ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Tiểu luận kết thúc học phần môn
Phương pháp nghiên cứu khoa học về đề tài:
NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
1
TP.HCM – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của nhóm. Các
số liệu và tư liệu được dựa trên nguồn tin cậy và dựa trên thực tế tiến hành khảo
sát của chúng tôi. Chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên
cứu của mình.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 6 năm 2018
Nhóm tác giả Tiểu luận
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................5
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ CHÁY VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY..................................................................9
1.1 Khái quát chung về cháy...................................................................9
1.1.1 Khái niệm cháy...................................................................................9
3
2.3.2 Kỹ năng PCCC của sinh viên trường Đại học Sài Gòn.................22
2.3.3 Hiệu quả của việc tuyên truyền, giáo dục của nhà trường về công
tác PCCC cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn....................................23
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC SÀI GÒN..........................................................................................24
3.1 Tuyên truyền, giáo dục sinh viên nâng cao nhận thức, trách
nhiệm trong công tác phòng cháy chữa cháy......................................24
3.1.1 Nội dung tuyên truyền......................................................................24
3.1.2 Cách thức tuyên truyền....................................................................28
3.2 Tổ chức phổ cập kỹ năng PCCC cho sinh viên trường Đại học Sài
Gòn..........................................................................................................29
3.2.1 Nội dung phổ cập..............................................................................29
3.2.2 Cách thức phổ cập............................................................................35
3.3 Khen thưởng và xử phạt.................................................................35
3.3.1 Khen thưởng.....................................................................................35
3.3.2 Xử lý vi phạm....................................................................................35
KẾT LUẬN................................................................................................36
PHỤ LỤC...................................................................................................37
4
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Bình bột MFZ4....................................................................................14
hợp đáng tiếc xảy ra cho cộng đồng và xã hội. Ở các đô thị lớn, đông dân cư thì
cháy nổ càng dễ trở thành thảm họa, việc phòng cháy vì thế cần phải trở thành
một nguyên tắc sống, ăn sâu bám rễ vào ý thức của từng người dân. Mỗi người
hãy tạo cho mình lượng kiến thức nhất định về công tác phòng cháy và chữa
cháy.
6
Thực tế, trường học là nơi tập trung số lượng lớn học sinh, sinh viên, giáo
viên, giảng viên, cán bộ nhân viên phục vụ để duy trì công việc học tập, giảng
dạy, với số lượng lớn tài sản như: Phòng tin học, thư viện, phòng thiết bị, ví
nghiệm… sẽ dễ gây ra những vụ cháy nổ nghiêm trọng.
Các trường học nói chung và trường Đại học Sài Gòn nói riêng, hầu hết
đều có cơ sở rộng rãi, số lượng cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên rất lớn và
với nhiều trang thiết bị, tài sản phục vụ cho việc học tập, giảng dạy. Đặc biệt
Trường Đại học Sài Gòn có đến 5 cơ sở bao gồm cả Trường Trung học Thực
hành Sài Gòn. Chính vì thế mà việc triển khai công tác PCCC là hết sức cấp
bách. Việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến thức, kỹ năng về PCCC cho sinh
viên, giảng viên và cả cán bộ trường là hết sức cấp thiết, giúp sinh viên, giảng
viên, cán bộ trường nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt công tác phòng ngừa,
nâng cao hiểu biết, kỹ năng xử lý các tình huống khi có cháy nổ xảy ra . Từ đó
nhóm tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao kiến thức và kĩ năng PCCC cho sinh
viên trường Đại học Sài Gòn” để làm bài tiểu luận tổng kết môn học Phương
pháp nghiên cứu khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Trong bối cảnh đất nước không ngừng xây dựng và phát triển thì công tác
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ càng chiếm giữ một vai trò quan
trọng. Trong 10 năm trở về đây, có nhiều nghiên cứu về đề tài PCCC với nhiều
nhóm đối tượng khác nhau và ở các phạm vị khác nhau; một số đề tài tiêu biểu
trường Đại học Sài Gòn và bản thân ý thức của sinh viên đại học Sài Gòn mà
không mang tính ép buộc hay gượng ép.
Về không gian: luận văn nghiên cứu tại Trường Đại học Sài Gòn
Về thời gian: Nghiên cứu cách thức nâng cao kiến thức và kĩ năng PCCC
cho sinh viên Đại học Sài Gòn giai đoạn hiện tại cũng như làm tiền đề cho tương
lai.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Để làm rõ vấn đề nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng gồm:
9
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu tài liệu,
phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng khảo sát
trực tuyến.
7. Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài này gồm 3
chương 8 tiết
CHƯƠNG 1:
KHÁI NIỆM VỀ CHÁY VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
1.1 Khái quát chung về cháy
1.1.1 Khái niệm cháy
Bản chất của quá trình cháy được các nhà khoa học đề cập nghiên cứu,
- Chất cháy ở thể lỏng: Xăng, dầu, benzen, axêtôn.
- Chất cháy ở thể khí: axêtylen (C2H2), Ôxitcacbon (CO), Mêtan (CH4).
1.1.2.2 Nguồn nhiệt
Trong thực tế sản xuất và đời sống, có nhiều loại nguồn nhiệt khác nhau
có thể gây cháy như:
- Nguồn nhiệt trực tiếp: ngọn lửa trần (bếp lửa, đèn thắp sáng, bật diêm,
đóm…)
- Nguồn nhiệt do ma sát sinh ra: ổ bị thiếu dầu mỡ, ma sát giữa sắt với
sắt…
- Nguồn nhiệt do phản ứng hóa học giữa các chất khi tác dụng với nhau
- Nguồn nhiệt do sét đánh
- Nguồn nhiệt do điện sinh ra như: chập mạch, quá tải tiếp xúc kém, hoặc
sử dụng các dụng cụ tiêu thụ điện đốt nóng.
11
1.1.2.3 Nguồn Ôxy (O2)
Ôxy là thành phần tham gia phản ứng cháy và duy trì sự cháy; Để duy trì
sự cháy cần có từ 14%-21% hàm lượng ôxy trong không khí. Nếu hàm lượng ôxy
thấp hơn thì đám cháy khó có thể phát triển được.
Trong thực tế, cá biệt một số loại chất cháy khi cháy cần rất ít thậm chí
không cần cung cấp ôxy từ môi trường bên ngoài, vì bản thân chất cháy đã chứa
đựng thành phần ôxy, dưới tác dụng của nhiệt, chất đó sinh ra ôxy để duy trì sự
cháy. Ví dụ: Clorat Kaly (KCLO3), Permanaganátkaly (KMnO4), Nitơrat amôn
(NH4NO3),…
Việc xác định yếu tố cần thiết cho sự cháy có ý nghĩa thực tiễn quan trọng
trong công tác phòng cháy, chữa cháy, giúp cho việc chọn phương án phòng cháy
hoặc chữa cháy vích hợp nhất. Bởi vì muốn ngăn ngừa nạn cháy hoặc dập tắt
đám cháy, chỉ cần loại trừ một trong 3 yếu tố trên.
1.1.3 Những nguyên nhân thường gây cháy
(thuốc nhuộm) như vụ cháy kho hóa chất Đức Giang.
- Tự cháy do quá trình tách nhiệt: thuốc lá, nguyên liệu cám, bột cá nhạt…
chất thành đống do quá trình sinh hỏa tách nhiệt: một số loại dầu thảo mộc như
dầu gai, dầu bóng…. Do quá trình ôxy hóa, nhiệt độ tăng lên dẫn nhiệt độ bắt
cháy vích ứng sẽ tự bốc cháy.
- Tự cháy do tác động của các hóa chất.
1.2 Tổng quan về công tác PCCC
1.2.1 Phương pháp phòng cháy
Loại trừ chất cháy:
- Những nơi cần thiết phải có nguồn nhiệt hoặc có thể phát sinh nguồn
nhiệt, cần loại trừ những chất cháy không cần thiết, nhất là những chất dễ cháy,
ví dụ: không để xăng dầu trong bếp đun nấu, không dùng giấy, vài làm chao đèn
hoặc phơi quần áo sát bóng điện.
- Hạn chế khối lượng chất cháy: cần có quy định cụ thể để hạn chế khối
lượng nguyên, nhiên vật liệu nhất là những chất dễ cháy, ở những nơi sản xuất
13
phải sử dụng đến xăng, dầu cần quy định số lượng đủ dùng trong một ca sản
xuất.
- Thay chất dễ cháy bằng những chất không cháy hoặc khó cháy hơn. Hiện
nay nước ta có nhiều nhà bếp, nhà ở, kho, phân xưởng sản xuất là bằng tre nứa
lợp lá, giấy dầu. Nếu thay thế các vật liệu đó bằng gạch, bê tông lợp ngói thì
những công trình đó ít gây cháy hơn.
- Bọc kín chất cháy: dùng các chất không cháy bọc kín các cấu kiện được
làm bằng vật liệu dễ cháy ở các công trình, ví dụ: dùng sơn chống cháy phủ lên
trần cót, gỗ ốp tường các nhà hát… hoặc bảo quản các chất lỏng, khí dễ cháy
bằng các bình kín, ví dụ: đựng xăng vào can sắt có nắp đậy kín.
- Cách ly chất cháy với nguồn nhiệt: là phương pháp dùng các thiết bị để
pháp này còn có ý nghĩa chống cháy lan tạo ra một sự ngăn cách giữa vùng cháy
với môi trường xung quanh chưa bị cháy.
Làm ngưng trệ phản ứng cháy: Đưa chất chữa cháy vào gốc lửa làm cho
phản ứng cháy chậm lại hoặc không thực hiện được. Ví dụ phun bọt chữa cháy
hoặc cát vào bề mặt của đám cháy, các chất dạng bột này bám chặt vào gốc lửa
vừa có tác dụng giảm nhiệt độ vừa hạn chế lượng ôxy cung cấp cho đám cháy.
1.2.3 Các chất chữa cháy và dụng cụ chữa cháy
1.2.3.1 Các chất chữa cháy
Nước
- Nước là chất thường dùng để chữa cháy vì có sẵn trong thiên nhiên, sử dụng
đơn giản và chữa được nhiều đàm cháy.
- Dùng nước chữa cháy có hai tác dụng:
+ Nước có khả năng thu nhiệt lớn nên có tác dụng làm lạnh.
+ Nước bốc hơi (một lít nước thành 1720 lít hơi) nên tạo thành màng ngăn
ôxy với vật cháy có tác dụng làm ngạt.
- Chú ý: không dùng nước để chứa các đám cháy kỵ nước: không dùng nước
để chữa cháy xăng dầu, vì xăng dầu nhẹ hơn nước không hòa tan trong nước nên
15
gây cháy lan. Khi đám cháy có điện trước tiên phải ngắt điện mới chữa cháy
bằng nước.
- Để dùng nước chữa cháy cần có bể, phuy để chứa nước. Đối với những cơ
sở, kho tàng cần có ao hoặc bể lớn để trữ nước chữa cháy.
- Áp dụng cho đám cháy: lớp A, không dùng cho lớp B và C
Cát:
- Cũng như nước, cát dùng để chữa cháy rất phổ biến vì sử dụng đơn giản dễ
kiếm và có hiệu quả tốt đối với nhiều loại đám cháy. Tác dụng chữa cháy của cát
là làm ngạt và có khả năng làm ngừng trệ phản ứng cháy. Đối với chất lỏng cháy,
cát còn có tác dụng ngăn cháy lan, dùng cát đắp thành bờ.
thì chỉ định dập tắt đám cháy loại đó có hiệu quả( như bột ABC, BC, AB). Bên
trong bột chữa cháy thì có đến 80% là NaHCO3
-Bình bột chữa cháy có nguyên lý chữa cháy là “Làm loãng nồng độ Oxy và
hỗn hợp chất cháy” và nó hoạt động như sau:
+ Bột NaHCO3 trong chất chữa cháy sẽ tác dụng với nhiệt trong đám cháy để
sinh ra khí CO2 “làm ngạt” đám cháy. Khí CO2 sinh ra sẽ khiến cho vùng cháy
xung quanh nó không đủ Oxy để cung cấp duy trì sự cháy, dẫn tới việc đám cháy
tự tắt đi.
+ Vậy khí CO2 sinh ra từ phản ứng hóa học của muối NaHCO3 bị phân hủy
khi có tác dụng của nhiệt độ theo phương trình phản ứng sau:
NaHCO3 Na2CO3 + CO2 + H2O.
Vì NaHCO3 khi bị phân hủy bởi nhiệt sẽ tạo ra Na2CO3 nên khi sử dụng
bình chữa cháy dạng bột thì sau khi đã dập tắt được đám cháy sẽ để lại hóa chất
cặn từ bột chữa cháy (Na2CO3).
1.2.3.2 Dụng cụ chữa cháy
Các dụng cụ để đưa nước lên đám cháy:
- Đối với các đám cháy lớn phải dùng bơm chữa cháy: Thuận tiện nhất
cho mỗi cơ sở là dùng bơm cải tiến để chữa cháy. Bơm cấu tạo đơn giản khi sử
17
dụng cần 8 người khiêng bơm đến đám cháy, một người chỉ huy, một người cầm
lăng phun, 4 người bơm, 2 người đổ nước.
- Nếu được cung cấp nước đầy đủ, bơm cải tiến có thể đạt lưu lượng nước
150 lít/phút, tầm phun xa đến 15m. Hiện nay bơm cải tiến là dụng cụ chữa cháy
ban đầu rất hiệu quả được sử dụng ở các cơ sở sản xuất, kho tàng và khu vực tập
trung dân cư.
Các loại bình chữa cháy:
Bình chữa cháy dạng bột:
thể dập tắt hiệu quả đám cháy
xăng, dầu hỏa, paraphin…
trên thiết bị điện tử tinh vi
+ Bột chữa cháy khó bị ẩm hay vón cục, thời
(nhạy-có độ chính xác cao),
gian bảo quản dài, an toàn.
nhưng hóa chất cặn từ chất
+ Bột chữa cháy không độc, an toàn với
chữa cháy có thể làm hư hại
người, gia súc và môi trường xung quanh.
nghiêm trọng thiết bị được bảo
+ Không nguy hiểm khi chẳng may tiếp xúc
vệ.
vào người.
+ Thời gian nạp lại bình nhanh và đơn giản.
+ Tổng trọng lượng bình nhẹ, cơ động.
+ Giá rẻ, chi phí tốt
các đám cháy thông thường hiện
+ Không chữa đám cháy trong căn phòng
nay, từ đám cháy loại A, B, C, E.
kín mà không có lối thoát an toàn.
Bình chữa cháy dạng bọt FOAM:
20
Hình 1.3. Bình chữa cháy FOAM
Ưu điểm:
Nhược điểm:
+ Không độc hại, an toàn
+ Phải đảm bảo bọt phủ kín phạm vi đám cháy
đối với người và môi
mới có hiệu quả, do đó, lượng bọt sử dụng sẽ
trường xung quanh.
lớn.
quận 8, thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một vụ cháy hết sức nghiêm trọng
khiến 13 người chết và 91 người bị thương trong đó có nhiều người cùng thuộc
một gia đình thiệt mạng. Đa số những người bị thiệt mạng là do ngạt khói. Đó
chính là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai lơ là về công tác PCCC cũng như là
kỹ năng thoát hiểm khi xảy ra cháy. Nếu mọi người có thêm kĩ năng xử lí tình
huống thoát hiểm khi cháy nổ thì có lẽ hậu quả sẽ không tồi tệ như vậy.
Mỗi cá nhân trang bị cho bản thân kiến thức và kĩ năng PCCC không
những giúp cho chính bản thân mình mà còn giúp ích cho xã hội, cho những
người khác để không xảy ra những tai nạn cháy nổ gây thiệt hại nặng nề về tính
mạng con người như sự kiện vừa qua.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
2.1 Thực trạng về kiến thức PCCC
2.1.1 Kết quả đã đạt được
Hầu hết sinh viên trường đại học Sài Gòn đều nhận thức được rõ ràng sự
cần thiết của kiến thức PCCC, ý thức được tác hại khi có xảy ra cháy nổ.
22
Một số lượng sinh viên đã nắm bắt được các kiến thức về phòng cháy
chữa cháy cơ bản.
Có mối quan tâm đến các hoạt động PCCC thông qua các phương tiện
truyền thông, có ý thức tự tìm hiểu trao dồi kiến thức về PCCC.
2.1.2 Những hạn chế
Một số lượng sinh viên dường như không có các kiến thức cơ bản của
của con người. Đa phần người dân, các hộ kinh doanh vẫn còn chủ quan, lơ là,
chưa quan tâm đúng mức tới việc phòng chống cháy nổ trong mỗi gia đình, cơ sở
sản xuất kinh doanh của mình, thiếu kiến thức phòng cháy chữa cháy. Điều đó,
đã dẫn đến những vụ hoả hoạn đáng tiếc. Vậy nên sinh viên trường Đại Học Sài
Gòn cần phải thường xuyên tiếp cận kiến thức về phòng cháy, chữa cháy để
phòng tránh, đem các kiến thức về phòng cháy chữa cháy in thành tài liệu và trở
thành môn học bắt buộc trong các buổi học ngoại khóa.
2.3.2 Kỹ năng PCCC của sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Kỹ năng phòng cháy chữa cháy cần được nâng cao, cần có những buổi
học tập huấn các bài huấn luyện ngoài trời về kỹ năng phòng cháy chữa cháy.
nhất là các biện pháp phòng cháy tại chỗ, hạn chế thấp nhất tình trạng bùng phát,
lây lan của vụ hỏa hoạn trước khi lực lượng phòng cháy, chữa cháy tiếp cận hiện
trường để xử lý, cần phải tạo hứng thú cho sinh viên như các cuộc thi về kỹ năng
chữa cháy.
2.3.3 Hiệu quả của việc tuyên truyền, giáo dục của nhà trường về công
tác PCCC cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn
Các bài khảo sát về đánh giá trên từ đó thấy được nhà trường có vai trò
rất quan trọng trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng về phòng cháy chữa
cháy của sinh viên trường đại học Sài Gòn. Nhà trường đã tổ chức các buổi
sinh hoạt về việc phòng cháy chữa cháy, các buổi tuyên truyền các hoạt động
tham gia vui chơi để tìm hiểu về phòng cháy chữa cháy cho toàn thể sinh viên
trường đại học Sài Gòn.
Kiến nghị
24
- Nhà trường cần thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, xây dựng các
điển hình tiên tiến về PCCC. Việc tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến pháp luật,