ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRỊNH THỊ NGỌC MÙI
NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO
BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Đà Nẵng - 2018
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Ngƣời hƣớng dẫn KH: TS. Nguyễn Hữu Cƣờng
Phản biện 1: PGS.TS. HOÀNG TÙNG
Phản biện 2: PGS.TS. TRẦN THỊ CẨM THANH
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 27 tháng 01 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ CBTT về BCBP trên cả ba loại BCTC gồm
BCTC cuối niên độ, bán niên và quý 2 của các CTNY trên SGDCK
Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
- Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về
BCBP của các CTNY. Qua đó tác giả đề xuất các chính sách cho
công ty và nhà quản lý gia tăng các thông tin cần thiết, góp phần
giảm rủi ro cho nhà đầu tư.
Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng CBTT về BCBP từ đó đề
xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin được công
bố trên BCBP của các CTNY trên HOSE.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc CBTT về
BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015 và một số nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ CBTT về BCBP của các CTNY này.
- Phạm vi nghiên cứu: BCTC cuối niên độ đã kiểm toán,
BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 năm 2015 có thực hiện
việc lập BCBP của các CTNY trên HOSE.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng, mức độ CBTT về BCBP được đo lường bởi chỉ số CBTT
BCBP bao gồm các chỉ mục thông tin phải (hoặc nên) trình bày được
quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28) và
Thông tư 20/2006/TT-BTC.
- Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về BCBP
được kiểm chứng thông qua tham số hồi quy được ước lượng bằng
phương pháp bình phương bé nhất (OLS).
Cả hai xếp hạng bên ngoài về CBTT bởi Hiệp Hội Quản Lý và Nghiên
Cứu Đầu Tư và CIFAR đều không còn tiếp tục nữa.
4
cộng sự, 2008; Artiach và Clarkson, 2014; Beattie, McInnes và
Fearnley, 2004; Beyer, Cohen, Lys, và Walther, 2010).
Đối với khía cạnh nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP và các
nhân tố ảnh hưởng, Alfaraih và Alanezi (2011) tập trung vào mức độ
tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của chuẩn mực kế toán quốc tế –
Segment Reporting (IAS) 14 và sử dụng lý thuyết thông tin bất đối
xứng để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm quy mô công
ty, thời gian hoạt động, đòn bầy tài chính, khả năng sinh lời và chất
lượng công ty kiểm toán đến mức độ CBTT về BCBP. Tuy nhiên,
nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc xem xét các chỉ tiêu bắt buộc,
không xem xét đến mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tự nguyện của các
công ty này. Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu mức độ CBTT
về BCBP các công ty ở Thụy Điển, Pardal và Morais (2012) nghiên
cứu các CTNY ở Tây Ban Nha, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra
rằng mức độ CBTT về BCBP được lập theo lĩnh vực kinh doanh
(LVKD) cao hơn hẳn so với BCBP được lập theo khu vực địa lý
(KVĐL).
Một số nghiên cứu lại tập trung vào xem xét mức độ CBTT về
BCBP của những CTNY ở một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế
cụ thể và ảnh hưởng tích cực từ việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế - Operating Segments (IFRS 8) đến việc cải thiện chất
lượng và số lượng trình bày BCBP, chẳng hạn nghiên cứu của
Benjamin và cộng sự (2010), Hyderabad và Pradeepkumar (2011).
Các nghiên cứu trước khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến
mức độ CBTT về BCBP như quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn
phụ thuộc và các biến độc lập thông qua các tham số hồi quy bằng
phương pháp OLS. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường (2015)
được thực hiện trên 100 CTNY có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất
ở Việt Nam chỉ ra rằng đối với chỉ tiêu thông tin doanh thu và kết
quả bộ phận theo LVKD và KVĐL thì tỷ lệ không tuân thủ có sự
chênh lệch đáng kể giữa BCTC giữa niên độ và BCTC quý 2.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ
CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO
BỘ PHẬN
1.1.1. Quá trình hình thành các quy định về báo cáo bộ
phận
Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ SFAS 14 – Finacial
Reporting for Segments of a Business Enterprise (Báo cáo tài chính
cho bộ phận kinh doanh) được Ủy ban chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ
(FASB) ban hành lần đầu năm 1976 quy định việc lập BCBP bắt
buộc bao gồm các nội dung cơ bản như: phạm vi áp dụng, cơ sở xác
định bộ phận báo cáo, các thông tin cần báo cáo v.v và được thay thế
bằng SFAS 131 năm 1997. SFAS 131 đã đánh dấu sự thay đổi đáng
kể so với chuẩn mực trước đó, đáng chú ý là nguyên tắc xác định bộ
phận trình bày. Trên góc độ chuẩn mực kế toán quốc tế, IAS 14 Segment Reporting ra đời năm 1981, được sửa đổi năm 1997 và
2003. Năm 2006, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã ban
hành Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 8 - Operating
Segments thay thế cho IAS 14 và chính thức áp dụng từ ngày 01
tháng 01 năm 2009. Điểm khác biệt cơ bản giữa IFRS 8 và IAS 14 là
đối tượng áp dụng chuẩn mực, định nghĩa bộ phận hoạt động và
14.
(PriceWaterHouseCoopers, 2008, P.17).
1.1.2. Nội dung báo cáo bộ phận
Nhiều công ty cung cấp các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc
hoạt động trong các KVĐL khác nhau có tỷ lệ sinh lời, cơ hội tăng
trưởng, triển vọng và rủi ro khác nhau. Thông tin về các loại sản
phẩm, dịch vụ tại các KVĐL khác nhau được gọi là thông tin bộ
phận. Loại thông tin này cần thiết cho những người sử dụng thông
tin trên BCTC vì chúng có lợi ích trong việc đánh giá rủi ro và lợi
ích kinh tế của các công ty có cơ sở ở nước ngoài hoặc công ty có
phạm vi hoạt động trên nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Lê Thị
Hà (2015) tóm lược rằng BCBP còn có thể được định nghĩa là các số
liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con hoặc những bộ phận
khác nhau của một công ty (Ijiri,1995). Người sử dụng BCTC,
những chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu được hỗ trợ các
thông tin bổ sung về chia tách các bộ phận thông qua việc tìm hiểu
BCBP.
BCBP được lập theo LVKD, KVĐL hoặc kết hợp theo LVKD
và KVĐL. Bộ phận theo LVKD là một bộ phận có thể phân biệt
được của một công ty tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp
sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ
có liên quan mà hai bộ phận kinh doanh này có rủi ro và lợi ích kinh
tế khác với các bộ phận kinh doanh khác. Bộ phận theo KVĐL là
một bộ phận có thể phân biệt được của một công ty tham gia vào quá
8
trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong một môi
không được những người tham gia thị trường chứng khoán sử dụng
hoặc là các thông tin này đã được thu thập từ nguồn khác.
1.1.4. Quy định về trình bày báo cáo bộ phận
VAS 28 yêu cầu trình bày thông tin trên cơ sở các thông tin tài
chính tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán tài chính đã được trình
bày trong BCTC hợp nhất. Liên quan đến cơ sở để một công ty xác
định BCBP chính yếu theo LVKD hay KVĐL phụ thuộc vào tính
chất rủi ro và lợi ích kinh tế của công ty đó. Để nhận biết được
nguồn và tính chất chủ yếu của rủi ro và các tỷ suất sinh lời khác
nhau phải dựa vào cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ của công ty và hệ
thống BCTC nội bộ cho BGĐ (Bộ Tài chính, 2006, đoạn 25). VAS
28 (Bộ Tài chính, 2006, đoạn 24) quy định trình bày đối với bộ phận
chính yếu sẽ khác với bộ phận thứ yếu.
IFRS 8 yêu cầu trình bày thông tin về các bộ phận trên cơ sở
thông tin mà các nhà quản lý sử dụng để điều hành hoạt động của
công ty. Khác với VAS 28, IFRS 8 yêu cầu các mục thông tin bắt
buộc cần công bố ít hơn, IFRS 8 chỉ yêu cầu công bố kết quả lãi hoặc
lỗ và tài sản bộ phận. Trong khi đó VAS 28, vẫn chỉ là áp dụng theo
IAS 14 đã sửa đổi (IAS 14R) nên vẫn bắt buộc CBTT về doanh thu
bộ phận, kết quả bộ phận, tài sản bộ phận, nợ phải trả bộ phận, tổng
chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua sắm TSCĐ, chi phí khấu
hao TSCĐ và phân bổ chi phí trả trước dài hạn của bộ phận, tổng giá
trị các khoản giá trị lớn không bằng tiền.
Theo Thông tư 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) các
CTNY phải lập và CBTT về BCTC năm, BCTC bán niên (06 tháng
đầu năm tài chính) và BCTC quý. Trong đó, BCTC năm đã được
kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm
toán, BCTC bán niên phải được soát xét bởi tổ chức kiểm toán chấp
11
Merkling (1976) lý thuyết đại diện mới được quan tâm nhiều. Lý
thuyết này cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm)
đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Rất nhiều nghiên cứu thực
nghiệm liên quan đến CBTT về BCBP trước đây cũng đã vận dụng
lý thuyết đại diện (Kevin và Zain, 2001; Shammari và cộng sự, 2008;
Alfaraih và Alanezi, 2011; Farías và Rodríguez, 2014; Lê Thị Hà,
2015). Những nghiên cứu này đã lý giải sự ảnh hưởng của các nhân
tố như quy mô của DN, đòn bẩy tài chính, và khả năng sinh lời.
2.1.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu dựa trên cơ sở đóng góp của 2 nghiên cứu
của Arrow (1972) và Schipper (1981). Lý thuyết tín hiệu mô tả hành
vi của một bên nắm thông tin từ đó phát ra tín hiệu cho thị trường và
một bên sử dụng thông tin đó. Akerlof (1970) cho rằng trong hai bên
tham gia giao dịch, một bên thường có thông tin nhiều hơn bên kia.
Đó là hiện tượng thông tin bất đối xứng. Lý thuyết tín hiệu giải quyết
vấn đề thông tin bất đối xứng giữa công ty và các nhà đầu tư. Lý
thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động kinh
doanh tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ
truyền tín hiệu đến thị trường (Ross, 1997).
2.1.3. Lý thuyết chi phí chính trị (Political theory)
Các chi phí chính trị là một trong những chi phí và khoản
thanh toán quan trọng nhất của công ty và được xem là các khoản phí
tổn phi hợp đồng. Do vậy, các công ty luôn muốn tìm cách để giảm
bớt những chi phí này. Nội dung căn bản của lý thuyết chi phí chính
trị là một công ty chịu chi phí chính trị cao dự kiến sẽ công bố thêm
nhiều thông tin đến thị trường nhằm hạn chế chi phí chính trị này. Lý
thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý sẽ đưa ra
các quy định, quyết định có lợi ích liên quan đến công ty (như chính
và thực thi pháp luật các chính sách quy định CBTT.
13
2.1.6 Lý thuyết chi phí độc quyền (Exclusive cost theory)
Lý thuyết này nhấn mạnh tính bất lợi trong cạnh tranh của việc
gia tăng CBTT (Verrecchia, 1983). Chi phí độc quyền tùy thuộc vào
các ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, các DN trong cùng một ngành
chịu áp lực cạnh tranh và quan tâm đến vị trí cạnh tranh của mình sẽ
phải đưa ra các báo cáo với mức độ tương đương với đối thủ của
mình để tránh bị thị trường đánh giá thấp. Dưới góc độ chi phí độc
quyền, việc giảm thiểu chi phí độc quyền tiềm tàng gắn với CBTT và
tăng tính thuận lợi của nội dung công bố được xem là động cơ để các
DN gia tăng mức độ công bố các báo cáo của mình (Verrecchia,
1983). Những DN hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh thường
hạn chế CBTT nội bộ hơn các DN hoạt động trong môi trường cạnh
tranh khắc nghiệt (Birt và cộng sự, 2006).
2.2. XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
H1: Mức độ CBTT về BCBP sẽ cao hơn đối với các CTNY
được kiểm toán bởi những công ty kiểm toán thuộc Big 4
H2: Mức độ CBTT về BCBP sẽ cao hơn đối với các CTNY có
thời gian niêm yết càng dài.
H3: Mức độ CBTT về BCBP sẽ cao hơn đối với các CTNY có
tỷ suất sinh lời lớn hơn.
H4: Mức độ CBTT về BCBP sẽ cao hơn đối với các CTNY có
đòn bẩy tài chính lớn hơn.
H5: Mức độ CBTT về BCBP sẽ thấp hơn đối với các CTNY có
tốc độ tăng trưởng càng cao
H6: Mức độ CBTT về BCBP sẽ cao hơn đối với các CTNY có
vốn sở hữu của Nhà nước.
LEVi:
là đòn bẩy tài chính của công ty i;
GROWi: là tốc độ tăng trưởng của công ty i;
OWNi: là cơ cấu sở hữu của công ty i;
INDi: là lĩnh vực hoạt động công nghiệp của công ty i;
LIQi: là khả năng thanh toán hiện hành của công ty i
BINi: là mức độ độc lập của HĐQT và BGĐ của công ty i;
DCi: là sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ của công
ty i;
β0; β1; β2; β3; β4; β5; β6; β7; β8; β9; β10 là các hệ số hồi quy
và là sai số ngẫu nhiên.
Mô hình này sẽ lần lượt được kiểm định đối với các biến
tương ứng với BCTC cuối niên độ (được gọi là Mô hình 1), BCTC
15
bán niên (được gọi là Mô hình 2) và BCTC quý 2 (được gọi là Mô
hình 3) của các CTNY trên HOSE năm 2015. Riêng đối với Mô hình
3 tương ứng với BCTC quý 2, sẽ không có biến AUDIT do hiện tại ở
Việt Nam không có quy định bắt buộc về việc soát xét các BCTC
quý.
2.3.2. Đo lƣờng biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là mức độ CBTT về
BCBP (I). Chỉ số này được đánh giá theo n mục thông tin tổng hợp
theo công thức sau với nguyên tắc loại trừ các mục tin không liên
quan (mNA).
nj
Dự kiến
chiều hƣớng
Ký
STT
hiệu
Biến
Đo lƣờng
ảnh hƣởng
đối với biến
phụ thuộc
Biến giả, nếu công
ty kiểm toán thuộc
01
AUDIT
Công ty
nhóm Big 4 thì
kiểm toán
nhận giá trị là 1,
Lợi nhuận sau
Đo bằng tỷ số nợ/
tài chính
tổng tài sản
tăng
trưởng
+
thuế/ Tổng tài sản
Đòn bẩy
Tốc độ
GROW
Tỷ suất sinh lời =
+
Đo bằng tỷ lệ tăng
doanh thu năm
2015 so với năm
trước đó
-
nhận giá trị là 1,
+
ngược lại nhận giá
trị là 0
Biến giả, nếu công
07
IND
Lĩnh vực
ty hoạt động trong
hoạt động
lĩnh vực công
công
nghiệp thì nhận giá
nghiệp
trị là 1, ngược lại
+
HĐQT và
thành viên trong
BGĐ
BGĐ.
+
18
Dự kiến
chiều hƣớng
Ký
STT
hiệu
Biến
Đo lƣờng
ảnh hƣởng
đối với biến
phụ thuộc
110
Việc đánh giá mức độ tuân thủ về CBTT được thực hiện trên
cả loại BCTC, gồm BCTC cuối niên độ, bán niên và quý 2 năm 2015
của các CTNY trên HOSE. Số liệu cần thu thập liên quan đến các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP (các biến độc lập)
được thu thập từ BCTC cuối niên độ, báo cáo thường niên. BCTC
của các công ty này được tải từ trang điện tử của HOSE.
19
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO
CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ
GIAO DỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.1. Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về báo cáo
bộ phận
Về mức độ CBTT BCBP trên BCTC cuối niên độ: Mức độ
CBTT về BCBP trên BCTC cuối niên độ của các CTNY trên HOSE
trung bình đạt 53,82%.
Về mức độ CBTT về BCBP trên BCTC bán niên: Mức độ
CBTT về BCBP trên BCTC bán niên của các CTNY trên HOSE
trung bình đạt 61,29%.
Về mức độ CBTT về BCBP trên BCTC quý 2: Mức độ CBTT
về BCBP trên BCTC quý 2 của các CTNY trên HOSE trung bình đạt
48,21 %.
3.1.2. So sánh mức độ tuân thủ CBTT về BCBP của các
loại BCTC
Kết quả thử nghiệm ANOVA một chiều cho thấy sự khác biệt
về giá trị trung bình của mức độ CBTT về BCBP trên ba loại BCTC
là có ý nghĩa về mặt thống kê (F=8,293, p
BCTC quý 2 chỉ ra có ba biến độc lập có ảnh hưởng đến mức độ
CBTT về BCBP trên BCTC quý 2, đó là tỷ suất sinh lời (ROA), đòn
bẩy tài chính (LEV) và tốc độ tăng trưởng (GROW). Những biến độc
lập còn lại không có ý nghĩa thống kê.
21
CHƢƠNG 4
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN BÁO CÁO BỘ PHẬN
VAS 28 được xây dựng dựa vào IAS 14 nhưng IAS 14 đã
được thay thế bằng IFRS 8 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2009. VAS 28 giới hạn các bộ phận báo cáo chỉ là theo LVKD
hoặc theo KVĐL đã dẫn tới thực tế có nhiều công ty coi toàn bộ
công ty là một bộ phận duy nhất, từ đó không trình bày báo cáo bộ
phận trong TM BCTC của mình. Do đó, VAS 28 nên được sửa đổi
cho phù hợp với IFRS 8 nhằm tăng số lượng các công ty có BCBP
và tăng số lượng bộ phận báo cáo của mỗi công ty. IFRS hướng đến
việc đảm bảo lợi ích cho các đối tượng sử dụng BCTC, khắc phục
những hạn chế của IAS, vì vậy việc thay đổi là hết sức cần thiết.
4.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH
4.2.1. Hàm ý từ sự ảnh hƣởng của công ty kiểm toán
Biến công ty kiểm toán (AUDIT) có ảnh hưởng đến mức độ
CBTT về BCBP trên cả BCTC cuối niên độ và bán niên. Vì vậy, các
công ty kiểm toán thuộc Big 4 cần xem xét lại về chất lượng kiểm
toán khi kiểm toán BCTC của các công ty khách hàng, đặc biệt là các
CTNY trên TTCK nhằm đảm bảo lợi ích cho người sở hữu công ty,
đồng thời nâng cao thương hiệu của chính các công ty kiểm toán.
các hoạt động của công ty. Các cổ đông nên tìm cách lên tiếng và tạo
áp lực đối với quản lý và ban giám đốc để yêu cầu cải thiện đáng kể
cả BCTC và phi tài chính, điều này góp phần thu hút đầu tư nhiều
hơn từ thị trường vốn trong nước và nước ngoài.
Đối với Sở giao dịch chứng khoán: Để đảm bảo thống nhất
và minh bạch thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp niêm yết
23
cũng như yêu cầu phải tuân thủ VAS 28 thì các cơ quan quản lý cần
có những văn bản quy định chặt chẽ hơn cũng như những chế tài
nghiêm khắc như cảnh báo hoặc thậm chí là phạt hành chính, quy
định bắt buộc các CTNY phải tuân thủ.
4.3. KẾT LUẬN
4.3.1. Kết quả đạt đƣợc
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ CBTT về BCBP ở
mức trung bình, 53,82% đối với BCTC cuối niên độ, 61,29 đối với
BCTC bán niên và 48,21 đối với BCTC quý 2, có thể thấy mức độ
CBTT về BCBP trên BCTC quý 2 là thấp nhất. Ngoài ra, kết quả
cũng chỉ ra mức độ CBTT về BCBP bị ảnh hưởng bởi các nhân tố
như: công ty kiểm toán, tỷ suất sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độ
tăng trưởng, cơ cấu sở hữu, khả năng thanh toán hiện hành, mức độ
độc lập của HĐQT và BGĐ, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và
TGĐ, tuy nhiên chiều hướng tác động của chúng là không giống
nhau trên ba loại BCTC.
4.2.1. Hạn chế của nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu không lớn, chỉ nghiên cứu các CTNY
HOSE năm 2015. Các nghiên cứu trong tương lai có thể thực hiện
việc đánh giá mức độ CBTT về BCBP và khảo sát ảnh hưởng của
các nhân tố trong nhiều năm hơn để có được kết quả định lượng có