ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------0o0----------
LỘC ANH TÚ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
NGUY HẠI VÀ ĐỀ XUẤT MẠNG LƯỚI THU GOM TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Khoa học môi trường
: Môi Trường
: 2013 - 2017
Thái Nguyên - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------0o0----------
LỘC ANH TÚ
Tên đề tài:
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên .Các thầy, cô giáo khoa Môi Trường,
trường Đại học Nông Lâm đã dạydỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong
những năm học qua. Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
đến cô giáo Th.S Dương Minh Ngọc đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn cho em
trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Các anh,
chị trong công ty cổ phần EJC đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ em trong quá
trình thực tập tại cơ quan cũng như quá trình điều tra, thu thập số liệu cho đề tài.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã
động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù em đã cố gắng và nỗ lực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức
và kinh nghiệm do vậy đề tài khó tránh được những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự giúp đỡ, góp ý kiến và thông cảm của quý thầy cô. Em xin kính
chúc quý thầy cô, các cô, chú, anh, chị luôn dồi dào sức khỏe và đạt được
nhiều thành công trong sự nghiệp.
Thái Nguyên, ngày……tháng…..năm 2017
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân nhóm chất thải y tế ................................................................. 5
Bảng 4.1. Nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định
Hóa .............................................................................................................. 29
Bảng 4.2: Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn ............. 30
huyện Định Hóa ........................................................................................... 30
Bảng 4.3. Thành phần và khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại
các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa .................................................. 31
Bảng 4.4. Công tác phân loại chất thải nguy hại y tế tại các cơ sở ................ 33
trên địa bàn huyện Định Hóa ........................................................................ 33
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ......................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................... 4
2.1.1. Một số khái niệm liên quan................................................................... 4
2.1.2. Phân loại chất thải y tế .......................................................................... 5
2.1.3. Nguồn gốc và thành phần chất thải y tế ................................................ 7
2.1.4. Một số phương pháp xử lý chất thải y tế ............................................... 8
2.2. Các văn bản pháp lý ................................................................................ 9
2.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 10
2.3.1. Hiện trạng quản lí chất thải y tế trên thế giới ...................................... 10
2.3.2. Hiện trạng quản lí chất thải y tế nước ta trong giai đoạn hiện nay ....... 13
2.3.3. Hiện trạng quản lí chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. .... 18
2.4. Ảnh hưởng của chất thải y tế ................................................................. 20
2.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên ................................................... 20
2.4.1. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người. .................................................. 21
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 22
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 22
iv
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................. 22
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 22
3.3.1. Tổng quan về các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa......................... 22
3.3.2. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại các cơ sở y
tế trên địa bàn huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên. .................................... 22
3.3.3. Đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại tại các cơ sở y tế
trên địa bàn huyện Định. .............................................................................. 22
3.4. Các phương pháp nghiên cứu ................................................................ 22
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp..................................... 22
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, xã hội ngày càng
văn minh hiện đại. Cùng với sự phát triển của kinh tế thì các vấn đề khác
trong xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục ngày càng được quan tâm và được
đầu tư nâng cao, chất lượng cuộc sống của mọi người ngày càng được cải thiện.
Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân hơn nữa, đã có
nhiều các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ra đời, có nhiều bệnh viện, cơ sở y tế
được xây dựng. Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ
quan trọng của ngành y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và
hoàn thiện.Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà các cơ sở y tế, bệnh viện
đem tới cho người dân thì các cơ sở này cũng đồng thời thải ra các chất thải y
tế nguy hại với số lượng lớn. Cùng với xu thế sử dụng các sản phẩm chỉ dùng
một lần trong y tế càng khiến lượng chất thải nguy hại phát sinh ngày càng
nhiều hơn, gây nguy hiểm cho môi trường và con người.
Theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có
khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại
như phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá
trình chẩn đoán và điều trị, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi
trường, lan truyền mầm bệnh từ các bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn
tới tăng tỉ lệ bệnh tật của công đồng dân cư sinh sống xung quanh. [6]
Chất thải bệnh viện khi thải ra môi trường nếu không được xử lý đúng
cách thì hậu quả để lại sẽ không thể lường hết được nó có thể gây ra các đại
dịch lớn cho cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước,
môi trường đất từ đó quay trở lại ảnh hưởng tới cuộc sống của con người. Do
huyện Định Hóa.
- Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn
y tế tại địa bàn huyện Định Hóa.
- Đề xuất mạng lưới thu gom rác thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của các cơ sở y tế trên địa bàn
huyện Định Hóa.
3
- Hiện trạng quản lý, phân loại, thu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế
trên địa bàn huyện Định Hóa.
- Đề xuất mạng lưới thu gom rác thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp
dụng vào thực tế, từ đó bổ sung những kiến thức, kỹ năng còn thiếu cho bản thân.
Trau dồi khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh
viên trong quá trình làm đề tài.
Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
cơ quan trong các ngành và các sinh viên khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác quản lý và xử
lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa.
Đưa ra được các đề xuất hiệu quả và khả thi trong công tác quản lý chất
thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa.
Đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại phù hợp với điều
kiện của địa phương.
5
- Xử lý ban đầu: là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi
lưu giữ hoặc tiêu hủy.
- Xử lý và tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm
làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và
môi trường [2].
2.1.2. Phân loại chất thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy
hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau [2]:
2.1.2.1. Chất thải lây nhiễm:
Bảng 2.1 Phân nhóm chất thải y tế
Phân nhóm
Tên phân nhóm
Thành phần
Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm:
bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây
A
Chất thải sắc nhọn
truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các
ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc
thí nghiệm.
6
2.1.2.2. Chất thải hóa học nguy hại:
a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
b) Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế.
c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ
dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng
hóa trị liệu.
d) Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế
thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc
quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ
từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) [2].
2.1.2.3. Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế [2].
2.1.2.4. Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ
gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt [2].
2.1.2.5. Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm [2]:
a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly).
b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
* Thành phần vật lý
+ Đồ bông, vải sợi: bao gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau,...
8
+ Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,...
+ Đồ thủy tinh, nhựa, kim loại, …
+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở gạc băng,...
+ Lá cây, đất đá,...
2.1.4. Một số phương pháp xử lý chất thải y tế
Theo quy định của Bộ Y tế về xử lý chất thải y tế, mỗi phân nhóm, mỗi
loại chất thải đều phải có phương pháp xử lý riêng phù hợp cho từng đối tượng.
Mục đích của việc xử lý chất thải rắn y tế là loại bỏ những đặc tính
nguy hiểm như lây nhiễm, truyền bệnh để biến chúng thành rác thải thông
thường và có thể xử lý giống như các loại chất thải thông thường khác.
* Phương pháp khử trùng :
Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế
có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong bệnh viện.
- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… là phương pháp rẻ tiền,
đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết vi
khuẩn trong chất thải.
- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi
chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến
dạng. Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò
đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp.
- Khử trùng bằng siêu cao tần: có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất
cao. Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên
môn, là phương pháp chưa phổ biến.
- Nghị định số: 19/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường;
10
- Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của Chính phủ về
quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định: 179/2013/NĐ-CP, ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Quyết định số: 2149/2009/QĐ-TTg, ngày 17/12/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn
đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số: 2211/QĐ-TTg, ngày 14/11/3013 của Thủ tướng Chính
phủ về Phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn lưu vực sông cầu đến năm 2020;
- Quyết định số: 525/QĐ-BXD, ngày 14/5/2014 của Bộ Xây dựng về
phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trong điểm
bắc bộ đến năm 2030;
- Quyết định số: 32/2014/QĐ-UBND, ngày 29/8/2014 của UBND tỉnh
Thái Nguyên quy định điều chỉnh mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng phí vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Chỉ thị số: 21/CT-UBND, ngày 30/10/2012 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về tăng cường quản lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2.3. Cơ sở thực tiễn
2.3.1. Hiện trạng quản lí chất thải y tế trên thế giới
* Công tác quản lí:
- Quản lý rác thải y tế đang trở thành vấn đề lớn ở hầu hết các nước,
đặc biệt là quản lý chất thải y tế nguy hại. Vài năm gần đây, vấn đề chất thải y
tế ngày càng được quan tâm hơn do tình trạng bán rác thải trộm ra bên ngoài
kg các vật sắc nhọn (chiếm 0,76%). Rác thải chưa được phân loại theo đúng
quy định. Hai trong số các bệnh viện này sử dụng xe chuyên chở rác không có
nắp đậy, 9 bệnh viện đã được trang bị lò đốt nhưng 6 trong số chúng gặp khó
khăn trong quá trình vận hành lò đốt. Ở các bệnh viện này, các nhân viên
12
không được đào tạo về quản lý chất thải y tế cũng như các mối nguy hại mà
rác thải y tế đem đến [9][11].
* Phân loại :
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển
có thể phân loại chất thải y tế thành các loại sau [8]:
- Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị
nhiễm các yếu tố nguy hại);
- Chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm);
- Chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn);
- Chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với
tế bào);
- Chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào,
các bình chứa khí có áp suất cao).
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải
có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân
truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng
trong điều trị, nghiên cứu...; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động
vật (xác động vật, các phần của cơ thể...); Các vật sắc nhọn không sử dụng;
Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ.
* Một số phương pháp xử lí được áp dụng trên thế giới:
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như
đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được
kỹ thuật. Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại
còn bị thiếu thốn. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy
trình xử lý triệt để.
Chất thải y tế không ngừng phát sinh và có chiều hướng tăng khá
nhanh. Nếu không có biện pháp thu gom, xử lý và quản lý chất thải không
14
hiệu quả thì các chất thải này sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
xấu tới sức khỏe cộng đồng [10].
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý
và y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng. Các đối tượng khác như
bác sĩ, y tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất
thải y tế. Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các
phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận
chuyển và tiêu hủy chất thải.
90,9% các bệnh viện tiến hành thu gom chất thải rắn hàng ngày. Tuy
nhiên, phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa
đạt tiêu chuẩn. Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP. Chỉ có
29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy định. Chất thải y tế được chứa
trong các thùng đựng chất thải. Tuy nhiên chỉ có một số ít bệnh viện có thùng
đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện TW và bệnh viện tỉnh) [1].
Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra 6 bất cập đang tồn tại tại các
bệnh viện trong vấn đề quả lý chất thải đó là:
- Việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng quy định
- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa
đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn
- Xử lý và tiêu hủy gặp nhiều khó khăn
- Thiếu các cơ sở tái chế chất thải - Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây
thải. Phần lớn các bệnh viện tự xây dựng lấy lò đốt của mình và cũng không
theo một thiết kế mẫu nào. Tình trạng chung của phần lớn các bệnh viện trong
cả nước hiện nay là thiêu đốt chất thải y tế tại các lò đốt thủ công không có hệ
thống xử lý khí thải kể cả những bệnh viện có khối lượng chất thải y tế cần
thiêu đốt rất đáng kể ở Hà Nội. Trong các lò đốt thủ công xây bằng gạch chất
thải được đốt bằng củi hoặc dầu, theo cách thủ công nên khi vận hành khói
bụi mù mịt, mùi khí cháy khó chịu bay ra khu dân cư.
Công Ty Công Trình Đô Thị (URENCO) Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí
Minh đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom,
16
vận chuyển chất thải rắn y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác
để tiêu huỷ. Hiện tại chúng ta đã có 2 lò đốt chất thải rắn y tế theo mô hình
tập trung lò đốt Del Monego 200 tại xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ - Hà Nội và lò
đốt Hoval GG-24 tại xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hoà - Thành Phố Hồ Chí
Minh với công nghệ nhập của nước ngoài. Thành Phố Hồ Chí Minh cơ bản đã
ổn định được công tác xử lý chất thải bệnh viện nhờ có hệ thống quản lý, thu
gom năng động. Còn tại Hà Nội, sau 8 tháng thử nghiệm lò đốt hoạt động tốt,
tuy vậy công suất của lò đốt này cũng chỉ giải quyết được 4 tấn/ngày so với
nhu cầu của hàng chục bệnh viện tại thành phố là trên 12 tấn/ngày.
Đa số các bệnh viện tiêu huỷ chất thải rắn y tế bằng lò đốt thủ công
không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường. Trong các năm 1999-2000, tổ chức
y tế thế giới đã viện trợ cho Bộ Y Tế 2 lò đốt chất thải chế tạo tại nước ngoài
để trang bị cho 2 bệnh viện tuyến tỉnh trong đó có lò INCINCO lắp đặt và đưa
vào vận hành tại bệnh viện đa khoa Bắc Ninh. Cũng trong thời gian nêu trên,
chính phủ đã phê duyệt dự án của bộ y tế trang bị 25 lò đốt chất thải bệnh
viện kiểu Hoval bằng nguồn vốn vay của chính phủ cộng hoà Áo, hiện tại 25
lò đốt rác y tế này đã đi vào hoạt động và cải thiện đáng kể năng lực tiêu huỷ
nhưng các văn bản pháp quy này chưa thực sự thực sự đem lại hiệu quả cao.
Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít cơ
sở y tế, bệnh viện. Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ đạo bệnh viện vẫn
chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế.
- Nhận thức của các cán bộ, nhân viên trong các cơ sở y tế, bệnh viện
về các chất thải y tế chưa cao, chưa thấy rõ tầm quan trong trong việc phân
loại, xử lí các chất thải y tế nguy hại, gây ảnh hưởng lớn tới mức hiệu quả
phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải. Việc tuyên truyền giáo
dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng. Một số lãnh đạo bệnh viện chưa
thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải. đôi khi dư luận qua báo chí còn
18
làm dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó
gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành
- Nguồn kinh phí đầu tư cho công việc xây dựng và vận hành xử lí chất
thải y tế là rất lớn. Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí đầu tư cho toàn bộ
chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng và khí vào
khoảng 1,60 tỷ đồng chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom,
vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì. Vốn đầu tư cần được huy động từ
các nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ
của các chính phủ và tổ chức phi chính phủ. Hiện nay các bệnh viện có lò đốt
nhưng kinh phí để chi trả cho năng lượng để vận hành, xử lý tro, để trả lương
cho nhân công còn chưa được quy định sẽ lấy từ đâu. Các bệnh viện không
thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phí xử lý chất thải của mình. Vì
vậy có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưng vẫn không vận hành vì
không có đủ kinh phí.
2.3.3. Hiện trạng quản lí chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói