I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O C GIANG
Tội VI PHạM CáC QUY ĐịNH Về KHAI THáC Và BảO Vệ RừNG
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
LUN VN THC S LUT HOC
H NI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O C GIANG
Tội VI PHạM CáC QUY ĐịNH Về KHAI THáC Và BảO Vệ RừNG
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HOC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS TRNG QUANG VINH
H NI - 2018
về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự ............................... 8
1.1.1. Khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng ............ 8
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tội Vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng ......................................................................................... 13
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng .................................................................................... 23
1.2.
Khái lƣợc sự hình thành và phát triển những quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng.................................................................. 27
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự
năm 1985 ............................................................................................ 27
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ............................................. 31
1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999........................ 34
1.3.
Những quy định về tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng trong pháp luật hình sự một số nƣớc trên thế giới.... 35
1.3.1. Quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t Hiǹ h sự nư ớc Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng .......... 35
1.3.2. Quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t Hiǹ h sự Liên Bang Nga về t ội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng ................................................ 38
1.3.3. Quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t hiǹ h sự một số quốc gia Đông Nam Á về
Hình sự Việt Nam về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng................................................................................... 81
3.2.
Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
2015 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.... 85
3.2.1. Về đối tượng tác động của tô ̣i pha ̣m .................................................. 85
3.2.2. Về giá tri ̣tài sản pha ̣m pháp ............................................................... 86
3.2.3. Về pháp nhân thương mại phạm tội ................................................... 86
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.
3.3.4.
3.3.5.
3.3.6.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của Bộ luật Hình sự Việt Nam về tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng.................................................................. 87
Nâng cao chấ t lươ ̣ng nguồ n nhân lực ngành tư pháp......................... 87
Giải pháp về tổ chức........................................................................... 88
Nâng cao hiê ̣u quả tuyên truyề n pháp luâ ̣t về khai thác và bảo vê
ng̣ rư
...̀ 90
Thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và sinh kế cộng đồ ng các vùng
nông thôn, miề n núi............................................................................ 90
QHXH:
Quan hệ xã hội
QLXDBV:
Quản lý xây dựng bảo vệ
TAND:
Tòa án nhân dân
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
UBND:
Ủy ban nhân dân
VPPL:
Vi phạm pháp luật
VQG:
Vườn Quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.6. Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh từ 2012 đến 2016
71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Ngoài vai trò cân bằng hệ
sinh thái, ổn định và điều hòa khí hậu, giúp sự sống trên trái đất được duy trì
bền vững, rừng còn cung cấp nguồn lâm sản phục vụ nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội của con người.
Là một trong những quốc gia có tài nguyên rừng đa dạng và phong phú,
hiện nay, theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt
Nam có khoảng hơn 14 triệu ha rừng với độ che phủ khoảng 40,84 %. Trong
đó hơn 10 triệu ha là rừng tự nhiên, còn lại khoảng 3,8 triệu ha là rừng trồng
[6]. Đây là một trong những nhân tố quan trọng, đóng góp lớn cho sự phát
triển kinh tế của nước ta trong suốt lịch sử hình thành và phát triển. Trong đó,
chỉ tính riêng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản mỗi năm đã đóng góp tới
hơn 4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta. Nhận thức được tầm
quan trọng đó, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng luôn được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngoài các chủ trương, chính sách khuyến
khích hoạt động trồng và phát triển rừng, hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật về khai thác và bảo vệ rừng cũng liên tục được đổi mới để phù hợp với
điều kiện thực tiễn. Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X thông
qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 đã dành hẳn một điều luật quy định về tội vi
phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Đây là nền tảng pháp lý quan
trọng thể hiện quyết tâm của nhà nước ta đối với việc trừng trị nghiêm khắc
tính khả thi nhằm đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này có hiệu quả. Với
những lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh)” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu liên quan đến tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự đã được nhiều chuyên
gia, học giả nghiên cứu từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, qua đó đã gợi
mở nhiều vấn đề về cả mặt lý luận và thực tiễn. Trong đó:
Một số công trình đã nghiên cứu, phân tích tổng quát về bộ luật hình sự
Việt Nam như: “Giáo trình luật hình sự Việt nam - phần các tội phạm”
(2008) của tác giả Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; “Lý luận
chung về định tội danh” (2013) của tác giả Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội; “Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung” (2014) của tác
giả Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Quyết định hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam” (1995) của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb
Chính trị quốc gia; “Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm”
(1997) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội, “Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt
Nam” (2000) của tác giả Đinh Văn Quế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội...
Một số công trình khác cũng đã phân tích, đánh giá chung khía cạnh
pháp luật về bảo vệ rừng ở nước ta hiện nay như: Nguyễn Thanh Huyền
(2004) với đề tài “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam
hiện nay” (luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội);
Nguyễn Thị Dung (2012) với đề tài “Tội vi phạm các quy định về quản lý
rừng trong luật hình sự Việt Nam” (luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại
thời phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác trong BLHS (176, 189,
191) nhằm áp dụng đúng đắn điều luật trong thực tiễn xét xử. Khái quát tình
hình tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và thực tiễn xét xử
tội phạm này trong giai đoạn 2005-2009. Qua đó, tác giả đã đề xuất một số
giải pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng ở nước ta một cách có hiệu quả [23, 33]. Tuy vậy, các nghiên
4
cứu này chủ yếu đã được thực hiện từ khá lâu, một số kết quả nhìn chung
không phù hợp với đặc điểm của loại hình tội phạm vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã phân tích sơ bộ về tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam
ở một số giai đoạn nhất định, có giá trị để tham khảo và kế thừa trong việc
nghiên cứu đề tài. Thực tế hiện nay với những thay đổi về tình hình kinh tế,
xã hội cũng như chính sách pháp luật đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải
quyết đối với loại hình tội phạm này. Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách
nghiêm túc, có hệ thống, bám sát thực tiễn và những trường hợp cụ thể để làm
rõ hơn thực trạng áp dụng pháp luật hình sự trong việc xử lý tội vi phạm, qua
đó có những giải pháp cụ thể mang tính khả thi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự Viê ̣t Nam, luận văn hướng tới mục
đích nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp đến vấn đề này. Cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng; lịch sử lập pháp đối với loại hình tội phạm này ở Viê ̣t Nam.
- Nghiên cứu những quy định về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng trong Bộ luật Hình sự và thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm
luôn được quán triệt trong quá trình nghiên cứ,uđánh giá, phân tích tình hình thực
tiễn. Mục đích nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam về
quản lý và bảo vệ rừng nên cần phải có cái nhìn toàn diện, lịch sử và phát triển.
- Phương pháp phân tích - so sánh: Luận văn nghiên cứu, phân tích,
các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý và bảo vệ rừng qua từng thời
kỳ lịch sử. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật học
truyền thống như phương phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê,
6
phương pháp lịch sử, tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải… nhằm
làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng
tỏ về mặt lý luận cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn dùng làm tài liệu nghiên cứu,
tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự, các nhà lập pháp, cho
các học viên, sinh viên. Bên cạnh đó, luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật hình
sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng ở nước ta hiện nay.
6. Điểm mới khoa học của luận văn
- Phân tích một cách sâu sắc khái niệm và những dấu hiệu pháp lý tội
Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
- Khái quát tình hình tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng và thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong 5 năm
từ 2012-2016.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tội Vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng một cách có hiệu quả.
7. Kết cấu của luận văn
thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủ thể thực
hiê ̣n hành vi trái pháp luâ ̣t;
- Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện (nế u
chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì người đó phải đến độ tuổi chịu
trách nhiệm pháp lí theo luật định, không mắ c cá c bê ̣nh tâm thầ n , có khả năng
nhâ ̣n thức đươ ̣c hâ ̣u quả nguy hiể m cho xã hô ̣i của hành vi của miǹ h và hâ ̣u
quả pháp lí của nó).
Tùy thuộc vào tính chất của vi phạm pháp luật , vào hậu quả có hại và
mức đô ̣ nguy hiể m cho xã hô ̣i của hành vi cũng như tiń h chấ t của chế tài có
8
thể đươ ̣c áp du ̣ng đố i với hành vi mà các vi pha ̣m pháp luâ ̣t đươ ̣c chia thành
hai loa ̣i , là tội phạm và vi phạm , trong đó vi pha ̣m có thể là vi pha ̣m hành
chính, vi pha ̣m dân sự, vi pha ̣m kỷ luâ ̣t nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm tội phạm
Theo Từ điể n luâ ̣t ho ̣c (2006), tô ̣i pha ̣m là “hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội, có lỗi, được quy đi ̣nh trong Bộ luật hình sự 1999 và phải chịu hình
phạt” [56, tr. 787]. Như vâ ̣y , tội phạm, trước hết phải là hành vi của con
người. Đây là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự - Nguyên tắc hành vi. Theo
đó, luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự con người về
tư tưởng của họ mà chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi của con
người khi hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu được quy định trong luật.
Dấu hiệu “nguy hiểm cho xã hội” có nghĩa hành vi phải gây ra hoặc đe
dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó phải có lỗi. Như vậy, tính nguy hiểm
cho xã hội bao hàm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi thuộc về
chủ quan của tội phạm. Tuy nhiên, tính có lỗi được tách ra thành một dấu hiệu
riêng của tội phạm nhằm nhấn mạnh nguyên tắc có lỗi trong luâ ̣t hình s ự.
bình diện khách quan, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”; trên bình
diện pháp lý, “tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự”; trên bình diện chủ
quan, “tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi” [8].
Về phân loa ̣i tô ̣i pha ̣m, theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và
để có cơ sở cá thể hóa hình phạt trong áp dụng, có thể phân loại tội phạm thành
bốn nhóm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất
nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phân loại thành bốn nhóm
tội phạm một mặt, biểu hiện cơ bản của việc phân hóa trách nhiệm hình sự, mặt
khác là cơ sở thống nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự qua các quy định
khác... Đây cách phân loại dựa trên mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm và nhằm mục đích tạo cơ sở thống nhất cho việc phân hoá trách
10
nhiệm hình sự. Ngoài cách phân loại này, còn có thể phân loại tội phạm theo
các tiêu chí khác. Ví dụ: căn cứ vào tính chất của lỗi có thể phân tội phạm
thành tội cố ý và tội vô ý; căn cứ vào tính chất của khách thể bị xâm hại có thể
phân tội phạm thành các nhóm tội khác nhau như các tội xâm phạm an ninh
quốc gia, các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm nhân thân...; căn cứ vào
đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm có thể phân tội phạm thành các tội có
cấu thành tội phạm hình thức và các tội có cấu thành tội phạm vật chất;...
1.1.1.3. Khái niệm khai thác và bảo vệ rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật
rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của
tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng
sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Dưới khiá ca ̣nh kinh tế , rừng
là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được có
danh riêng so với tô ̣i vi phạm các quy định về quản lý rừng.
Tổ ng kế t những quan điể m về khái niê ̣m “tô ̣i pha ̣m” và quy đinh
̣ của
BLHS 1999, mô ̣t số tác giả đã đề xuấ t các khái niê ̣m về tô ̣i vi pha ̣m các quy
đinh
̣ về khai thác và bảo vê ̣ rừng
. Chẳ ng ha ̣n , theo tác giả Vũ Thị Huyền
(2010), tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng “là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm những quy định của Nhà
nước về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng cũng như xâm phạm các quy định
của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung” [33, tr. 25].
Theo tác giả Đinh Văn Quế (2006), Vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng là “hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác
vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng hoặc vận
chuyển, buôn bán gỗ trái phép” [40, tr. 160-164].
Theo tác giả Nguyễn Thi ̣Hải (2009), tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng “là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự của
người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS xâm hại đến các quy định của
Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ” [24, tr. 23].
Theo quan điể m của tác giả , tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng phải gắ n với tấ t cả các hoa ̣t đô ̣ng trái phép xâm pha ̣m đế n tài
nguyên rừng , bao gồ m cả hành vi vi pha ̣m của cá nhân và pháp nhân
. Theo
đó, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là “hành vi xâm
phạm những quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng được quy
quốc gia. Định nghĩa về một khu rừng nói chung có thể phù hợp với một
13
trong ba tiêu chí sau: là một đơn vị hành chính hoặc pháp lý (những khu đất
được công bố là “rừng” một cách hợp pháp); độ che phủ của mặt đất và mục
đích sử dụng của đất (đất được sử dụng như thế nào?).
Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 tại Điều 3 khoản 2 đã định
nghĩa như sau:
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng,
động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường
khác, trong đó cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng
là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng
gồm: rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng [45, Điề u 3].
Như vâ ̣y, đố i tươ ̣ng tác đô ̣ng cu ̣ thể của tô ̣i pha ̣m này đã đươ ̣c rấ t nhiề u các
nghiên cứu làm rõ và cũng đã quy đinh
̣ cu ̣ thể trong hê ̣ thố ng pháp luâ ̣t nươ.́ c ta
Bảo vệ rừng với tính chất là đối tượng tác động đồng nghĩa với việc
bảo vệ các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng và qua đó bảo
vệ trật tự quản lý kinh tế. Các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được Nhà
nước xác lập, muốn tồn tại và phát triển được đòi hỏi phải có sự bảo đảm tình
trạng rừng không bị tác động trái phép. Tuy nhiên, rừng với tư cách là đối
tượng tác động bị tội phạm làm biến đổi tình trạng nêu trên cũng có thể đồng
thời là đối tượng tác động của QHXH khác (hủy hoại môi trường…). Vì vậy,
cần phải căn cứ vào tính chất quan trọng của QHXH, mức độ gây thiệt hại,
mục đích chủ quan của kẻ phạm tội để xác định đầy đủ bản chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi, từ đó xác định được khách thể của tội phạm.
Giữa khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà điều luật điều
- Vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng.
Về mặt lý luận, có thể khẳng định rằng, trong yếu tố mặt khách quan
của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội Vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng là biểu hiện cơ bản nhất và có ý nghĩa quan trọng.
15
Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Không thể nói đến hậu quả của tội phạm cũng như biểu hiện
khách quan khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian phạm tội
v.v… khi không có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ thông qua hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà QHXH mới bị tác động bởi một chủ thể nào đó.
Hành vi khách quan là cầu nối giữa khách thể và chủ thể. Còn các nội
dung biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ được phản ánh trong một số
CTTP nhất định như CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Việc xác định dấu hiệu
hành vi thuộc mặt khách quan của CTTP cơ bản và một số nội dung khác
trong những trường hợp nhất định là bắt buộc, có ý nghĩa trong việc định tội.
Trong nhiều trường hợp, bên cạnh ý nghĩa định tội, mặt khách quan của tội
phạm còn có ý nghĩa trong việc xác định khung hình phạt (hậu quả, công cụ,
phương tiện…) hoặc trong việc xác định mức độ trách nhiệm khi lượng hình
(CTTP tăng nặng, giảm nhẹ…) đồng thời qua đó xác định lỗi và mức độ lỗi.
Xét về tính biểu hiện của hành vi, tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng là loại tội phạm vừa có thể được thực hiện bằng hành động
vừa có thể được thực hiện bằng không hành động. Làm một việc cũng như
không làm một việc đều có thể dẫn đến sự thay đổi tình trạng bình thường của
đối tượng tác động và qua đó gây thiệt hại cho QHXH được luật hình sự bảo
vệ. Đó là hai hình thức khác nhau của hành vi nguy hiểm cho xã hội, hình
thức hành động nguy hiểm cho xã hội và hình thức không hành động nguy
hiểm cho xã hội.
nhiệm hình sự [40, tr. 160-164].
Như vâ ̣y, hậu quả gây ra bởi t ội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng được xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi của đối tượng tác
động đế n tài nguyên r ừng và các sản phẩm phổ biế n nh ư gỗ và các lâm thổ
sản khác. Căn cứ vào tính chất và sự biến đổi của rừng, về đặc điểm (về chất
và lượng) của chính đối tượng tác động (rừng và các sản phẩm của rừng như
17