I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYấN CHI CễNG
CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố CủA VIệN KIểM SáT
TRONG GIAI ĐOạN XéT Xử SƠ THẩM Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUN VN THC S LUT HOC
H NI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYấN CHI CễNG
CHứC NĂNG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố CủA VIệN KIểM SáT
TRONG GIAI ĐOạN XéT Xử SƠ THẩM Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HOC
Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYấN VN TUN
Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm và vai trò của Viêṇ kiể m
sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự............................ 9
1.1.1. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ............................................... 9
1.1.2. Vai trò của Viê ̣n kiể m sát trong giai đo ạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự ................................................................................................ 12
1.2.
Chức năng thƣ̣c hành quyền công tố c ủa Viện kiểm sát trong
giai đoạn xét xử sơ thẩ m vụ án hình sự .......................................... 14
1.2.1. Quyền công tố và thực hành quyền công tố ....................................... 14
1.2.2. Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .................................... 20
1.3.
Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức
năng thƣ̣c hành quyền côn g tố c ủa Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ................................................. 23
1.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm
1988 về chức năng thực hành quyề n công tố c ủa Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .................................... 23
1.3.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến năm
2003 về chức năng thực hành quyề n công tố c ủa Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .................................... 29
Chƣơng 2: QUY ĐINH
CỦ A BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SƢ̣ 2003
̣
VỀ CHƢ́C NĂNG THƢ̣ C HÀ NH QUYỀN CÔNG TỐ CỦ A
năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiể m sát trong xét x ử sơ
thẩm vụ án hình sự.............................................................................. 68
3.1.2. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luâ ̣t tố tụng hình sự về chức
năng thực hành quyền công tố của Viê ̣n kiể m sát trong xét x ử sơ
thẩm vụ án hình sự.............................................................................. 77
3.2.
Những giải pháp khác ...................................................................... 81
3.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cán bộ ngành
Kiểm sát ............................................................................................. 81
3.2.2. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành
Kiểm sát .............................................................................................. 87
3.2.3. Tiếp tục đổi mới và thực hiện tốt công tác phối hợp giữa Viện
kiểm sát và các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ............................. 91
3.2.4. Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất và bảo đảm ch ế độ đãi
ngộ đối với Kiểm sát viên................................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................................. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 104
DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
BLHS
BLTTHS
CHXHCN
CQĐT
HĐXX
KSĐT
KSND
KSXX
: Viê ̣n Kiể m sát nhân dân
: Viê ̣n Kiể m sát nhân dân tố i cao
: Viê ̣n Kiể m sát tố i cao
: Xã hội chủ nghĩa
: Xét xử sơ thẩm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Thố ng kê số vu ̣ án /bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử
sơ thẩ m và số lươ ̣ng bi ̣đình ch ỉ, tạm đình chỉ, điều tra
bổ sung giai đoa ̣n 2011-2016
51
Bảng 2.2: Thố ng kê số vu ̣ án/bị cáo VKS đưa ra xét xử sơ thẩm đã
giải quyết và bị đình chỉ, tạm đình chỉ, điều tra bổ sung
51
Bảng 2.3: Thố ng kê số vu ̣ án /bị cáo đã giải quyết trong phiên tòa
sơ thẩ m và số vu ̣ án/bị cáo kháng nghị
52
nghĩa Việt Nam cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
đã xác định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ
Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Do vậy, đảm bảo vai trò của Viện kiểm sát là mục tiêu quan trọng
nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử, bảo đảm tự do, dân chủ cho công
dân góp phần bảo vệ pháp chế XHCN và đấu tranh có hiệu quả với các loại
tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Tuy vậy, viê ̣c thi hành hoạt động tố tụng trong thời gian qua cho thấy,
quy định của Bộ luật Tố tu ̣ng hình sự về chức năng thực hành quyề n công tố
của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, đặc biệt là giai đoa ̣n xét xử sơ thẩ m đã
bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện
được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ
năm 2011 đến năm 2016 cho thấ y viê ̣c áp du ̣ng các quy đ ịnh của pháp luật tố
tụng hình sự về chức năng thực hành quyề n công tố c ủa Viện Kiểm sát trong
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn nhiều tồn tại, thể hiêṇ ở nhiề u
khía cạnh như chất lượng xét hỏi của KSV còn hạn chế, KSV chưa làm tốt
công tác chuẩn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng trong nhiều
phiên tòa còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp...
Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiê ̣n nay, trình độ dân trí còn
hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện mời Luật
nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này. Trong đó, các công trình nghiên
cứu chủ yếu tập trung theo các hướng như:
3
- Nhóm nghiên cứu thứ nhất là các luận văn, luận án, các đề tài nghiên
cứu khoa học và sách chuyên khảo về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Bàn về chức năng của và vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động tố
tụng, đã có mô ̣t số nghiên cứu điể n hiǹ h như : Một số vấn đề về quyền công tố
của viện kiểm sát nhân dân của tác giả Nguy ễn Thái Phúc (đề tài cấp Bộ :
“Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam”,
1995, tr.127 - 151); Về thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự, thực tiễn và kiến nghị của tác giả Vũ Mộc (đề tài cấp Bộ: “Những vấn
đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam", Hà Nội, 1995);
Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ luâ ̣t ho ̣c : Chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của tác giả Nguyễn Hữu Khoa (2009)...
Bàn về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng c ủa Viện kiểm sát , đã có mô ̣t số nghiên
cứu như: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Lê Minh Thông (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); Quyền công tố ở Việt Nam của tác giả Lê
Thị Tuyết Hoa (Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2002)...
Bên ca ̣nh đó , cũng đã có một số nghiên cứu bàn về giải pháp thúc đẩy
hoạt động của Viện kiểm sát , như: Đề tài khoa học cấp bộ mang tên: Hoàn
thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để đảm bảo phù hợp
với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần nghị quyết số 49 NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của tác
giả Nguyễn Xuân Hà, Phạm Hoàng Diệu Linh (Hà Nội, 2009); Nâng cao chất
lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông
khâu và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự của Tác giả Ngô Văn
Đọn (Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2004); Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
của tác giả Đỗ Văn Đương (Tạp chí Nghiên cứu Lâ ̣p pháp , Số 79, Hà Nội,
2006); Viện kiểm sát hay Viện công tố của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp
chí Khoa học Pháp luật, Số 2 (39), TP. Hồ Chí Minh, 2007)...
5
Mă ̣c dù đã làm sáng tỏ mô ̣t số khiá ca ̣nh lý luâ ̣n về ch ức năng của Viê ̣n
kiể m sát trong hê ̣ thố ng tư pháp và pháp luâ ̣t nước ta
; Tuy vậy, các nghiê n
cứu này cũng mới ch ỉ dừng lại ở việc phân tích, làm rõ một vài khía cạnh của
vấn đề. Chưa đi sâu vào ch ức năng thực hành quyề n công tố của Viê ̣n kiể m
sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm trên thực tế.
Thực tế trên cho thấy, chức năng thực hành quyền công tố c ủa Viện
kiểm sát trong giai đoan xét xử sơ thẩm vu ̣ án hiǹ h sự là v ấn đề tồn tại cần
được tiếp tục làm rõ nh ất là trong bối cảnh chúng ta đang nghiên cứu, thực
hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chuẩn bị thực thi hai bộ luật
quan trọng là Bô ̣ luâ ̣t Hin
̀ h sự số 100/2015/QH13 và Bộ luật Tố tụng Hình sự
số 101/2015/QH13; làm sáng tỏ vấn đền này cả về mặt lý luận cũng như thực
tiễn tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc nâng cao
hiệu quả thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm các vu ̣ án hin
̀ h sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, góp phần nâng
cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án đồng thời đảm bảo chất lượng
tranh tụng tại tòa, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống làm oan
người vô tội và chống bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ pháp chế XHCN. Do
vâ ̣y, việc thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về chức
năng thực hành quyề n công tố của Vi ện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ
sơ thẩm các vu ̣ án hình sự.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chức năng thực hành quyề n công tố
của Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vu ̣ án hình sự từ khi
BLTTHS 2003 có hiệu lực đến nay . Số liệu thực tế được tổng hợp từ kế t quả
thố ng kê trên điạ bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011-2016.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
7
Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phương
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
, khảo sát thực tiễn; Phương pháp
chuyên gia (đối thoại với chuyên gia và các nhà hoạt động thực tiễn trong
lĩnh vực luật học).
6. Nhƣ̃ng điểm mới của luận văn
Làm rõ mô ̣t số vấ n đề lý luâ ̣n và thực tiễn về chức năng thực hành
quyề n công tố của Viê ̣n kiể m sát trong hê ̣ thố ng pháp
luâ ̣t nước ta từ khi
BLTTHS 2003 có hiệu lực thi hành ; phân tić h thực tra ̣ng thực hành quyề n
công tố c ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩ m vu ̣ án hiǹ h sự trên
điạ bàn tin
1.1.1.1. Khái niệm xét xử
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Chủ biên, 2003), "Xét xử là
việc xem xét và xử các vụ án" [21, tr.1148]. Đây là một trong những chức
năng cơ bản của Tòa án , chức năng này còn được gọi là chức năng bảo vệ
pháp luật có mối quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con
người, quyền của công dân.
Theo Từ điể n luâ ̣t ho ̣c (2006) do Viê ̣n Khoa ho ̣c Pháp lý (Bô ̣ Tư pháp )
chủ trì xuất bản:
Xét xử là hoạt động xem xét , đánh giá bản chấ t pháp lý của
vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất , mức đô ̣ pháp lý của
vụ việc , từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra mô ̣t pháp quyế t tương
ứng với bản chất , mức đô ̣ trái hay không trái pháp luâ ̣t của vu ̣ viê ̣c
(xét xử vụ án hình sự , dân sự , kinh doanh, thương ma ̣i , lao đô ̣ng ,
hành chính...) [37, tr.869].
Xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm
tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều
tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án,
nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm
dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra
9
và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án. Đây đươ ̣c xem là hoa ̣t đô ̣ng quan trọng
để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai
đoạn xét xử của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp của Nhà nước
nói chung. Từ đó, cùng với các giai đoạn tố tụng khác góp ph ần có hiệu quả
vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.
Theo Tôn Thiện Phương (2002), trong hoạt động tố tụng hình sự thì xét
“xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm
quyền” [37, tr.870]. Quan điểm này có tính khái quát chung (bao gồm cả xét
xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hình sự...), đã phản ánh đặc trưng của xét xử
sơ thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm
quyền xét xử”; nhưng chưa thể hiện các đặc trưng riêng và nội dung của việc
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự bao gồ m :
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự
có tính chất bắt buộc.
Thứ hai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử lần đầu vụ án, do đó
vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ các người
tham gia tố tụng.
Thứ ba, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có kết quả là một bản án, quyết
định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần vào việc xử lý triệt để
và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó,giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết kéo
dài vụ án, duy trì công lý, phục hồi lại công bằng trong xã hội, trấn an dư luận
và bảo đảm quyền lợi của công dân.
1.1.1.3. Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ các quan điể m trên có thể đưa ra khái niê ̣m giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền
11
thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình
sự trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, xem xét đánh giá chứng cứ và
dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công
minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình.
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ
không làm oan người vô tội”. Đồng thời, thông qua các hoạt động nghiệp vụ
của mình, VKS cũng có trách nhiệm kịp thời phát hiện ra các nguyên nhân,
điều kiện của tội phạm, qua đó kiến nghị với các cơ quan nhà nước có liên
quan triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm. Đây cũng chính là
một trong các nội dung của công tác phòng ngừa tội phạm
Hai là , trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, thông qua
chức năng kiể m sát hoa ̣t đô ̣ng xét xử , VKS bảo đảm cho việc tuân thủ và áp
dụng pháp luật thống nhất; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng
quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội. Việc
truy tố của VKS phải dựa trên cơ sở kết quả điều tra của CQĐT trong suốt
quá trình điều tra và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa của HĐXX. Từ
đó, VKS đưa ra sự buộc tội chính thức và cuối cùng đối với người phạm tội.
Ba là , trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự VKS bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và những người tham gia tố tụng
khác (đă ̣c biê ̣t là b ảo vệ quyền con người và các quy ền hợp pháp của bị can,
bị cáo không bị pháp luật tước bỏ). BLTTHS quy định quyền và nghĩa vụ của
từng tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm của VKS là bảo đảm cho các
quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ.
Bố n là , vai trò của VKS trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩ m b ảo đảm cho
việc tranh tụng được bình đẳng, dân chủ, công khai. Trách nhiệm của VKS là
phải đối đáp lại các ý kiến của những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự công khai tại tòa. Khi tranh luận các bên có quyền và
nghĩa vụ bình đẳng với nhau. Chỉ tranh luận những vấn đề liên quan đến vụ
án. Những nội dung đưa ra tranh luận đều phải được đối đáp lại.
13
Năm là, VKS bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được
thực thi đúng quy định pháp luật. Nếu các bản án, phán quyết của Tòa án
không được đưa ra thi hành thì cũng chỉ là các quyết định giấy. Việc thực
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các
chức năng do luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp của
việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội người đã thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm góp
phần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật,
đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi
ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháp
hình sự [7, tr.1-12].
Một số tác giả khác như Lê Hữu Thể (2006) cũng cho rằng, quyền
công tố là:
Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nói
cách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này là
quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở
nước ta từ năm 1960 đến nay là cơ quan Viện kiểm sát). Để làm
được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc
thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa
án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [34, tr.12-15].
Theo quan điểm của tác giả, quyền công tố là quyền nhà nước nhân
danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đến cùng đối với những người có
hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành động xâm hại đến
lợi ích chung, nhằm mục đích duy trì trật tự của cộng đồng, trật tự pháp luật
mà nhà nước đặt ra để duy trì, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội.
Nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung và lịch sử
15
Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng đã cho thấy: Quyền công tố gắn
phát hiện có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự
của Tòa án đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạm
pháp luật thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị. Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có
Viện kiểm sát là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà không
chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào.
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là
do Viện kiểm sát; cơ quan điều tra có quyền độc lập thu thập tài liệu chứng
cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ ấy có đủ cơ sở để truy tố bị
can hay không là do Viện kiểm sát chịu trách nhiệm. Trong trường hợp không
đủ căn cứ để buộc tội, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ
sung tài liệu chứng cứ; có quyền đình chỉ vụ án; yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính người đã có hành vi vi phạm pháp
luật. Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần
xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra
Tòa. BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát
trong TTHS rất lớn là “được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định
tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS). Như vậy, về thực
hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nước nào làm thay
Viện kiểm sát. Về vấn đề này, tháng 7 năm 1967, khi ủy ban Thường vụ Quốc
hội thảo luận Báo cáo của VKSNDTC, Đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch ủy
ban Thường vụ Quốc hội lúc đó đã kết luận:
Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm
sát để sử dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử
có đúng người, đúng tội hay không, có đúng đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát
phải trông nom bảo đảm làm tốt [17, tr. 39].
17