược lại “nó đứng im (nghỉ ngơi), nó biến đổi”. Hình ảnh
2

Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, Nxb. Tư tưởng, Mátxcơva, 1955, tr.48.


13

dòng sông của Hêraclít gắn liền với một nội dung triết học trừu tượng, hình
ảnh nghĩa đó là một ý niệm triết học, là cái được suy từ đoạn trích khi ông so
sánh dòng sông với cuộc sống con người: “chúng ta lội xuống và không lội
xuống cùng một dòng sông; chúng ta tồn tại và không tồn tại”. Với ông mọi
sự vật, hiện tượng đều thay đổi “đều chảy như nó chảy trong dòng sông”. Như
vậy, có thể nói rằng trong ta mọi thứ đều là biến đổi và không có cái gì là ổn
định và bất biến.
2.1.3. Tư tưởng biện chứng về sự thống nhất của lôgíc khách quan và
lôgíc chủ quan
Trong tư tưởng biện chứng của mình, Hêraclít khẳng định rằng, chuẩn

những người mà trong tâm hồn có yếu tố lửa (“ánh sáng khô”) chiếm ưu thế
đối với các yếu tố ẩm ướt, logos lửa của thế giới sự vật là không có sự khác
biệt về chất. Nếu logos của tâm hồn con người và logos của thế giới sự vật
giống nhau, trùng hợp nhau, nếu logos chủ quan của người tốt nhất một cách
nào đó là đồng nhất với logos khách quan của các sự vật thì từ đó suy ra rằng
có thể bằng con đường tự nhận thức “tôi nghiên cứu bản thân mình”. Bằng sự
nỗ lực của chính bản thân là cái duy nhất tạo ra thành phẩm, công lao (asete)
cá nhân và nhận thức được logos của thế giới bên ngoài. Việc tự nhận thức sẽ
đưa con người từ thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài và cũng từ đó tâm hồn
con người sẽ ngày một phong phú, mở rộng hơn. Logos tự phát triển là vốn có
ở tâm hồn. Mặt khác, sau khi có quan hệ với thế giới bên ngoài, con người sẽ
hít vào mình logos thần thánh và chúng ta trở nên có “lý tính”. Vì logos của
tâm hồn con người (chủ quan) và logos của thế giới (khách quan) đồng nhất
trong sự khác biệt, tạo nê sự thống nhất của cái bên trong và cái bên ngoài mà
cả hai phương thức (bằng con đường tự nhận thức và hít vào logos của thế
giới) khiến chúng ta trở nên lý tính không loại trừ nhau mà phụ thuộc và giả
định lẫn nhau. Trong quan niệm về logos chủ quan, Hêraclít coi một cái gọi là
sinh động và phát triển nội tại luôn có mối liên hệ khăng khít với logos khách
quan, chứ không phải một cách đứng im nghĩa là logos thế giới con người
(logos chủ quan) phải phù hợp với logos thế giới (logos khách quan), mặc dù


15

sự phù hợp ấy diễn ra không phải thường xuyên, liên tục và nó biểu hiện ở
từng người khác nhau. Từ đó, khi đánh giá về biểu hiện của logic khách quan
ở con người nhận thấy: “Người nào càng tiếp cận được với logos khách quan
bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu”, tức là nhờ tính tích cực này thì con
người mới có thể có lối thoát khỏi thế giới sự vật bên ngoài. Khi cảm thấy
trong mình có logos sáng tạo (“tự phát triển”, “tự nhân mình lên”) và thông

đồng” với nhau. Theo Hêraclít có những sự thật hiển nhiên, hết sức rõ ràng
mà ai cũng biết như ngày và đêm, thiện và ác; hòa bình và đấu tranh… song
giống như mọi sự đối lập khác chúng tạo thành một chỉnh thể thì lại là điều
không phải ai cũng biết.
Như vậy, ở đây Hêraclít mới chỉ nêu ra các ví dụ từ hiện thực cuộc sống
để so sánh, minh hoạ các mặt đối lập và sự thống nhất của các mặt đối lập.
Còn những khái niệm: mặt đối lập, khái niệm đồng nhất, khái niệm mâu thuẫn
thì ông chưa đi tới rõ ràng.
Không chỉ cho rằng các mặt đối lập tồn tại khách quan trong mỗi sự vật,
hiện tượng, Hêraclít còn thấy được rằng, trong sự thống nhất của các mặt đối
lập, các mặt đối lập còn có mối quan hệ giả định lẫn nhau và không thể có
được nếu thiếu nhau. Chúng là điều kiện cho nhau tồn tại, sự tồn tại của mặt
này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề, chúng tồn tại thông qua nhau.
Hêraclít còn cho rằng các mặt đối lập giả định lẫn nhau và không thể có
được nếu thiếu nhau. Ông cũng đưa ra ví dụ minh họa: không thể quý sức
khỏe nếu không biết mặt đối lập của nó là bệnh tật “bệnh tật làm cho sức khỏe
trở nên quý giá và ngọt ngào, đói - no, mệt mỏi - nghỉ ngơi”.
Hêraclít cho rằng trong vũ trụ bao hàm sự đa dạng của các sự vật thì
tính tương đối các thuộc tính của sự vật cần phải được xét trong mối quan hệ
của nó. Các thuộc tính của sự vật trực tiếp đối lập với nhau tùy thuộc vào
công việc của chúng có quan hệ với chất nào, vật nào. Ông nói: “Con vượn
đẹp nhất nhưng xấu xí so với loài người. Con người sáng suốt nhất nhưng
cũng chỉ là con vượn so với thượng đế xét về sự anh minh, sắc đẹp và về
mọi thứ khác”.


17

Thứ hai, mỗi sự vật, hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua các
trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với nó.

gồm một số mặt đối lập, thừa nhận sự thống nhất cuả các mặt đối lập. Tuy
nhiên sự thống nhất của các mặt đối lập, sự hài hoà hoàn toàn loại trừ sự đấu
tranh, theo đó sự hài hoà là bất biến không đổi mới. Họ cho rằng không phải
là sự đấu tranh tạo ra sự hài hoà mà do sự thiếu hụt của mặt đối lập tạo ra sự
hài hoà,vũ trụ là sự hoà bình, hoà hợp. Hêraclít khẳng định: ở đâu không có
sự khác biệt thì không có sự thống nhất, không có sự bất hoà thì không có gì
phải hoà hợp.
Trên quan điểm về sự thống nhất (hài hoà) và đấu tranh của các mặt đối
lập, Hêraclít đã có những quan điểm về con người, xã hội. Con người theo
Hêraclít là một thực thể gồm phần thể xác và linh hồn. Trong phần linh hồn
của con người được cấu thành từ yếu tố lửa (năng động), mỗi linh hồn đều có
phần “ẩm ướt” và phần “khô ráo”. “Ẩm ướt” và “khô ráo” là hai mặt đối lập
thống nhất trong linh hồn của con người. Nếu trong linh hồn của một người
nào đó yếu tố “khô ráo” chiếm ưu thế thì người đó sẽ có được trí tuệ thông
minh, sẽ dễ dàng hiểu được cái Logos - quy luật của thế giới.
Xã hội trong quan niệm của Hêraclít cũng chứa đựng những mặt đối lập,
những mặt trái ngược nhau và do đó xã hội vận động theo xu thế đấu tranh,
bài trừ của các mặt đối lập. Ông cho rằng trong xã hội con người sẽ không
cảm thấy tốt hơn nếu mọi ý nguyện của mình trở thành hiện thực. Cũng trên
quan điểm đó Hêraclít diễn đạt tư tưởng của ông về “chiến tranh”; “chiến
tranh là cha đẻ của mọi thứ, là hoàng đế của mọi thứ. Chiến tranh có thể biến
một số người thành thần thánh, số khác là người, nó biến một số người thành
nô lệ, số khác là người tự do”. Chiến tranh tạo ra một trật tự hài hoà mới.
Có thể nói rằng trong tư tưởng của Hêraclít về thống nhất (hài hoà) và
các mặt đối lập, ông đã làm nổi rõ những quan điểm sau: thống nhất là sự hoà
hợp của cái bất đồng của các mặt đối lập; trong quá trình biến đổi của sự vật
đều trải qua các trạng thái đối lập và chuyển hoá thành các mặt đối lập. Đấu
tranh của các mặt là phổ biến, là điều kiện của tồn tại. Với Hêraclít thế giới là





20

sáng suốt của trí tuệ. Sự sáng suốt của trí tuệ không phải là một cái gì thần bí
mà nó là cái logos vốn có ở mỗi con người, là năng lực nhận thức độc lập của
con người về bản chất của các sự vật, hiện tượng mà họ đang quan sát chiêm
nghiệm. Sự sáng suốt của trí tuệ đó có khả năng nhận thức được tính thống
nhất của vũ trụ, nhận thức được sự thống nhất của các mặt đối lập, nhận thức
được logos của vũ trụ.
Với quan niệm đó, Hêraclít coi sự sáng suốt của trí tuệ, cái logos chủ
quan, sự thông thái của con người cũng là đối tượng của nhận thức lý tính.
Hêraclít đã chỉ ra những đặc trưng của cái logos chủ quan đó là: tính khách
quan, tính vĩnh hằng, là quy luật bất biến, là cái linh hồn vốn có tự nó phát
triển. Chính do tính chất khách quan, do cái phổ biến nên nó có ở mọi người
và là cái có thể nhận thức, và một khi con người nhận thức được nó con người
sẽ trở nên thông thái.
Nét độc đáo trong quan niệm của Hêraclít đó là đã coi logos chủ quan
cũng là đối tượng của nhận thức, của con người. Song sự khác biệt của
Hêraclít so với các nhà triết học đương thời còn ở chỗ ông luôn coi tự nhiên
mới là đối tượng của nhận thức, nhận thức của thế giới phải là cái nhận thức
được cái Logos khách quan.
Ưu điểm lớn nhất của trí tuệ là nói lên được chân lý và hành động theo
tự nhiên, nghe theo tiếng nói của tự nhiên. Song không phải ai cũng nhận thức
được thế giới tự nhiên, không phải ai cũng nhận thức được Logos khách quan
của thế giới, bởi lẽ “tự nhiên yêu thích sự ẩn dấu mình”. Chỉ có những người
có trí tuệ “sáng sủa” nhất, có “linh hồn khô ráo” nhất mới có thể nhận thức
được cái Logos khách quan của tự nhiên. Và để có được sự nhận thức đúng
đắn này thì nhận thức của con người kể cả những người có trí tuệ anh minh
nhất phải bắt đầu từ nhận thức cảm tính, “bởi mắt và tai là những người thầy

nghiên cứu này nhiều nhà triết học đã nhận thức được và phát hiện ra nhiều
yếu tố của phép biện chứng như mối liên hệ giữa các hiện tượng và sự vật, sự
vận động vĩnh viễn của vật chất; tính thống nhất của những mặt đối lập của sự
vật… Những yếu tố biện chứng đó chính là sự phỏng đoán thiên tài về những


22

nguyên lý và quy luật của phép biện chứng mà C.Mác, Ph.Ănghen gọi là phép
biện chứng tự phát, ngây thơ.
Có thể nhận xét chung rằng, trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử nhân
loại với cách nhìn biện chứng về thế giới thì trên phương diện thế giới quan,
các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, tư tưởng biện chứng trong triết học
Hêraclít đã vượt bỏ những ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại và tôn giáo,
đem lại cho loài người một phương pháp tư duy mới - tư duy triết học. Tư
tưởng biện chứng trong triết học của ông đã mở đầu cho sự phát triển những
tư tưởng biện chứng phương Tây, là những viên đá tảng tạo tiền đề cho sự
phát triển tư tưởng biện chứng trong triết học sau này.
Mặc khác, với phương pháp tư duy độc đáo của mình, với cách nhìn biện
chứng, mà hình thức đầu tiên là nhìn nhận thế giới trong sự thống nhất,
Hêraclít đã truy tìm nguồn gốc của thế giới, tính thống nhất của thế giới từ
một dạng vật chất cụ thể. Hêraclít là người đầu tiên trình bày quy luật thống
nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập. Trong đó, ông cho rằng thế
giới là một chỉnh thể thống nhất tuyệt đẹp bao gồm các mặt đối lập. Hơn thế
nữa, ông còn khẳng định được rằng đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật
phổ biến của thế giới, là điều kiện để tồn tại. Nhận thức thế giới là nhận thức
quy luật thống nhất ( hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập. Trong “Bút ký
triết học”, V.I.Lênin đã đánh giá rằng, tư tưởng này của ông khiến nhà triết
học lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại là Arixtốt phải nát óc “đấu tranh” lại.
Ông cũng là người đưa ra khái niệm logos chủ quan và logos khách quan,



24

KẾT LUẬN
Nghiên cứu tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít chúng ta có
thể kết luận rằng ông là nhà triết học duy vật có nhiều yếu tố biện chứng ngây
thơ, chất phát có giá trị lớn trong lịch sử triết học của nhân loại. Tư tưởng
biện chứng của ông là hình thức đầu tiên của lịch sử phép biện chứng, nó đã
đưa ra nhiều quan niệm có tính trực quan và biện chứng chất phát về sự vận
động và phát triển của vạn vật. Mặc dù chưa đạt tới mức là một hệ thống các
nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng nhưng về cơ bản những
phỏng đoán về tính biện chứng của Hêraclít đã giữ vai trò là người đặt nền
tảng đầu tiên cho lý luận biện chứng. Khi nói về giá trị tư tưởng biện chứng
của ông, Ph.Ăngghen đã coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy
Lạp cổ đại. Ph.Ăngghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy,
ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của nhà triết học Hy Lạp
thời cổ, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Hê-ra-clít:
mọi vật tồn tại, nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi
vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn luôn ở trong quá trình xuất
hiện và biến đi”3.
Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng ở nước ta đã chứng minh rằng,
chỉ khi nào chúng ta nhận thức và nắm vững phép biện chứng cũng như lịch
sử phát triển của nó và biết cách vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp trong
điều kiện hoàn cảnh cụ thể như Hồ Chí Minh nói: “Dĩ bất biến, ứng vạn bất
biến” thì khi đó con người mới có thể hoàn thiện bản thân, cải tạo tự nhiên,
biến đổi xã hội theo hướng có lợi cho mình. Muốn làm được điều đó đòi hỏi
phải nắm rõ bản chất của từng vấn đề khi áp dụng vào thực tiễn. Do đó, mỗi
chúng ta cần phải tích cực học tập, rèn luyện và nghiên cứu ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường. Có như vậy, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ trẻ đi

chung chung, hời hợt, phiến diện một chiều dẫn đến phê phán thiếu cơ sơ
khoa học. Tư duy của những người làm công tác sư phạm đòi hỏi có sự mô
phạm một cách khái quát, chính xác đánh giá một cách công bằng đối với
từng giai đoạn lịch sử, tạo sức hút cho người học sau này.
Nghiên cứu triết học Hêraclit nói chung, tư tưởng biện chứng nói riêng
phải thấy được vai trò của tư tưởng biện chứng trong sự phát triển tư duy sư


26

phạm. Trong giảng dạy và học tập muốn có một phán đoán đúng, một kết luận
chính xác thì phải đi tìm đủ các căn cứ, thông tin tài liệu, các dữ liệu khoa học
và có khả năng khái quát tình hình thực tiễn tốt, phải đặt những vấn đề nhận
thức trong mối quan hệ thống nhất với hiện thực. Người giảng viên sau này
muốn tư duy đúng phải có phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng,
tư duy lôgíc. Làm được điều đó người học phải tăng cường tích luỹ tri thức,
kinh nghiệm, có khả năng phán đoán cao, khả năng tưu duy trừu tượng lớn, có
cách nhìn, cách tổng hợp, khái quát hoá gắn lý luận vào thực tiễn sinh động.
Chính từ ý nghĩa đó người học, người làm công tác giảng dạy sau này để có
khả năng tư duy khoa học, tư duy biện chứng cao phải có quá trình tích luỹ
kiến thức, thông qua các giai đoạn nhận thức, chống tư tưởng nóng vội đốt
cháy giai đoạn, tăng cường học hỏi, tích luỹ kiến thức khoa học của nhận loại,
tính luỹ kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy là con đường đúng đắn nhất để
cũng cố, hoàn thiện phương pháp tư duy khoa học nâng cao chất lượng giảng
dạy sau này.
  


27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status