Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
-----------------------

ĐỖ NGỌC QUANG

XÂY DỰNG NỘI DUNG NGOẠI KHÓA NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN CHO SINH VIÊN CHUYÊN SÂU THỂ DỤC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Hà Nội – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
-----------------------

ĐỖ NGỌC QUANG

XÂY DỰNG NỘI DUNG NGOẠI KHÓA NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN CHO SINH VIÊN CHUYÊN SÂU THỂ DỤC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO ĐÀ NẴNG


Trang
MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

5

1.1. Giáo dục đại học ở nƣớc ta.

5

1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về giáo dục đại học.

5

1.1.2. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc đến đào tạo cán bộ
quản lý, giáo viên, huấn luyện viên và hoạt động tập luyện ngoại
khóa Thể dục thể thao cho đối tƣợng học sinh, sinh viên các cấp.

7

1.1.3. Chất lƣợng đào tạo đại học.

8

1.1.4. Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ.

10


21

1.4.2. Khái niệm về trình độ chuyên môn.

28

1.5. Đào tạo môn chuyên sâu Thể dục tại Trƣờng Đại học TDTT
Đà Nẵng.

29

1.5.1. Đặc điểm môn chuyên sâu Thể dục.

29

1.5.2. Phân loại Thể dục.

30

1.5.3. Đặc điểm cơ bản hoạt động ngoại khóa của sinh viên
chuyên sâu Thể dục Trƣờng Đại học TDTT Đà Nẵng.
1.5.4. Những yêu cầu chung khi xây dựng nội dung tập luyện

33


ngoại khóa cho Sinh viên CSTD Trƣờng Đại học TDTT Đà Nẵng.

34

50

2.2.1. Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

50

2.2.2. Phƣơng pháp phỏng vấn, tọa đàm.

51

2.2.3. Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm.

51

2.2.4. Phƣơng pháp kiểm tra sƣ phạm.

52

2.2.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm.

55

2.2.6. Phƣơng pháp toán học thống kê.

56

2.3. Tổ chức nghiên cứu.

58


môn chuyên sâu Thể dục.

79

3.1.5. Sự cần thiết của việc tổ chức tập luyện ngoại khóa nâng cao
trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục.

86

3.1.6. Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1.

88

3.2. Xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên
chuyên sâu Thể dục Trƣờng Đại học TDTT Đà Nẵng.

96

3.2.1. Cơ sở xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho
sinh viên chuyên sâu Thể dục Trƣờng Đại học TDTT Đà Nẵng.

96

3.2.2. Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên
môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục.

103

3.2.3. Xây dựng chƣơng trình ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu
Thể dục Trƣờng Đại học TDTT Đà Nẵng.


131

2. Kiến nghị.

132

3. Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có
liên quan đến luận án.
4. Tài liệu tham khảo.


DANH MỤC BIỂU BẢNG
STT
3.1

3.2

3.3

3.4

3.5

3.6

3.7
3.8
3.9


65

66

67

68
69
71

72

Thực trạng nhận thức về vai trò, tác dụng của việc tập luyện
3.11

ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục đối với việc nâng cao

73

trình độ chuyên môn
3.12

Ý kiến phản hồi của sinh viên chuyên sâu Thể dục về hứng thú,
mức độ, thời gian, thời điểm và địa điểm ngoại khóa

74


3.13
3.14

Năng lực tổ chức giờ học và triển khai phương pháp giảng dạy
của sinh viên chuyên sâu Thể dục năm thứ 3
Ý kiến phản hồi của cựu sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường
Đại học TDTT Đà Nẵng sau khi tốt nghiệp
Ý kiến phản hồi của đơn vị cựu sinh viên chuyên sâu Thể dục
công tác
Ý kiến phản hồi về lĩnh vực công tác của sinh viên chuyên sâu
Thể dục sau tốt nghiệp
Ý kiến phản hồi nội dung chuyên sâu được sử dụng trong công
tác sau tốt nghiệp của sinh viên
Ý kiến phản hồi của đơn vị tuyển dụng của đơn vị tuyển dụng
về các nội dung Thể dục cụ thể
Ý kiến phản hồi của sinh viên về sự cần thiết của việc tổ chức
tập luyện ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục

74
75

76

77

77

78

80

81



viên chuyên sâu Thể dục
Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn nội dung xây dựng chương
3.28

trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nữ sinh

105

viên chuyên sâu Thể dục
Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả
3.29

nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh

115

viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả
3.30

nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh

115

viên viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
3.31

3.32



127


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
3.1

NỘI DUNG
Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của hai
nhóm trước thực nghiệm sư phạm

TRANG
119

Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai
3.2

phương pháp giảng dạy - kết quả học tập của hai nhóm

120

trước thực nghiệm
3.3

Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của nam
sinh viên chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm
Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai

125


TRANG
114


DANH MỤC VIẾT TẮT

CHXHCN:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CLB:

Câu lạc bộ

CTĐT:

Chương trình đào tạo

CSTD:

Chuyên sâu Thể dục

GD:

Giáo dục

GD – ĐT:

Giáo dục và Đào tạo


Sinh viên

TDTT:

Thể dục thể thao

TD:

Thể dục

VĐV:

Vận động viên


1
PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục là nền tảng cơ bản để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư cho sự phát triển. Bất cứ quốc gia nào muốn đạt được các mục tiêu đề
ra cần phải phát triển giáo dục, bởi vì giáo dục gắn với việc đào tạo con
người, nhân tố quan trọng nhất trong các nguồn lực để phát triển đất nước.
Trong các bậc học ở nước ta, giáo dục đại học không chỉ giúp người
học lĩnh hội tri thức ở mức độ cao nhất, sự trưởng thành về kiến thức mà còn
là cơ hội để họ đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân. Hơn nữa, giáo dục
đại học còn đào tạo ra những người lao động có giá trị làm việc, giá trị kinh
tế, mức độ cống hiến, đóng góp…lớn nhất cho xã hội. Chính vì vậy, giáo dục
đại học rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng đầu tư.
Giáo dục đại học trên thế giới đã khẳng định đào tạo theo hệ thống tín

khóa phù hợp, khoa học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập luyện.
Trong quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ thống lý luận và
thực tiễn của công tác đào tạo liên quan đến giờ học không chính khóa, đã có
sự đóng góp rất đáng trân trọng của nhiều giảng viên, nhà khoa học, chuyên
gia, các nhà quản lý TDTT có kinh nghiệm như tác giả Mai Thị Thu Hà
(2014) “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện và thi đấu Thể dục Aerobic trong hoạt
động ngoại khoá đối với học sinh tiểu học” [27]. Nguyễn Văn Long (2010)
“Nghiên cứu đề ra các giải pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá nhằm nâng
cao hiệu quả học tập môn Điền kinh cho sinh viên Trường Đại học TDTT Đà
Nẵng” [43]. Nguyễn Mạnh Hùng (2015) “Đánh giá sự hứng thú đối với môn
Thể dục dụng cụ của sinh viên khoa giáo dục thể chất Trường Đại học Vinh”
[37]. Phạm Việt Hùng (2015), “Thực trạng hoạt động ngoại khóa môn học
thực hành của sinh viên khóa 48 ngành Quản lý Thể dục thể thao Trường Đại
học TDTT Bắc Ninh” [38].
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ là định hướng mang tính


3

lý luận về cách tiếp cận các nội dung và hình thức tập luyện ngoại khóa cho
học sinh, sinh viên. Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào
xây dựng hoàn chỉnh nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu
Thể dục để nâng cao trình độ chuyên môn. Vì vậy, với mong muốn góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo môn CSTD, tôi chọn đề tài: “Xây dựng nội dung
ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể
dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng”.
Mục đích nghiên cứu: Xây dựng nội dung ngoại khóa phù hợp cho
sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng. Thông qua đó, nâng cao
trình độ chuyên môn cho sinh viên CSTD và góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo chung của nhà trường.

tượng sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây
dựng cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng.
Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng và
hoàn thiện quá trình nghiên cứu.
Giả thuyết khoa học: Tổ chức tập luyện khoa học, bài bản các nội
dung ngoại khóa đã xây dựng thì trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD sẽ
được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về
TDTT cho đất nước.


5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Giáo dục đại học ở nƣớc ta.
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục
và đào tạo thế hệ trẻ, coi đó là quốc sách hàng đầu.
Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta
khẳng định, một trong những nhiệm vụ cốt yếu để phát triển trí tuệ cho
nhân dân là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo và khoa học
công nghệ. Vì vậy, từ Nghị quyết Đại hội VII, Đảng ta đã coi giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến các kỳ Đại
hội Đảng VIII, IX, X, XI, XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối phát
triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quán triệt quan điểm coi
giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Trải qua các cuộc cải cách có đánh giá kết quả và đúc rút kinh nghiệm
từ thực tiễn, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đưa ra Kết luận số 51KL/TW, ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ 6: “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ

Trung ương Đảng và Chỉ thị số 1973-CT/Tg, ngày 07/11/2011 của Thủ tướng
Chính phủ đã nhấn mạnh: “Tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo
trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường
chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp” [71].
Tóm lại, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, nhất
là giáo dục đại học, coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí rất quan
trọng trong chiến lược giáo dục của đất nước. Bởi vì, chỉ có tự học, tự bồi đắp
tri thức bằng nhiều con đường mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về


7
tri thức khoa học, về đời sống xã hội. Vì vậy, giáo dục SV có khả năng tự học,
tự nghiên cứu, làm việc độc lập là rất cần thiết trong xu thế phát triển của xã
hội hiện đại, giúp SV ra trường có thể thích nghi với môi trường làm việc mới
và không bị bỡ ngỡ, mất thời gian để thích ứng hoặc phải đào tạo lại.
1.1.2. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến đào tạo cán bộ quản
lý, giáo viên, huấn luyện viên và hoạt động ngoại khóa Thể dục thể thao
cho đối tượng học sinh, sinh viên các cấp.
Để tăng cường thể chất cho nhân dân trong thời kỳ kháng chiến. Trên
báo Cứu quốc, ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi toàn
dân tập thể dục, chính Người đã nêu gương: “Tự tôi, ngày nào cũng tập" [35].
Điều 20, Luật Thể dục, thể thao (2006) đã nêu rõ: “Hoạt động thể thao
trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo
phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ
nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển
năng khiếu thể thao” [58].
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, thể
thao đến năm 2020: “Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở

khỏe của các tầng lớp nhân dân phục vụ công cuộc đổi mới và xây dựng đất
nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.3. Chất lượng đào tạo đại học.
Đào tạo là một hoạt động được tổ chức có hệ thống theo một trình tự
nhất định để trang bị, truyền thụ cho người học kỹ năng thực hiện nghề
nghiệp và động lực làm việc, tạo ra giá trị của cải cho xã hội. Nâng cao chất
lượng đào tạo đại học giúp SV có những kỹ năng, kiến thức, tư duy sáng tạo,
có khả năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động nhân lực.
Nguyễn Như Ý (1998), từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc, cải tạo nên bản chất sự
vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [90].


9
Nguyễn Đức Chính: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hay sự
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chất lượng là một khái niệm mang tính
tương đối, rộng, đa chiều và với những người khác nhau có những ưu tiên
khác nhau khi xem xét nó” [16].
Hoàng Phê và cộng sự (1998): “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [57].
Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh: “Chất lượng là sự tuyệt hảo,
hoàn mỹ, chuẩn mực cao” [20].
Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Do
con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về chất
lượng cũng khác nhau. Nói như vậy, không phải chất lượng là một khái niệm
quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương
đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. Tuy nhiên, cần tuân thủ một
số đặc điểm sau của khái niệm chất lượng: Chất lượng được đo bởi sự thỏa
mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu
chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém. Do chất lượng được đo bởi sự

trình đào tạo. Các nhà khoa học cho rằng: “Sản phẩm được coi là có chất
lượng khi chúng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng” [33].
Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục đại học được quy định: “Kiểm
định chất lượng giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 5 năm/lần” [5].
Xu thế toàn cầu hóa trong giáo dục đại học đang diễn ra mạnh mẽ, sự
cạnh tranh có mức độ khốc liệt lớn. Trong cuộc cạnh tranh đó, trường nào có
thương hiệu mạnh sẽ thắng cuộc và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chính
là thương hiệu mạnh của trường đó.
1.1.4. Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ.
Nghị quyết số 06/NQ-CP, ngày 07/3/2012 về việc ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
và đào tạo” [17].


11
Phần 3, điều 3, Quyết định số 17/2014/VBHN-BGDĐT, ngày
15/5/2014 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành quy chế đào tạo cao đẳng, đại học
chính quy theo hệ thống tín chỉ đã quy định rõ: “Đối với những học phần lý
thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải
dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [8].
Nguyễn Trọng Hải (2013), trong bài viết: “Vài nét về đào tạo tín chỉ và
một số nhiệm vụ, giải pháp của việc đào tạo tín chỉ trong các cơ sở giáo dục
đại học của ngành Thể dục, thể thao”, tín chỉ cũng tương tự như đơn vị học
trình, đều là đơn vị đo khối lượng học tập của người học, nhưng khác ở chỗ
người học phải mất 15 giờ chuẩn bị cá nhân để tiếp thu 1 đơn vị học trình,
trong khi phải mất 30 giờ mới tiếp thu được 1 tín chỉ. Nghĩa là học chế tín chỉ
đòi hỏi thời gian tự học nhiều hơn [30].
Bản chất của phương pháp đào tạo này là phát huy tính tích cực, chủ
động, trong đó tự học, tự nghiên cứu là yếu tố quyết định kết quả học tập của
SV được đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Có thể khẳng định, tự học là hình thức

dự một số hội nghị và đại hội của Quốc tế Cộng sản năm 1924, Người đều ghi
ở phần trình độ học vấn là: Tự học. Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề SV
quốc tế họp ở Việt Nam, Người kể: “Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu
học... Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần
đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên...” [45].
Ngày 17/8/1962, nói chuyện với giáo viên, học sinh trường Thanh niên
lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, Bác kể lại: “Trước đây lúc tuổi thanh
niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động, vừa học tập, nhưng lúc đó lao
động là lao động nô lệ cho đế quốc. Bác phải làm thế để tự kiếm sống, nhưng
vẫn dành thì giờ để học tập, ngày lao động, đêm học tập, chứ Bác không được
đến trường học đâu” [47].
Người quan niệm: “Tự học là cách học tự động và phải biết tự động
học tập. Tự động học tập tức là tự học một cách tích cực tự giác, chủ động


13

không cần ai phải nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ
động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai thực hiện kế
hoạch đó một cách tự giác tích cực, tự mình làm chủ thời gian để học và tự
mình kiểm tra đánh giá việc học của mình” [46].
Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình
tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm….người tự học hoàn toàn làm chủ mình,
muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được” hay: “Tự học là cần
thiết nhưng không phải là một sự bắt buộc; ta hoàn toàn được tự do, tự chủ,
nhờ vậy nó là một cái thú” [42].
Tự học là hình thức hoạt động cá nhân do bản thân người học nỗ lực
thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hay ngoài lớp. Có thể
diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và trong suốt cả cuộc đời” hay “Tự
học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội trong hoạt động thực tiễn của

các hành động như vậy. Khi con người có nhu cầu thực sự sẽ nảy sinh ra tính
tích cực tự giác hoạt động, học tập, lao động: “Nguồn gốc của tính tích cực và
hoạt động cá nhân của con người là nhu cầu” [88].
Tự học phải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, tự giác và hoàn toàn
không có sự ép buộc hoặc áp lực từ bất cứ điều gì thì nó sẽ có hiệu quả cao
nhất, có nghĩa là nó phải mang đến hứng thú nhất định cho đối tượng tự học.
Tính tích cực của tự học trong giáo dục và đào tạo đã được thấy rõ. Tuy
nhiên, nếu tự học không có phương pháp, không có đường lối và sự hướng
dẫn của thầy cô thì sẽ dẫn đến những sai lầm, làm lãng phí thời gian, công sức
của người học. Hơn nữa, việc sửa chữa lại những sai lầm đã được định tính,
ăn sâu lại càng khó khăn hơn việc thực hiện giảng dạy, học tập ban đầu.
Nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo (2013), khi bàn về vấn đề tự học đã
nêu: “Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy
cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa
những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết” [32].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status