Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải
y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý
Nguyễn Thị Kim Dung
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Quang Trung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tổng kết về công tác quản lý chất thải y tế và các quy định có liên quan đến
công tác quản lý chất thải y tế ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Đánh giá và phân
tích thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên: đánh giá thực trạng công tác phân loại, vận chuyển, lưu trữ, xử lý chất
thải rắn y tế, nước thải và khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các bệnh
viện đa khoa tuyến tỉnh và huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Phân tích và đề xuất
các giải pháp: Nguyên nhân các tồn tại trong công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại
các bệnh viện nghiên cứu; Giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý
chất thải y tế; Xử lý chất thải nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế đối với
các bệnh viện đa khoa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Keywords: Chất thải y tế; Quản lý chất thải; Khoa học môi trường; Thái Nguyên
Content
MỞ ĐẦU
Tỉnh Thái Nguyên có 12 bệnh viện đa khoa từ tuyến trung ương đến tuyến huyện nằm khắp
nơi trên địa bàn tỉnh. Việc phát triển và nâng cấp các bệnh viện là một nhu cầu thiết yếu và cần
thiết của xã hội song sự phát triển ồ ạt dẫn tới việc không đồng bộ của hoạt động bộ máy, đặc biệt
bảo vệ môi trường luôn là vấn đề được đặt ra sau cùng trong quá trình phát triển này.
Một số công trình nghiên cứu trước đây đã tiến hành điều tra về thực trạng cũng như các
ảnh hưởng của chất thải bệnh viện đối với môi trường. Song việc đưa ra một bức tranh tổng quát
về công tác bảo vệ môi trường tại các bệnh viện vẫn còn chưa được rõ nét. Là học viên cao học
của tỉnh, tôi mong muốn đóng góp công sức của mình để thực hiện công cuộc phát triển bền vững
tại địa phương. Đề tài "Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện
4. 3 bệnh viện đa khoa tuyến huyện: Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa, huyện Võ Nhai và
huyện Phú Bình.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp các tài liệu liên quan; Phương pháp điều tra,
khảo sát; Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý các số liệu; Phương pháp tham khảo ý kiến
chuyên gia; Phương pháp so sánh.
2.3. Nội dung đề tài
- Nắm bắt thực trạng quản lý chất thải y tế nói chung trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện nghiên
cứu dựa trên các số liệu và các thông tin điều tra khảo sát có được.
-. Trên cơ sở thực trạng về công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện, đề xuất một số biện
pháp giảm thiểu ô nhiễm
2.4. Xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá
Xây dựng các tiêu chí đánh giá theo phương pháp từ tài liệu tham khảo của Owen và Roger.
Các tiêu chí đánh giá được phân loại theo các hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện gồm:
Nhóm tiêu chí đánh giá về công tác phân loại chất thải rắn bệnh viện; Nhóm tiêu chí đánh giá về
công tác vận chuyển; Nhóm tiêu chí về lưu giữ chất thải rắn bệnh viện; Nhóm tiêu chí đánh giá về
hoạt động xử lý chất thải rắn y tế; Nhóm tiêu chí đánh giá về hệ thống thu gom xử lý nước thải và
khí thải.
2.5. Xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí
Sử dụng phiếu điều tra gửi đến 10 chuyên gia trong lĩnh vực này với các câu hỏi đơn giản về mức
độ quan trọng của các tiêu chí được đánh giá. Từ các kết quả khảo sát ý kiến của 10 chuyên gia,
để xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí từ 1 đên 4.
2.6. Xác định mức độ tuân thủ của từng hoạt động
Mức độ tuân thủ của từng hoạt động sẽ được xây dựng qua quá trình điều tra khảo sát thực
tế và được phân ra thành 3 loại: Tuân thủ tốt – 3 điểm; Tuân thủ trung bình – 2 điểm: Theo khảo
sát, thấy rằng chỉ có khoảng 1/2 các khâu, các bộ phận tuân thủ; Tuân thủ kém – 1 điểm
2.7. Công thức tính toán tổng hợp về công tác quản lý môi trƣờng theo từng hoạt động
của tiêu chí: CT = TC x QT x TT
Trong đó: CT là Đánh giá về công tác quản lý môi trường: TC là điểm đánh giá thực hiện
3.2.3. Bệnh viện Gang Thép
Bệnh viện Gang thép đang hoạt động với quy mô 150 giường bệnh với tổng diện tích xây
dựng 4.193,165 m2; diện tích sử dụng là 3.773,305 m2, tổng biên chế định hình là 69 người. Trong
những năm gần đây, mặc dù đã rất cố gắng chăm lo công tác phát triển y tế, nhưng Bệnh viện
Gang Thép chưa đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh ngày một cao của nhân dân trong tỉnh.
3.2.4. Một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Theo báo cáo năm 2011, các bệnh viện đa khoa huyện Phú Bình, Định Hóa và Võ Nhai số
lượt bệnh nhân đến khám lần lượt là 51.000; 31.000 và 27.000 lượt, đạt 85% kế hoạch năm. Tuy
4
nhiên hiện trạng cơ sở hạ tầng đã xuống cấp, đặc biệt các công trình xử lý môi trường đã xuống
cấp nghiêm trọng, chất thải phát sinh được xử lý không đạt yêu cầu
3.3. Đánh giá về công tác phân loại
Theo phương pháp nghiên cứu dựa trên các tiêu chí đã được xây dựng tại phần chương 2
kết quả đánh giá về công tác phân loại chất thải tại các bệnh viện nghiên cứu cho thấy nhìn chung,
công tác phân loại chất thải tại 3 bệnh viện tuyến huyện chỉ đạt tỷ lệ rất thấp từ 35%-40% so với quy
định đề ra. So sánh với các bệnh viên tuyến tỉnh thì công tác này ít được quan tâm và kết quả thực
hiện kém hơn nhiều. Các tiêu chí được đánh giá là quan trọng thì cũng tuân thủ, song mức độ tuân
thủ cũng chỉ ở mức thấp. Không có bệnh viện nào có hạng mục được tuân thủ đầy đủ, nhiều hạng
mục phải bổ sung. Bệnh viện C là bệnh viện được đánh giá thực hiện công tác phân loại tốt với mức
độ chấp hành tính trung bình lên đến hơn 70%, còn bệnh viện Gang Thép và Viên C thực hiện mức
độ trung bình, thấp nhất là 3 bệnh viên tuyến huyện. Đây cũng là điều dễ hiểu vì khả năng chấp
hành cũng còn phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư từ phía bệnh viện. Điều đó cũng cho thấy sự
khác biệt giữa bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh.
3.4. Đánh giá về công tác vận chuyển chất thải
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có bệnh viện C là có mức độ tuân thủ tương đối tốt, còn
bệnh viện A và bệnh viện Gang Thép và 3 bệnh viện tuyến huyện thì rất kém. Các tiêu chí trong
phần này đều được đánh giá là rất quan trọng, tuy nhiên, hoạt động của các bệnh viện lại cho thấy
có mức độ chấp hành tốt hơn cả. Đối với 3 bệnh viện tuyến huyện kết quả đánh giá công tác này
rất kém, chỉ đạt khoảng 30%. Riêng Biện viện huyện Võ nhai mới cải tạo hệ thống thu gom nước
thải đạt tiêu chuẩn nhưng công tác xử lý vẫn giống tình trạng chung của các bệnh viện tuyến
huyện chưa được quan tâm đầu tư.
3.8. Đánh giá qua các kết quả điều tra phỏng vấn ngoài hiện trƣờng về sự nắm bắt
các quy định quản lý chất thải y tế
Các kết quả phỏng vấn cho thấy, đa phần các cán bộ của các bệnh viện tuyến tỉnh đều đã
được đào tạo về Quy chế quản lý chất thải y tế. Song một số cán bộ do ít được trau dồi nên cũng
không thể nhớ và thực hiện tốt được. Với bệnh viện C thì các cán bộ có nhiều kinh nghiệm và
được trao đổi thường xuyên nên họ nắm khá vững những kiến thức này. Đối với các bệnh viện
tuyến huyện thì kết quả trả lời không chính xác. Mội bệnh viện thường chỉ có một cán bộ được
đào tạo là nắm được quy định nhưng chưa đầy đủ do không được tập huấn thường xuyên. Còn lại
các cán bộ khác chỉ yếu làm việc theo sự chỉ dẫn của đồng nghiệp trước chứ không nắm bắt hiểu
biết đầy đủ bài bản các quy định.
Các kết quả thu thập được từ phiếu điều tra cho thấy, số lượng các cán bộ tham gia trực
tiếp công tác tổ chức của bệnh viện rất ít, 8 người đối với bệnh viện C, 4 người đối với bệnh viện
A và 4 người đối với bệnh viện Gang Thép, đặc biệt ở 3 bệnh viện tuyến huyện chỉ có 3 người.
Đa phần các cán bộ đều phải kiêm nhiệm 2-3 công việc cùng lúc, nhất là những công nhân làm
việc trực tiếp.
3.9. Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xử lý chất thải y tế
tại các bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên
3.9.1. Nguyên nhân các tồn tại trong công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại các bệnh
viện nghiên cứu
6
Nguyên nhân khách quan do thiếu quy định cụ thể, Công nghệ xử lý lạc hậu, thiếu kinh phí,
thiếu phương tiện đẫn đến hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế kém hiệu
quả; Nguyên nhân chủ quan do nhân viên quản lý CTYT, Cán bộ y, Lãnh đạo bệnh viện kiến
thức, thái độ, thực hành về quản lý, xử lý CTYT kém, Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân thiếu
- Bệnh viện C tập huấn, hướng dẫn cho công nhân vận hành tuân thủ quy trình vận hành xử
lý của hệ thống xử lý nước thải (điều tiết lưu lượng, vận hành hệ thống bơm cấp khí) đảm bảo
hiệu quả xử lý đạt tiêu chủân
- Bệnh viện A và Bệnh viện Gang Thép, bệnh viện tuyến huyện: đầu tư mới hệ thống xử lý
nước thải theo quy mô hợp lý như sử dụng công nghệ xử lý nước thải như của bệnh viện C hoặc
Công nghệ Yếm khí – Thiếu khí – Hiếu khí (AAO) phân tán, hệ thống được thiết kế theo dạng
modul.
c/. Xử lý khí thải
7
Do lượng khí thải phát sinh trong hoạt động của 03 bệnh viện nghiên cứu không lớn (phát
sinh chủ yếu trong các phòng xét nghiệm). Do đó, phương pháp thu gom và xử lý bằng hệ thống
các Hotte vẫn sẽ được áp dụng.
8
KẾT LUẬN
Từ thực trạng quản lý chất thải y tế hiện nay của các bệnh viện trong nước nói chung và tại
các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Thái Nguyên đang trở thành vấn đề nóng bỏng thu hút được sự
quan tâm của cả cộng đồng, có ảnh hưởng trực tiếp nghiêm trọng đến sức khỏe và môi trường
nhưng dường như các nhà quản lý bệnh viện, những nhà chức năng vẫn chưa có những biện pháp
chặt chẽ và cứng rắn để đưa vấn đề này vào khuôn khổ. Thực tế cho thấy, các bệnh viện đa khoa
tuyến tỉnh Thái Nguyên đã bước đầu xây dựng được hệ thống quản lý, xử lý chất thải y tế. Đặc
biệt là bệnh viện C đạt kết quả tốt nhất. Nhưng công tác này cho đến nay vẫn còn nhiều hạn chế,
gây ra những vấn đề bức xức đối với sức khoẻ con người và môi trường.
* Thực trạng công tác bảo vệ môi trường tại các bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên còn
một số bất cập:
- Nhân lực phục vụ công tác quản lý chất thải y tế chưa được đào tạo, tập huấn bài bản về
Hà Nội.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường", Hà Nội
4. Bộ Y tế (1998), Quy chế bệnh viện, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
5. Bộ Y tế (2000), Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà
Nội.
6. Bộ Y tế (2002), Quy chế quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
7. Bộ Y tế (2008), "Quy chế quản lý chất thải y tế" Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT/BYT-KCB
ngày 10/10/2008, Bộ Y tế, Hà Nội.
8. DANIDA (2001), Văn kiện dự án Quản lý chất thải y tế tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên.
9. Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Vũ Thị Vựng và CS (2003), "Nghiên
cứu thực trạng, tình hình quản lý chất thải y tế ở 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, đề xuất các
giải pháp can thiệp" , Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội nghị môi trường toàn quốc năm
2005, Hà Nội, Tr 1007 – 1019.
10. Hoàng Thị Liên (2009) “ Nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý
chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên” Luận văn thạc sỹ, Trường Đại
học y dược, Thái Nguyên.
11. Trần Đức Hạ (1998), "Xử lý nước thải bệnh viện trong điều kiện Việt Nam" Tuyển tập các
báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn Quốc, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội.
12. Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất thải rắn ,
Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, (tập 1).
13. Đào Ngọc Phong, Nguyễn Thị Thái, Đỗ Văn Hợi (1998), "Đánh giá ô nhiễm môi trường và
khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội" Kỷ yếu hội thảo Quản lý
chất thải bệnh viện, Hà Nội, tr 18 – 34.
10
14. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2007), Điều tra thống kê nguồn thải và xác định
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Thái Nguyên.