BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------------------
LÊ THỊ MẾN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM GIÁM ĐỐC
ĐIỀU HÀNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : KẾ TOÁN
Mã số
: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VÕ VĂN NHỊ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò to lớn của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin tài chính ra bên ngoài
một cách kịp thời và hợp lý (Bolo và Hosseini 2007; Salehi và Azary, 2008). Chất
lượng báo cáo tài chính ảnh hưởng nhiều tới các quyết định chiến lược của nhà quản
trị, và đặc biệt của các nhà đầu tư. Các học giả như Bushman và Smith (2001), Healy
Thứ nhất, đo lường sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính;
Thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo
tài chính.
Thứ ba, kiến nghị những giải pháp phù hợp từ kết quả nghiên cứu
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như đã giới thiệu ở trên, câu hỏi nghiên cứu được
đặt ra là:
Câu hỏi 1: Đặc điểm của CEO có thực sự tác động tới chất lượng báo cáo tài chính
hay không?
Câu hỏi 2: Mức độ tác động của từng đặc điểm như thế nào?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào được đưa ra để góp phần nâng cao chất lượng BCTC?
3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là sự tác động của đặc điểm CEO đến
chất lượng báo cáo tài chính
Phạm vi nghiên cứu
Các dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của
các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong năm
2014 và 2015. Mẫu nghiên cứu không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên, luận văn sẽ sử dụng phương pháp định tính: tiến hành lược khảo các lý
thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Sau đó, với phương pháp định lượng: luận
văn khảo sát chất lượng thông tin thông qua việc xây dựng thang đo. Ngoài ra, luận văn
sử dụng phương pháp thống kê và phương pháp ước lượng mô hình hồi quy thích hợp
nhằm đo lường tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính. Trong
báo cáo tài chính trên thế giới
Hambrick và Mason (1984) lập luận rằng đặc điểm nhân khẩu học như kinh nghiệm,
độ tuổi, giới tính và sở hữu ảnh hưởng đến giá trị và cơ sở nhận thức của CEO và làm
cho họ có những sự lựa chọn khác nhau, đặc biệt là trong những tình huống phức tạp,
cuối cùng cho ra những kết quả kinh doanh khác nhau.
1.1.1 Tác động của độ tuổi đến chất lượng báo cáo tài chính
Nghiên cứu về mối quan hệ này còn khá ít các nghiên cứu thực nghiệm. Dù vậy, một
nghiên cứu của Hua-Wei Huang và Ena Rose-Green (2012) cho thấy có mối quan hệ
giữa tuổi của CEO đến chất lượng báo cáo tài chính. Sử dụng một mẫu gồm 3413
doanh nghiệp trong giai đoạn 2005 – 2008. Chất lượng báo cáo tài chính được đo
lường thông qua hai công cụ: Thứ nhất là Bảng phân tích dự báo của các chuyên gia
(dữ liệu dự báo I/B/E/S - Institutional Brokers' Estimate System, được thành lập bởi
công ty môi giới New York Lynch, Jones & Ryan và công ty liên
doanhTechnometrics); Thứ hai là Báo cáo tài chính được trình bày lại – Financial
restatement. Các tác giả đã tìm thấy được mối quan hệ cùng chiều giữa độ tuổi CEO và
chất lượng báo cáo tài chính.
1.2.2 Tác động của nhiệm kỳ đến chất lượng báo cáo tài chính
Theo tác giả Hill và Phan (1991) cho rằng khi nhiệm kỳ CEO tăng thì mức rủi ro doanh
nghiệp tăng cao và lợi nhuận của cổ đông sẽ giảm. Ngoài ra, các CEO còn lựa chọn kế
toán để phóng đại thu nhập trong những năm tài chính họ nắm quyền để làm tăng
khoản thù lao của họ (Kalyta, 2009).
6
Tuy nhiên, sử dụng mô hình hôi quy đa biến mẫu, Keehwan Kim và Joon Sun Yang
(2014) cho thấy rằng nhiệm kỳ của ban giám đốc có tác động tích cực đền chất lượng
báo cáo tài chính. Các tác giả sử dụng ba mô hình đại diện cho chất lượng báo cáo:
+ Thứ nhất, sử dụng giá trị tuyệt đối của các khoản trích trước tùy ý được sử dụng phổ
biến trong quản trị lợi nhuận được sửa đổi bởi Dechow(1995). Kết quả là, nhiệm kỳ
nghiên cứu của Ahmed et al. (2006) tại các doanh nghiệp ở New Zealand cho năm tài
chính 1991-1997. Tương tự là kết quả của Bradbury et al. (2006) nghiên cứu 139
doanh nghiệp Singapore và 113 doanh nghiệp Malaisia được niêm yết trên sàn Kuala
Lumpur cho năm tài chính 2000. Kết quả nghiên cứu của Petra (2007) cũng cho kết
quả tương tự là không tìm được mối tương quan.
1.2.4 Tác động của giới tính đến chất lượng báo cáo tài chính
Với 2.938 doanh nghiệp Mỹ cho năm tài chính 2006, Barua và các tác giả (2010) báo
cáo về mối quan hệ giữa giới tính của các CFO và chất lượng dồn tích (accurals
quality). Họ tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng những công ty có CFO là nữ sẽ có chất
lượng dồn tích cao hơn và rủi ro có sai sót khi đánh giá, ước tính các khoản trích trước
là thấp hơn so với những công ty có CFO là nam giới. Tương tự, Srinidhi, Tsui (2011)
và Krishnan và Parson (2008) chỉ ra rằng sự đa dạng giới tính có ảnh hưởng tích cực
đến chất lượng lợi nhuận.
1.2.5 Tác động của tỷ lệ sở hữu đến chất lượng báo cáo tài chính
Soongsoo (Sam) Han (2004) thu thập dữ liệu là tỷ lệ sở hữu vốn được lấy từ cơ sở dữ
liệu Compact Disclosure trong giai đoạn từ năm 1997-2001. Nghiên cứu này điều tra
các mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu chứng khoán và chất lượng các báo cáo tài
chính của một công ty, được đo bằng độ lớn của khoản trích trước tùy ý và các bản đồ
của các khoản trích trước của dòng tiền và mức độ công bố thông tin. Tác giả cho thấy
thấy quyền sở hữu chứng khoán của nhà quản lý có liên quan đến tiêu cực với chất
lượng báo cáo và mức độ công bố thông tin.
8
Fan, J. & Wong, J. (2002) nghiên cứu mối quan hệ về cấu trúc sở hữu với chất lượng
thông tin kế toán ở bảy nền kinh tế Đông Á trừ Nhật Bản gồm 282 doanh nghiệp Hong
Kong, 91 doanh nghiệp Indonesia, 177 doanh nghiệp Malaysia, 133 doanh nghiệp
Singapore, 95 doanh nghiệp Hàn Quốc, 66 doanh nghiệp Đài Loan và , 133 doanh
nghiệp Thái Lan. Kết quả cho thấy tỷ lệ sở hữu cao đồng nghĩa với việc chất lượng
lao của CEO với việc thao tác can thiệp vào báo cáo tài chính. Họ tìm thấy rằng ở
những doanh nghiệp CEO có sở hữu cổ phần thì việc vi phạm nguyên tắc kế toán ít xảy
ra hơn.
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây về sự tác động của đặc điểm CEO
đến chất lượng báo cáo tài chính:
Tác giả
Biến đo lường
Công cụ đo lường chất lượng
đặc điểm
báo cáo tài chính
Kết quả
CEO
Huang và Độ tuổi
+ Bảng phân tích của công ty môi Mối
quan
Green
giới (Dữ liệu dự báo I/B/E/S)
hệ
các khoản bất thường với dòng tiền
A : Tổng tài sản ;
ΔAR : Sự thay đổi trong khoản phải
quan
10
thu ;
ΔRev : Sự thay đổi của doanh thu ;
PPE : tài sản, nhà máy và thiết bị ròng.
+ Mô hình lợi nhuận bền vững: Sử
dụng giá trị lùi của ROA hiện
hành (ROA) bằng lợi nhuận thuần
trên tổng tài sản của ROA kỳ
trước (lagROA) để ước tính lợi
nhuận bền vững :
ROA t = lợi nhuận của năm t/tổng
tài sản năm trước (lagged total
assets);
lag ROA=lợi nhuận thuần của
năm t-1/tổng tài sản của năm
trước (lagged total assets)
+
Mô
hình
ACL = sự thay đổi trong nợ phải trả
các tác giả.
ngắn hạn;
(2007)
ACash = sự thay đổi trong tiền và các
11
khoản tương đương tiền;
ASTD = sự thay đổi trong các khoản nợ
bao gồm nợ phải trả ngắn hạn;
Dep = Chi phí khấu hao.
+ Ý kiến kiểm toán
Ahmed et Quyền
al., 2006;
kiêm + Chất lượng lợi nhuận: Chất Không có
nhiệm
lượng
khoản
TA t-1 : Tổng tài sản trong năm t-1
Barua
và Giới tính
các tác giả
+ Mô hình dồn tích (Mô hình Mối
Dechow et al. 1995)
quan
hệ tích cực
(2010)
Srinidhi,
Tsui
(2011);
Krishnan
và Parson
(2008)
Sam
Han Tỷ lệ sở hữu
+ Mô hình chất lượng lợi nhuận – Mối
quan
thông
tin
kế toán
Fan, J. &
+ Thông tin kế toán hữu ích đo Mối
Wong,
lường thông qua lợi nhuận cổ hệ
J.
phiếu
(2002)
trái
chiều
nhà Trình độ học Các nhà nghiên cứu tài chính Mối
Các
quan
1997;
Ljungquist,
Ljungquist,
2007.
2007;
Darmadi
Darmadi,
(2011);
2011)
và
Bathula
không
có
(2008)
mối
hệ
Cheng và
+ Nguyên tắc kế toán
Farber
Mối
quan
(2008)
hệ tích cực
Armstrong
Ít vi phạm
và
nguyên tắc
ctg
(2010)
kế
toán
hơn
cáo tài chính với một cách đo lường được xem là có nhiều ưu điểm đó là hướng về đo
lường đặc tính chất lượng báo cáo tài chính (Theo F.v.Beest, G.Bram, S. Boelens
,2009). Và đặc điểm của CEO cũng được xem xét một cách toàn diện hơn bao gồm các
đặc điểm như: độ tuổi, nhiệm kỳ, giới tính, quyền kiêm nhiệm, tỷ lệ sở hữu và thu
nhập.
15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Vai trò của CEO
CEO là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đóng vai trò là người chịu
trách nhiệm cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là người thừa
hành đại diện cho chủ doanh nghiệp trong các nhệm vụ, quyết định có liên quan (Theo
lý thuyết người đại diện và lý thuyết quản trị).
CEO cũng là người đóng vai trò chiến lược là người quảng bá hình ảnh của doanh
nghiệp với các bên liên quan, thực thi các chiến lược (Theo lý thuyết quản trị và lý
thuyết các bên liên quan).
Mintzberg (1973) nghiên cứu các họat động của nhà quản trị và cho rằng mỗi nhà quản
trị đều phải thực hiện 10 vai trò khác nhau và được phân thành 3 nhóm: Nhóm vai trò
quan hệ với con người, Nhóm vai trò thông tin và Nhóm vai trò quyết định.
Bảng 2.1: Vai trò của CEO (Mintzberg,1973)
Nhóm
vai
trò Nhóm
quan hệ với con thông tin
người
nhân viên
3.Liên hệ
Duy trì mối quan hệ
mạng lưới làm việc
nội bộvới bên ngoài
và giúp cung cấp
thông tin
4.Giám sát
Giám sát thông tin
bên trong và bên
ngoài về những vấn
đề
có
thể
ảnh
hưởng tổ chức
5.Truyền đạt
Truyền đạt những
thông tin cả bên
trong và bên ngoài
cho nội bộ
Có
những
hành
xung đột
động đúng và kịp
thời khi DN đối mặt
với những vấn đề
17
quan trọng những
khó khăn bất ngờ.
9.Phân phối
Chịu trách nhiệm
phân
phối
các
nguồn
lực:
18
mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với
mục đích khác nhau, nên có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên,
định nghĩa chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế đó là định nghĩa của Tổ
chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). ISO 9000:2005, định nghĩa “Chất lượng là mức
độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”.
Theo FASB (1999); IASB (2008) mục đích của một báo cáo tài chính là cung cấp
thông tin tài chính chất lượng cao liên quan đến đơn vị kinh tế, hữu ích để ra các
quyết định kinh tế
2.2.3 Thông tin báo cáo tài chính
Khái niệm thông tin BCTC được nhìn nhận theo hai quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra
của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài
chính, kết quả tài chính của doanh nghiệp. BCTC cung cấp các thông tin về tình
hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu
cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó
cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao
phó cho họ (IASB, 2010). Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về:
tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ,
khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền. Thông
thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo thu
nhập; báo cáo vốn chủ sở hữu; báo cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC.
Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù thông tin BCTC truyền thống trình bày trên
cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán, nhưng chỉ mang tính chất quá khứ nên không
đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết hiện nay của người sử dụng. Ngày nay, những
thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế theo xu hướng hội nhập, yêu cầu cần
xem xét lại về bản chất cũng như nội dung của các BCTC của doanh nghiệp.
• Trình bày trung thực (Faithful representation)
Thông tin được trình bày trung thực khi nó được mô tả đầy đủ (complete),trung lập
(neutral) và không mắc lỗi (free from error) (IASB, 2010a). Thông tin đầy đủ bao
gồm tất cả các thông tin cần thiết cho người sử dụng hiểu được các hiện tượng, bao
gồm tất cả các mô tả và giải thích cần thiết. Thông tin trung lập khi không có sự
thiên vị trong việc lựa chọn hoặc trình bày, không bị thiên lệch nhằm đạt đến một
kết quả định trước hay chịu ảnh hưởng của một thái độ cá biệt. Không mắc lỗi có
nghĩa là không có sai sót hoặc thiếu sót trong các mô tả và quy trình soạn thảo thông
tin. Chẳng hạn, một ước tính không thể được xác định là chính xác hoặc không
chính xác, tuy nhiên, việc trình bày ước tính được xem là trung thực nếu số tiền
được mô tả một cách rõ ràng, bản chất và hạn chế của quá trình ước tính được giải
thích.
• Có thể so sánh (Comparability)
Thông tin về một doanh nghiệp sẽ hữu ích hơn nếu nó có thể được so sánh với
thông tin tương tự ở doanh nghiệp khác hoặc ở cùng một doanh nghiệp trong các kỳ
khác nhau. Có thể so sánh cho phép người sử dụng phân biệt và hiểu sự giống nhau
hay có khác nhau về các khoản mục (IASB, 2010a). IASB và FASB cũng cho rằng,
tính có thể so sánh có thể đạt được từ việc đạt được các đặc điểm chất lượng cơ
bản. Một sự trình bày trung thực các thông tin kinh tế thích hợp tự nó đạt được, ở
một mức độ nào đó, sự có thể so sánh được với các thông tin thích hợp tương tự
được trình bày trung thực bởi một doanh nghiệp khác.
• Có thể kiểm chứng (Verifiability)
Có thể kiểm chứng giúp đảm bảo với người sử dụng rằng những thông tin trình bày
trung thực đối với các hiện tượng kinh tế. Có thể kiểm chứng có nghĩa là những
người quan sát và đánh giá đủ năng lực và độc lập khác nhau có thể đạt được sự
21
đồng thuận, mặc dù không phải là hoàn toàn, về việc thông tin được trình bày trung
Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ,
việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác
hay không chính xác. Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước
tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích
và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu.
2.3 Các phương pháp chủ yếu để đo lường chất lượng báo cáo tài chính
Do đặc trưng của báo cáo tài chính, nên chắc chắn việc đo lường chất lượng báo cáo
tài chính là thông qua thành phần cấu tạo của nó (Dechow và Dichev, 2002; Schipper
và Vincent, 2003; Botosan, 2004). Tuy nhiên mỗi người sử dụng lại có mức độ quan
tâm đến những vấn đề khác nhau trong một báo cáo nên sẽ có sự chênh lệch về chất
lượng giữa các thành phần (khoản mục được trình bày trên báo cáo tài chính) và bản
thân người nghiên cứu cũng có những cảm nhận khác nhau về mức độ hữu dụng của
thông tin trong từng bối cảnh cụ thể. Như vậy, dường như cách đo lường trực tiếp có
vấn đề (Botosan, 2004).
Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã đo chất lượng báo cáo một cách gián tiếp tập trung
vào các thuộc tính được cho là có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính như
quản trị lợi nhuận, công bố lại báo cáo tài chính và tính kịp thời (Schipper & Vincent,
2003; Cohen et al., 2004).
Mô hình dồn tích tập trung vào đo lường chất lượng lợi nhuận, mô hình này được sử
dụng để đo lường mức độ quản trị lợi nhuận. Mô hình giả định rằng nhà quản lý sử
dụng phương pháp trích trước tùy ý, qua đó người quản lý có thể kiểm soát lợi nhuận
23
(Dechow et al., 1995). Tuy nhiên làm thế nào để phân biệt trích trước tùy ý và không
tùy ý. Hơn nữa, sử dụng mô hình này được sử dụng chỉ là mô phỏng một cách gián
tiếp của chất lượng lợi nhuận, không bao gồm thông tin phi tài chính. Vì vậy, kết luận
liên quan đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính dựa trên mô hình dồn tích sẽ
không cung cấp bằng chứng một cách trực tiếp và toàn diện (Healy & Wahlen, 1999).
thường niên.
Bảng tóm tắt sau đây chỉ ra các phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính mà
các nhà nghiên cứu thường sử dụng, cũng như là từng ưu, nhược điểm của từng
phương pháp:
Bảng 2.2: Tổng quan các công cụ đo lường chất lượng báo cáo tài chính được sử dụng
trong các nghiên cứu trước đây
Mô hình dồn Lý thuyết liên Các yếu tố cụ Đặc tính thông tin
tích
quan đến giá thể trong báo
trị
cáo
thường
niên
Kỹ thuật Kiểm tra mức Xem xét mối Xem
xét
các Kiểm tra mức độ
độ quản trị lợi quan hệ giữa yếu tố cụ thể hữu ích của thông
nhuận
được thu nhập của trong báo cáo tin trên báo cáo tài
đai diện cho cổ phiếu và lợi thường
chất lượng lợi nhuận