Cải thiện chỉ số đào tạo lao động trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh quảng nam - Pdf 50

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐỖ HOÀNG TUẤN

CẢI THIỆN CHỈ SỐ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG
TRONG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
(PCI) CỦA TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05

Người hướng dẫn khoa học: TS. Ninh Thị Thu Thủy

Đà Nẵng, Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là thực tế, trung thực và khách
quan. Kết quả nghiên cứu không sao chép với bất kỳ luận văn nào và chưa
được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước
đây.
Tác giả luận văn

Đỗ Hoàng Tuấn


MỤC LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
BẢN SAO HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN


HH

Hiện hành



Lao động

NLCT

Năng lực cạnh tranh

N-L-TS

Nông – Lâm – Thủy sản

PCI

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

QL

Quốc lộ

TM-DV

Thương mại – Dịch vụ

THCS

2.5.
2.6.

Tên bảng

Trang

Các chỉ số thành phần cấu thành PCI năm 2005
Chỉ số đào tạo lao động qua các năm ở một số tỉnh/thành

12

phố thuộc miền trung
Chỉ số đào tạo lao động năm 2017 ở một số tỉnh/thành phố
Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam
giai đoạn 2006-2010
Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2011-2016
Biến động dân số tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2005 – 2016
Điểm số PCI tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2007 – 2017
So sánh các chỉ số thành phần PCI năm 2017 và năm 2016
Điểm số Chỉ số đào tạo lao động tỉnh Quảng Nam giai đoạn

2.7.

2007-2017
So sánh thứ hạng Chỉ số đào tạo lao động và chỉ số PCI
Đánh giá của doanh nghiệp về công tác đào tạo nghề và

2.8.

74
76


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
2.1.

Tên hình
Điểm số PCI tỉnh Quảng Nam qua các năm

Trang
43


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, các địa phương của Việt Nam
ngày càng có xu hướng phát triển kinh tế nhanh chóng, đóng góp tích cực vào
sự phát triển kinh tế - xã hội chung của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển
giữa các địa phương lại không đều, có địa phương phát triển nhanh, có địa
phương phát triển chậm. Qua theo dõi, chúng ta thấy rằng sự phát triển kinh tế
nhanh hay chậm của mỗi địa phương không chỉ phụ thuộc vào vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào năng lực điều hành kinh tế của chính
quyền địa phương.
Với lý do đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng với
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã xây dựng và công bố Bộ Chỉ

với nhiều hình thức, cấp bậc đào tạo. Vì vậy nên đây là vấn đề cần được
nghiên cứu chi tiết, rõ ràng hơn.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn như trên nên tôi đã
quyết định chọn đề tài “CẢI THIỆN CHỈ SỐ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG
TRONG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH
QUẢNG NAM” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng Chỉ số đào tạo lao động và các hoạt
động cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh Quảng Nam trong những năm
qua từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của
tỉnh Quảng Nam trong những năm đến.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn về Chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh và Chỉ số đào tạo lao động.


9

- Phân tích, đánh giá thực trạng Chỉ số đào tạo lao động và các hoạt
động cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh Quảng Nam.
- Đề ra các định hướng và giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số đào tạo lao
động của tỉnh Quảng Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Chỉ số đào tạo lao động là gì? Các thành phần của Chỉ số đào tạo lao
động?
- Đánh giá của các doanh nghiệp và của các cơ quan quản lý nhà nước
trên địa bàn về Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh Quảng Nam như thế nào?
- Tỉnh Quảng Nam đã có những hoạt động nào để cải thiện Chỉ số đào
tạo lao động? Kết quả đạt được ra sao? Còn những hạn chế gì?

Quảng Nam. Trong giới hạn đó, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau:
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống: sử dụng để nghiên cứu
vai trò của chính quyền địa phương và các chỉ số, tiêu chí, nhân tố ảnh hưởng
đến Chỉ số đào tạo lao động.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp: sử dụng để phân
tích, đánh giá thực trạng Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh Quảng Nam, đưa ra
các giải pháp liên quan nhằm cải thiện Chỉ số đào tạo lao động.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu mối liên hệ giữa các thành phần cấu thành cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện Chỉ số đào tạo lao động, từ đó giúp
các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương hiểu rõ hơn về tầm quan trọng
của các yếu tố này trong bối cảnh điều kiện hiện tại của tỉnh Quảng Nam.
- Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần, ảnh hưởng
giữa các yếu tố đó trong điều kiện của tỉnh Quảng Nam, tác giả sẽ đề xuất một


11

số giải pháp nhằm cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh trong thời gian
tới.
- Đề tài này nghiên cứu độc lập không bị phụ thuộc hay tác động bởi
một cá nhân hay tổ chức nào khác nên sẽ có cái nhìn và đánh giá khách quan
đến tình hình đào tạo lao động của các doanh nghiệp cũng như chính sách của
chính quyền địa phương đối với hoạt động đào tạo lao động, hỗ trợ đào tạo
lao động nâng cao tay nghề hay các chính sách liên quan đến hoạt động này
của chính quyền địa phương.
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nói chung và Chỉ số
đào tạo lao động nói riêng đã được thực hiện ở một số địa phương. Tuy nhiên

hỗ trợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một điểm đáng quan ngại là sự “dậm chân
tại chỗ” của các lĩnh vực Tính minh bạch và Thiết chế pháp lý.
7.2. Đề tài Khoa học và Công nghệ của Sở Khoa học và Công nghệ,
UBND tỉnh Quảng Ngãi “Điều tra khảo sát đánh giá thực trạng, đề xuất
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Quảng
Ngãi” của tác giả PGS.TS Nguyễn Trường Sơn (2009).
Dựa trên cách tiếp cận PCI do VNCI/VNCI tổ chức, nghiên cứu này đã
tiến hành khảo sát đánh giá cảm nhận của các doanh nghiệp dân doanh về môi
trường kinh doanh của tỉnh Quảng Ngãi với mẫu điều tra có tính đại diện cao
(khảo sát 625 doanh nghiệp dân doanh từ đó chọn 300 phiếu khảo sát đạt yêu
cầu cao nhất làm dữ liệu cơ bản tính toán PCI. Mẫu điều tra có kích thướcc
lớn gấp 3 lần so với mẫu điều tra của VCCI với bình quân 121 doanh
nghiệp/tỉnh); kết hợp với phân tích dựa trên các dữ liệu thứ cấp từ đó rút ra
các kết luận đúng hơn về ưu điểm và đặc biệt là những hạn chế trong hệ thống
cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính… nhằm nâng cao NLCT cấp tỉnh tại
Quảng Ngãi trong thời gian tới.


13

7.3. Báo cáo Khoa học “Nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố Đà
Nẵng giai đoạn 2010-2020” của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã
hội Đà Nẵng, chủ nhiệm đề tài TS. Võ Thị Thúy Anh (2011).
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh quốc gia,
năng lực cạnh tranh địa phương (vùng) và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Đặc biệt, nhóm tác giả đã phát triển khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và
xây dựng phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đề tài đánh giá
NLCT cấp tỉnh dựa vào việc đánh giá các yếu tố cấu thành năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh và các phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp các chủ thể, cá
nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh, phương pháp thống kê mô tả, phương

bộ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
- Chương 2. Thực trạng cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh
Quảng Nam trong thời gian qua.
- Chương 3. Giải pháp cải thiện Chỉ số đào tạo lao động của tỉnh
Quảng Nam.


15

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI THIỆN CHỈ SỐ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG
TRONG BỘ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI)
1.1. CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) VÀ CHỈ SỐ
ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG
1.1.1. Cạnh tranh cấp tỉnh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
a. Cạnh tranh cấp tỉnh
Xét theo cấp độ cạnh tranh thì cạnh tranh được phân loại thành cạnh
tranh cấp quốc gia, cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cạnh tranh cấp sản phẩm
(Nguyễn Viết Lâm, 2014). Bên cạnh đó, trong phạm vi của một quốc gia cũng
xuất hiện sự ganh đua giữa các tỉnh, vùng hay địa phương mà ở Việt Nam là
một đặc thù, gọi là cạnh tranh cấp tỉnh. Theo đó, cạnh tranh cấp tỉnh là một
đặc thù của Việt Nam với những đặcđiểm tương đồng với cạnh tranh quốc gia
về mục tiêu và phương thức cạnh tranh, được thể hiện là sự ganh đua giữa các
quốc gia, tỉnh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả nhằm thu hút
đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia, tỉnhđó. Cạnh tranh cấp tỉnh, nếu phân tích theo quan điểm tổng thể
thì chú trọng vào môi trường kinh tế cấp tỉnh và thể hiện vai trò của chính
quyền cấp tỉnh. Cạnh tranh cấp tỉnh gắn với phân cấp ngày càng rộng hơn cho
chính quyền cấp tỉnh và xu hướng phi tập trung hóa trong quản lý kinh tế,
quản lý đầu tư.

Cạnh tranh ở cấp độ quốc gia là cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư phát
triển kinh tế xã hội và cũng là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt hơn, đa dạng
hơn trong khi đó cạnh tranh giữa các địa phương (cạnh tranh vùng) thì có tính
mềm dẻo linh hoạt hơn. Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút
đầu tư để phát triển kinh tế xã hội thông qua những lợi thế cạnh tranh mà địa
phương đó có được như cơ sở hạ tầng, con người, vị trí địa lý, những chính


17

sách ưu đãi thu hút đầu tư của từng địa phương… Đồng thời trong sự ganh
đua của từng địa phương thì có sự hợp tác cùng phát triển dựa trên những lợi
thế sẵn có của mỗi địa phương để bổ sung cho nhau, việc liên kết hợp tác này
nhằm xóa bỏ giới hạn hành chính và phân chia nguồn lực đầu vào nhằm bổ
sung cho nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của các
tỉnh.
Theo quan điểm hiện nay cho rằng Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả
năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút nguồn đầu tư phát triển kinh tế xã
hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với địa
phương khác trong phạm vi quốc gia (Phan Nhật Thanh, 2011).
Hiện nay chính quyền cấp tỉnh được phân cấp và phân quyền rất mạnh
mẽ, chính quyền trung ương ngày càng tăng cường việc giao quyền quản lý
điều hành kinh tế cho chính quyền cấp tỉnh vì vậy chính quyền cấp tỉnh luôn
luôn được chủ động thực hiện các chính sách nhằm thu hút sự phát triển kinh
tế xã hội của địa phương do mình quản lý. Vì vậy chính quyền tỉnh có vai trò
cực kỳ quan trọng trong công tác điều hành quản lý nền kinh tế của địa
phương. Chính quyền địa phương có vai trò chính là tạo môi trường thuận lợi
nhằm thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để nâng cao đời sống kinh
tế xã hội dân trí trên địa bàn tỉnh. Chính quyền tỉnh là nơi định hướng, hoạch
định chiến lược phát triển địa phương thông qua các chương trình, đề án,

Bảng 1.1: Các chỉ số thành phần cấu thành PCI năm 2005
STT

Các chỉ số thành phần cấu thành nên PCI năm 2005

1

Chi phi gia nhập thị trường

2

Tiếp cận đất đai

3

Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

4

Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

5

Chi phí không chính thức

6

Thực hiện chính sách nhà nước



1.1.4. Chỉ số đào tạo lao động trong Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh
Chỉ số đào tạo lao động là một trong 10 chỉ số thành phần cấu tạo thành
Chỉ số PCI của Việt Nam. Chỉ số thành phần này phản ánh mức độ và chất
lượng hoạt động đào tạo nghề và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai nhằm
hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm
cho lao động địa phương. Chỉ số đào tạo lao động được đưa vào làm chỉ số
đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam từ năm 2006 – ngoài ra


20

Chỉ số đào tạo lao động ở một số năm còn có tên gọi khác là chất lượng đào
tạo lao động nhưng nội dung của các chỉ tiêu đánh giá thì không có nhiều sự
thay đổi vẫn đảm bảo tính nhất quán qua các năm đánh giá năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh của VCCI.
Đây là chỉ số thành phần nhằm đánh giá đào tạo nghề và phát triển kỹ
năng của người lao động. Gồm các chỉ tiêu đo lường các nỗ lực của lãnh đạo
tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các
ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm.
Chỉ tiêu này cho phép đo trực tiếp các chi phí doanh nghiệp tại địa phương
phải bỏ ra để nâng cao năng kỹ năng nghiệp vụ cho lao động do mặt bằng
chất lượng lao động thấp. Cùng với đất đai, lao động là một yếu tố sản xuất
quan trọng. Hàng năm các tỉnh đều phải đương đầu với một áp lực không nhỏ
là giải quyết công ăn việc làm cho người dân có nhu cầu tìm kiếm việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp trong dân cư. Tuy nhiên, thực tế những năm qua các
doanh nghiệp luôn phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động.
Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã
qua đào tạo. Vì vậy, chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất
lượng lực lượng lao động địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với môi

(2) Dịch vụ do cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp: giáo dục
hướng nghiệp dạy nghề (% Rất tốt hoặc Tốt): Đây là câu hỏi trực tiếp hơn,
định hướng doanh nghiệp trả lời tập trung vào biện pháp của tỉnh nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo lao động. Cũng giống như chỉ tiêu (1) chỉ tiêu này
cũng được đo bằng thang đo likert 5 điểm và nằm trong mục đánh giá cơ sở
hạ tầng về các dịch vụ công do địa phương cung cấp.
(3) Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm
(%): Đối với chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ
giới thiệu việc làm tại địa phương và qua chỉ tiêu này cũng cho biết lao động


22

của doanh nghiệp được tuyển từ nguồn nào trực tiếp tuyển dụng hay qua trung
gian là các trung tâm tuyển dụng giới thiệu việc làm. Điểm số của chỉ tiêu này
được dựa trên tỷ lệ (%) các doanh nghiệp trong địa phương sử dụng dịch vụ
tuyển dụng và giới thiệu việc làm.
(4) Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm
với nhà cung cấp là tư nhân (%): Hiện nay có nhiều nguồn cung cấp dịch vụ
giới thiệu việc làm có thể là nguồn cung cấp giới thiệu việc làm cho doanh
nghiệp là các cơ sở của nhà nước hoặc tư nhân. Việc sử dụng dịch vụ này ở
khu vực nhà nước hay tư nhân tùy từng quan điểm của doanh nghiệp hay là
chất lượng của các trung tâm giới thiệu việc làm của địa phương. Qua chỉ tiêu
này có thể đánh giá được uy tín cũng như chất lượng của dịch vụ tuyển dụng
và giới thiệu việc làm do địa phương quản lý – các trung tâm dịch vụ công.
Chỉ tiêu này cũng được đo lường giống như chỉ tiêu (3).
(5) Doanh nghiệp có ý định sử dụng lại dịch vụ giới thiệu việc làm của
nhà cung cấp dịch vụ trên (%): Chỉ tiêu này nhằm đánh giá sự tín nhiệm về
chất lượng của lực lượng lao động mà doanh nghiệp đã tuyển dụng thông qua
các trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm, nếu doanh nghiệp tái sử dụng dịch

Chỉ tiêu này nhằm đánh giá tỷ lệ lao động của địa phương đã tốt nghiệp
trung học phổ thông – bậc học đã được phổ cập trên toàn quốc. Số liệu của
chỉ tiêu này được lấy từ nguồn dữ liệu của Tổng cục thống kê.
(11) Số lượng trung tâm giới thiệu việc làm trên 100.000 dân: Đây là
chỉ tiêu nhằm đánh giá khả năng hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm người lao
động và người lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương. Dữ liệu này
được VCCI thu thập từ nguồn dữ liệu là các báo cáo do Vụ lao động của Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội tổng hợp.
(12) Số lượng cơ sở đào tạo nghề do địa phương quản lý trên 100.000
dân: Việc sử dụng chỉ tiêu này nhằm đánh giá chất lượng những cơ sở đào tạo
dạy nghề trên địa bàn của địa phương quản lý vì đối với các cơ sở này thì


24

chính quyền địa phương có thể tác động trực tiếp lên công tác điều hành giảng
dạy – vì hiện nay nước ta đang tồn tại hai loại hình đào tạo nghề đó là một số
cơ sở giáo dục đào tạo nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Bộ
Giáo dục và Đào tạo quản lý và một số cơ sở giáo dục hướng nghiệp dạy nghề
do chính quyền địa phương quản lý gián tiếp thông qua Sở Lao động, Thương
binh và Xã hội
(13) Dịch vụ do cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp: Giới thiệu
việc làm (% Rất tốt hoặc Tốt): Đây là chỉ tiêu nhằm đánh giá chất lượng về
lực lượng lao động, quy trình làm việc, giới thiệu người lao động, hỗ trợ
doanh nghiệp trong công tác tuyển dụng… của các trung tâm giới thiệu việc
làm do tỉnh quản lý. Chỉ tiêu này được đo lường bằng thang đo likert 5 điểm.
(14) Tổng số cơ sở đào tạo (Đại học, Trung cấp, Trung tâm dạy nghề)
trên 100.000 dân. Chỉ tiêu này được đo lường bằng dữ liệu cứng do Vụ lao
động tổng hợp thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cung cấp.
(15) Số lượng trung tâm dạy nghề cấp huyện trong một huyện của tỉnh:

và phát triển kỹ năng người lao động được đánh giá bằng các tiêu chí:
- Cải thiện chất lượng giáo dục phổ thông, đánh giá bằng tiêu chí:
+ Số người tốt nghiệp phổ thông trung học/ lực lượng lao động
- Cải thiện chất lượng đào tạo nghề, đánh giá bằng các tiêu chí:
+ Số người tốt nghiệp trường dạy nghề /Số lao động không được đào
tạo nghề.
+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo/tổng lực lượng lao động.
+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo/số lao động chưa qua đào tạo.
+ Tỉ lệ lao động qua đào tạo đang làm việc tại DN.
+ Mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng lao động.
+ Giảm chi phí cho đào tạo lao động của doanh nghiệp, đánh giá bằng
tiêu chí Tỷ lệ chi phí cho đào tạo lao động/ tổng chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status