Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ

PHAN VIỆT TUẤN

Hà Nội - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số:

Họ và tên:
Giáo viên hướng dẫn:

Hà Nội - 2018


i

2.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống ..............25
2.3.1 Công trình nghiên cứu ..........................................................................25
2.3.2 Lược khảo các công trình nghiên cứu ..................................................28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................29
3.1 Phương pháp nghiên cứu............................................................................29
3.1.1 Quy trình nghiên cứu ............................................................................29
3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu................................................................................30
3.1.3 Mô hình nghiên cứu và thang đo ..........................................................30
3.1.4 Phương pháp xử lý số liệu .....................................................................31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...........................................................34
4.1 Thống kê mô tả ...........................................................................................34
4.2 Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống
...........................................................................................................................41
4.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị (ADF) ...........................................................41


iii
4.2.2 Kiểm định đồng liên kết Cointegrated Test của Johansen (1991) .........42
4.2.4 Phân tích mô hình VECM .....................................................................45
CHƯƠNG 5 :KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ............................................................55
5.1 Kết luận .......................................................................................................55
5.2 Các kiến nghị ..............................................................................................56
5.2.1 Về phía Nhà nước..................................................................................56
5.2.2 Về phía các doanh nghiệp trong nước...................................................56
5.3 Hạn chế nghiên cứu ....................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................58
PHỤ LỤC .............................................................................................................60


iv


Tổng sản phẩm quốc nội

GNP

Gross National Product

Tổng sản phẩm quốc dân

HDI

Human Development Index

Chỉ số phát triển con
người

QOL

Quality of Life

VN

Chất lượng cuộc sống
Việt Nam

WB

World Bank

Ngân hàng thế giới

Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu ..............................................................................29
Hình 4.2. Hàm phản ứng xung mô hình 1...............................................................49
Hình 4.3. Hàm phản ứng xung mô hình 2...............................................................50
Hình 4.4. Hàm phản ứng xung mô hình 3...............................................................51
Hình 4.5. Hàm phản ứng xung mô hình 4...............................................................52



1

CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
Việt Nam đang có những bước chuyển mình rõ rệt trong bối cảnh nền
kinh tế tri thức bùng nổ mạnh mẽ và đang dần trở thành một nước công nghiệp
hiện đại. Năm 2017 đánh dấu kỷ lục bằng những con số về tăng trưởng kinh
tế, kim ngạch thương mại, lượng khách du lịch và đầu tư nước ngoài. Tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2017 cao nhất trong 10 năm trở lại đây, đạt
mức 6,81% so với kế hoạch 6,7% do Quốc hội đề ra; GDP đầu người năm
2017 vượt ngưỡng 53,5 triệu đồng/năm (tương đương 2.835 USD, tăng 170
USD so với năm 2016).
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã xếp hạng năng lực cạnh tranh của
Việt Nam nâng lên 5 bậc, đứng thứ 55/137; Ngân hàng Thế giới (WB) xếp
hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng lên 14 bậc, đứng thứ
68/190 các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng ghi nhận những con
số ấn tượng, vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,5 tỷ USD (tăng 10,8% so với cùng
kỳ 2016). Tổng mức lưu chuyển hàng hoá XNK vượt mốc 400 tỷ USD.
2017 cũng là năm Việt Nam đón lượt khách du lich thứ 13 triệu, tăng
29% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu từ du lịch ước tính đạt 35,9 nghìn
tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.
Hơn một thập niên trôi qua kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh

Từ thực tiễn cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế qua GDP, GNP cao
không luôn đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế nhanh, bền vững mà thậm
chí đôi lúc còn phát sinh và làm gia tăng những bất công trong xã hội, dẫn đến
chất lượng cuộc sống của một bộ phận lớn những người dân bị suy giảm.
Đã có nhiều nghiên cứu khoa học cả trong và ngoài nước chỉ ra rằng,
có mối quan hệ tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc
sống. Esterlin và Angelescu Laura (2007) đã sử dụng mô hình chuỗi thời gian
Vecto (VECM) để phân tích chứng minh tăng trưởng kinh tế dẫn đến việc cải
thiện chất lượng cuộc sống; Hae S. Kim (2017) đã có nghiên cứu trong đó xác
định các mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau giữa 222 quốc gia/ vùng lãnh


3

thổ trên toàn thế giới. Một điểm chung các nghiên cứu đều cho thấy, có sự
ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế (GDP, CPI, FDI, tiết kiệm bình quân,
XNK,...) đến chất lượng cuộc sống (bao gồm phát triển con người, mức nghèo,
thất nghiệp, hoà bình/xung đột quốc tế và các thành phần khác).
Phạm Thị Phương Loan (2011) cho rằng ngoài những tác động tích cực
mà nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment –FDI)
mang lại trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, thu nhập, chuyển giao công nghệ
thì FDI cũng bộc lộ nhiều mặt trái như gây ô nhiễm môi trường, tranh chấp
nguồn lực với các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy bài viết này muốn xem xét
FDI tác động như thế nào đến kinh tế với chỉ số đại diện là thu nhập bình quân
đầu người và đến xã hội với đại diện là chỉ số phát triển con người (Human
Development Index- HDI). Kết quả cho thấy FDI đóng góp vào sự thay đổi của
HDI thấp hơn so với sự thay đổi của thu nhập bình quân đầu người.
Trên cơ sở muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất
lượng cuộc sống, tác giả muốn đề xuất hướng nghiên cứu sử dụng mô hình
hiệu chỉnh Vecto sai số (VEMC) làm công cụ. Kết cấu của luận văn gồm năm

tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản
ánh qua các chỉ tiêu và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân
trên đầu người.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP Gross Domestic Product) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (Gross National
Product – GNP), được đo lường bởi sự thay đổi trong tỉ lệ phần trăm của


5

GDP/GNP từ năm này đến năm kế tiếp. (Giáo trình “Kinh tế vĩ mô” – ĐH
Ngoại Thương)
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế, dưới dạng khái quát, là sự gia tăng của tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian
nhất định (thường tính cho một năm).
Các chỉ tiêu GDP và GNP thông qua sử dụng thước đo tiền tệ có thể tổng
hợp được kết quả đầu ra hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại, mục đích
sử dụng về chất lượng của nền kinh tế. Nhờ đó cung cấp một công cụ hữu hiệu
cho việc đánh giá sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của một quốc gia.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng
hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh
thổ kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định. Ba phương pháp đo lường
tổng sản phẩm thu nhập trong nước:
Thứ nhất, phương pháp sản xuất còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng.
Theo phương pháp này GDP tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp
trong nền kinh tế. Giá trị gia tăng được tính bằng cách lấy giá trị tổng sản lượng
trừ đi giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mua ngoài đã được sử dụng hết
trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Thứ hai, phương pháp thu nhập đo lường GDP trên cơ sở thu nhập tạo ra
trong quá trình sản xuất hàng hoá chứ không phải là giá trị của bản thân hàng

ta phân định ra GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế. GNP và GDP
danh nghĩa là GNP, GDP tính theo giá hiện hành của thời kỳ tính; còn GNP và
GDP thực tế là GNP, GDP tính theo giá cố định của một năm được chọn làm
gốc. Vì vậy, trong thực tế có tăng trưởng kinh tế danh nghĩa (tính theo GNP,
GDP danh nghĩa) và tăng trưởng kinh tế thực tế (tính theo GNP, GDP thực tế).


7

2.1.3 Nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
Tăng trưởng kinh tế quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố, song có một
số nhân tố cơ bản có tác động trực tiếp đó là các nhân tố:
Thứ nhất, yếu tố vốn: Theo nghĩa rộng vốn được hiểu là toàn bộ của cải
vật chất do con người tạo ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên được sử dụng
vào quá trình sản xuất. Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong những yếu tố đầu vào
phục vụ cho quá trình sản xuất. Theo nghĩa này, vốn tồn tại dưới hai hình thức:
vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chất của
quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… Vốn
tài chính là vốn tồn tại dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán. Vốn có
vai trò rất quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ giữa tăng vốn đầu tư
với tăng GDP gọi là hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng ICOR
(Incremental Capital output Ration). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia theo tỷ lệ tăng
của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển
với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là phải tăng vốn đầu
tư 3% để tăng 1% GDP. Vai trò của nhân tố vốn đối với tăng trưởng kinh tế
không chỉ thể hiện ở mức vốn đầu tư mà còn ở hiệu suất sử dụng vốn.
Thứ hai, yếu tố con người: là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền
vững. Tất nhiên, đó là con người có sức khoẻ, có trí tuệ, có kỹ năng cao, có ý
chí và nhiệt tình lao động và được tổ chức hợp lý. Con người là nhân tố cơ bản
của tăng trưởng kinh tế bền vững bởi vì: tài năng, trí tuệ của con người là yếu

tật của những

kiểu

tăng

trưởng

kinh

tế đã có

trong lịch sử như: gây ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sự
phát triển chênh lệch quá lớn giữa các khu vực; đồng thời sử dụng và phát triển
có hiệu quả các nhân tố vốn, con người, khoa học, công nghệ, mở rộng tích lũy,
tiết kiệm và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài (vốn, công nghệ…) để tăng
trưởng kinh tế có hiệu quả.
2.1.4 Các mô hình tăng trưởng kinh tế
2.1.4.1 Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith
Adam Smith (1723-1790) được coi là người sáng lập ra kinh tế học.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các dân tộc”, ông đã trình bày một cách
tương đối hệ thống và đầy đủ nhất những quan điểm về kinh tế học, đó là: học


9

thuyết về “Giá trị lao động”, học thuyết “Bàn tay vô hình”, lý thuyết về phân
phối thu nhập theo nguyên tắc “Ai có gì được nấy”…
Trong học thuyết về “Giá trị lao động”, Adam Smith cho rằng: Nguồn
gốc của tăng trưởng kinh tế là lao động, vốn và đất đai; Trong đó, lao động (chứ

bộ “Tư bản”. Những quan điểm cơ bản nhất của Mác về kinh tế học là: học
thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích luỹ và tái sản xuất…
Đồng thời, ông cũng nêu những ý kiến mới về các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
sự phát triển kinh tế, các yếu tố tăng trưởng kinh tế, sự phân chia giai cấp trong
xã hội tư bản, chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế;
Khi lập luận về các yếu tố tăng trưởng kinh tế, Karl Marx đã luận giải
rằng: Các yếu tố tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động,
vốn và tiến bộ kỹ thuật, trong đó lao động là yếu tố có vai trò quyết định đối
với tăng trưởng, cũng như đối với lợi nhuận và thu nhập. Chính trong quá trình
nghiên cứu về giá trị đặc biệt của sức lao động và quá trình sản xuất giá trị
thặng dư, Marx đã phát hiện ra điều này. (Karl Marx, 1867);
2.1.4.4 Lý thuyết tăng trưởng của John Mayard Keynes
John Mayard Keynes với cuốn sách “Lý thuyết chung về việc làm, lãi
suất và tiền tệ” (1936) được coi là người tạo ra đột phá lớn trong kinh tế học và
đánh dấu bước tiến mới trong lịch sử kinh tế học. Lý thuyết của Keynes cũng
được coi là cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng hiện đại;
Theo Keynes, có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng ở một mức sản lượng
nào đó, không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường ở dưới
mức sản lượng tiềm năng, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người;
Lý thuyết trọng cầu của Keynes lần đầu tiên khẳng định rằng: Chính nhu
cầu (cầu đầu tư và cầu tiêu dùng), chứ không phải cung, là nhân tố quan trọng
quyết định sản lượng, và do đó quyết định tăng trưởng;
Lần đầu tiên, Keynes đã nêu bật vai trò của Chính phủ, thông qua các
chính sách kinh tế vĩ mô (chính sách tài chính và tiền tệ) đối với sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Đối lập với trường phái cổ điển cho rằng nền kinh tế có
thể tự vận động để xác lập những cân đối mới, Keynes đã nhấn mạnh vai trò


11



Điểm đột phá nhất của mô hình tăng trưởng của Solow là đã giảm sự
cứng nhắc của mô hình Harrod-Domar bằng cách sử dụng hàm sản xuất có năng
suất giảm dần của các nhân tố sản xuất, trong đó giải định tiền công và hệ số
giữa vốn và sản lượng là có thể điều chỉnh, thay vì bất biến như ở mô hình
Harrod-Domar. Nhờ đó, nền kinh tế có thể điều chỉnh để tiến tới trạng thái cân
bằng và trạng thái này là ổn định.
2.1.4.7 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại (P.A. Samuelson)
Dựa vào lý thuyết của Keynes, chính phủ các nước đã sử dụng chính sách
kinh tế của nhà nước để hạn chế mức độ lạm phát và thất nghiệp, làm tăng mức
sản lượng tiềm năng. Nhưng sau một thời gian dài áp dụng lý thuyết này, các
nước có xu hướng quá nhấn mạnh vai trò của chính sách kinh tế, do đó hạn chế
mức độ tự điều chỉnh của thị trường và xuất hiện những trở ngại mới cho quá
trình tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, một trường phái kinh tế mới ra đời. Các
nhà kinh tế của trường phái này ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp,
trong đó thị trường trực tiếp xác định quan hệ cung-cầu và những quan hệ cơ
bản khác của nền kinh tế, còn nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn
chế những mặt tiêu cực của thị trường. Thực chất của trường phái kinh tế hiện
đại là sự xích lại gần nhau của trường phái tân cổ điển và học thuyết kinh tế của
Keynes.
Lý thuyết tăng trưởng hiện đại cũng khẳng định vai trò ngày càng tăng
của Nhà nước trong điều tiết kinh tế. Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn


13

hợp hiện đại, Chính phủ có 4 chức năng cơ bản: Thiết lập khuôn khổ pháp luật;
Xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; Tác động vào việc phân bổ tài
nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; Thiết lập các chương trình tác động đến
việc phân phối thu nhập. Theo ông, chính phủ cần tạo ra môi trường ổn định để

Đó là: Chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang chất lượng; Quốc tế hoá giá
sinh thái; Phát triển cơ sở hạ tầng bền vững; Chuyển việc bảo vệ môi trường
thành cơ hội kinh doanh; Thúc đẩy các hoạt động kinh tế giảm thiểu khí cácbon;
2.1.4.9 Lý thuyết tăng trưởng chất lượng
Theo R. Lucas và J. Stiglitz, chất lượng tăng trưởng biểu hiện ở một số
tiêu chí chính sau:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh được những
biến động từ bên ngoài;
+ Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu được thể hiện ở sự đóng góp của
tổng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) cao và không ngừng gia tăng;
+ Tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế;
+ Tăng trưởng phải đi kèm với phát triển môi trường bền vững;
+ Tăng trưởng luôn hỗ trợ cho đổi mới thể chế dân chủ, đến lượt nó thúc
đẩy tăng trưởng ở mức độ cao hơn;
+ Tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và xoá
đói giảm nghèo.
2.2 Lý thuyết về chất lượng cuộc sống
2.2.1 Khái niệm
Sống là một quá trình làm nảy sinh nhu cầu và thỏa mãn các nhu cầu cá
nhân trong quan hệ với cộng đồng. Sống cũng là quá trình xác lập giá trị sống
và kỹ năng sống. Nhưng mức độ thỏa mãn về lượng và về chất là khác nhau.
Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Trong
thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con
người là một nỗ lực của các nhà nước (Chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc
tế. Thuật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trong một loạt các ngữ cảnh


15


16

sạch, nước lọc, nước máy, nước ngầm, nước giếng...) là vấn đề cơ bản và cấp
thiết của con người, điều kiện về nhà ở, chỗ ở của con người (bao gồm diện
tích nhà ở và chất lượng nhà ở), ngoài ra còn các công trình công cộng, xã hội
khác như công viên, nhà vệ sinh công cộng, nhà ở xã hội... và các công trình
phúc lợi công cộng khác phục vụ cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con
người.
Theo Liên Hiệp Quốc: Có lẽ biện pháp quốc tế được sử dụng phổ biến
nhất để đo lường chất lượng cuộc sống là các chỉ số phát triển con người (HDI),
với các nội dung cơ bản về tuổi thọ, giáo dục và mức sống như là một nỗ lực
để nâng cao cuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất định. HDI
được sử dụng bởi Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc trong Báo cáo
phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đây là một tiêu chí tổng hợp phản
ánh chất lượng cuộc sống.
Trong khi đó, WHO đã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống (Quality of
life-100), mức độ hạnh phúc gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số tiêu
chí với ba nhóm là:
1) Mức độ sảng khoái về thể chất gồm: Sức khỏe, tinh thần, ăn uống,
ngủ, nghỉ, đi lại (giao thông, vận tải), thuốc men (y tế, chăm sóc sức khỏe);
2) Mức độ sảng khoái về tâm thần: yếu tố tâm lý, yếu tố tâm linh (tín
ngưỡng, tôn giáo);
3) Mức độ sảng khoái về xã hội gồm: các mối quan hệ xã hội, môi trường
sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính
trị… và môi trường thiên nhiên)
Một cuộc sống có chất luợng, ngoài sự an nhiên không âu lo, còn là cảm
nhận yêu thương, không ân hận oán thù hay bất mãn, không khát khao chiếm
hữu bất cứ một điều gì, và luôn hiểu rằng không có điều gì là bất biến cũng như
tất cả đều tái sinh. Cuộc sống đầy rẫy những đam mê không bao giờ đem lại
cho ta sự an lành. Nhưng cái tâm từ bi, lòng bao dung, sự tha thứ và ước muốn

cộng, nhà ở xã hội.... và các công trình phúc lợi công cộng khác phục vụ cho



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status