ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG KIM SƠN
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CỦA VỤ ÁN HÌNH SỰ - QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG KIM SƠN
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CỦA VỤ ÁN HÌNH SỰ - QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
Bản thân tôi đã nổ lực, cố gắng để hoàn thành luận văn, song không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô
giáo, đồng nghiệp và bạn bè để tôi tiếp tục hoàn thiện luận văn này.
Hà nội, ngày 07 tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Kim Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CỤM TỪ VIẾT TẮT
CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
ADPL
Áp dụng pháp luật
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân
i
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................ i
MỤC LỤC .........................................................................................................ii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ............................. 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật ...................................................... 8
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật ................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật ........................................................... 11
1.2. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ............................................................ 15
1.2.1. Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án hình sự .................................................................................................... 15
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự................................................................ 29
1.2.3. Quy trình hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra vụ án hình sự .................................................................... 33
1.3. Các yếu tố bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân
dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự ........... 36
SÁT NHÂN DÂN............................................................................................ 85
3.1. Quan điểm về bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự ............................................ 85
iii
3.1.1. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án hình sự nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân .................... 86
3.1.2. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án hình sự nhằm bảo đảm tinh thần cải cách tư pháp ................................. 87
3.1.3. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi pham tội phải được xử lý nghiêm
minh, kịp thời ................................................................................................... 88
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật
trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.................. 89
3.2.1. Nhóm các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và giải thích, hướng dẫn thi
hành luật ........................................................................................................... 89
3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật....................... 97
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................. 113
KẾT LUẬN ................................................................................................... 114
DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ .................................................... 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 117
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Số hiệu
Tên bảng
ADPL về tạm đình chỉ điểu tra của CQĐT
55
Bảng 2.6
ADPL về đình chỉ điều tra của CQĐT
59
Bảng 2.7
ADPL trong trả hồ sơ để điều tra bổ sung
61
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong các hệ thống cơ quan cấu
thành bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng thực
hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật. Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, từ khi thành
lập đến nay, VKSND đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, phát huy được vị trí,
vai trò trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành, qua đó góp phần quan
trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của nhà nước và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố
tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội...”.
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát theo tinh thần cải
cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, với mục tiêu: Bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác THQCT và kiểm sát hoạt
động tư pháp nói chung và hoạt động áp dụng pháp luật (ADPL) trong công tác
THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói riêng, vai trò của VKSND trong ADPL cần
phải được nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi đó là nhiệm vụ trước mắt cũng như
nhiệm vụ lâu dài của ngành tư pháp nước ta. Đó là yêu cầu cấp thiết của ngành kiểm
sát nói chung và VKSND huyện Nam Đàn nói riêng.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra của vụ án hình sự - qua thực tiễn Viện kiểm
sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
THQCT và KSĐT vụ án hình sự là một giai đoạn hết sức quan trọng, có ý
nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Giai đoạn điều tra
vụ án cần phải làm rõ hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi tội phạm, các
2
tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án, từ đó làm cơ sở cho việc truy tố và xét
xử các bị can, bị cáo bảo đảm đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội,
không bỏ lọt tội phạm; bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, đây là
vấn đề thu hút nhiều nhà lý luận và nhiều nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên
cứu. Việc nghiên cứu đề tài này đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học
được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn
thạc sĩ và một số giáo trình giảng dạy về pháp luật như:
Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ Luật:
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm”, Tạp chí Kiểm sát 8/2011.
- TS. Trần Công Phàn: Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu
cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát 01/2012.
- TS. Lê Thị Tuyết Hoa: Một số nội dung trọng tâm để thực hiện chủ trương
tăng cường trách nhiệm công tố trong động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp,
Tạp chí Kiểm sát 8/2012.
- TS. Nguyễn Thị Mai Nga: Những dấu mốc quan trọng hình thành, phát
triển chế định thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Tạp chí
kiểm sát 7/2016.
- TS. Thái Vĩnh Thắng Viện công tố thay thế Viện kiểm sát nhân dân sẽ được
tổ chức và hoạt động như thế nào, Tạp chí luật học 2/2008.
- Nguyễn Duy Giảng: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo yêu cầu cải cách tư
pháp, Tạp chí kiểm sát số 14-16/ 2008.
- Vũ Việt Hùng: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm công tố
trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát
8/2012.
Như vậy, công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự của ngành kiểm sát đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nghiên cứu ADPL
đồng thời đối với hai hoạt động: THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND nhất là tại địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, thì chưa có một công trình nào
4
nghiên cứu chuyên sâu. Từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy đề tài "Áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của vụ án hình sự - qua
thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An" không trùng
lặp với bất kỳ một công trình nào đã được công bố. Tuy nhiên, các công trình khoa
học, các bài viết về đề tài này là những tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả
trong THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói chung và của VKSND huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu hoạt động ADPL trong công tác THQCT và KSĐT vụ
án hình sự, thực trạng thực hiện công tác này nhằm tạo cơ sở đề xuất các phương
hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đối với hoạt động ADPL trong THQCT
và KSĐT vụ án hình sự nói chung và ở VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nói
riêng trong giai đoạn hiện nay.
Công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự của VKSND được tiến hành từ khi
bắt, tạm giữ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị
can cho đến khi kết thúc điều tra vụ án.
Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm 2012 đến năm 2016, tại địa
bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
5. Cơ sở và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về đổi mới nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và các quan điểm
chỉ đạo về cải cách tư pháp.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm: Phương pháp phân tích,
tổng hợp để nghiên cứu các vấn đề lý luận; phương pháp thống kê, so sánh để thu
thập, phân tích, tổng hợp, đánh giá số liệu. Ngoài ra, việc thực hiện luận văn liên
quan đến thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, cho nên luận văn còn sử dụng phương pháp
6
chứng minh thông qua số liệu khảo sát tại VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
6. Ý nghĩa đóng góp mới của luận văn
triển. Nhà nước ban hành pháp luật như là một công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội.
Pháp luật là các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện
trên cơ sở kết hợp giáo dục thuyết phục và cưỡng chế nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội.
Để quản lý xã hội một cách có hiệu quả thì nhà nước ngoài việc xây dựng
một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất thì việc thực hiện pháp luật là yếu tố
bảo đảm cho pháp luật được hiện thực hóa trong đời sống xã hội.
Theo GS. TSKH. Đào Trí Úc, thực hiện pháp luật còn được hiểu là:
Một quá trình thực hiện các quy định pháp luật, biến những quy
định ấy thành hành vi tuân theo pháp luật. Ở nghĩa đó, thực hiện pháp
luật cần được xem xét, đánh giá qua lăng kính của sự tương tác giữa
nhiều tác nhân thuộc nhiều nhóm hoạt động khác nhau nhưng trên cùng
một véc-tơ tác động vào ý thức và hành vi của chủ thể thực hiện pháp
luật hoặc hỗ trợ, xúc tác cho quá trình này [37].
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật năm 2015 của GS.TS. Hoàng Thị
Kim Quế - Đại học Quốc gia Hà Nội, thì thực hiện pháp luật được được hiểu là:
“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định
pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể
pháp luật” [20, tr.492].
Thực hiện pháp luật là một giai đoạn quan trọng và không thể thiếu trong cơ
8
chế điều chỉnh pháp luật để pháp luật phát huy được vai trò trong cuộc sống: “Muốn
cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành tốt, pháp luật được phát huy vai trò, giá trị
của mình trong đời sống xã hội thì quan trọng là phải thực hiện pháp luật một cách
đầy đủ, chính xác, triệt để và hiệu quả” [11].
Về mặt lý luận thì thực hiện pháp luật được khoa học pháp lý phân chia thành bốn
hình thức gồm: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL.
thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao.
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nói trên thì ADPL là hình thức thực
hiện pháp luật rất quan trọng vì nó là bảo đảm pháp lý cho toàn bộ các hình thức
thực hiện pháp luật khác. Trong nhiều trường hợp, chủ thể thực hiện pháp luật
không muốn hoặc không đủ khả năng thực hiện pháp luật nếu thiếu sự tham gia của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì khi đó cần thiết phải thực hiện ADPL.
Để bảo đảm cho quy định pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống
nhất, điều quan trọng nhất là các quy định pháp luật cần phải rõ ràng, minh bạch,
bảo đảm được quyền, lợi ích và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức,
cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan nhà nước
trong thực hiện pháp luật nó chung và ADPL nói riêng.
* Các trường hợp áp dụng pháp luật:
ADPL được tiến hành linh hoạt, sáng tạo bởi chủ thể thực thi pháp luật. Qua
thực tiễn ADPL, có thể khái quát một số trường hợp cơ bản như sau:
- Khi có vi phạm pháp luật xảy ra và cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế
nhà nước hoặc áp dụng các chế tài của pháp luật đối với những chủ thể thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật. Các trường hợp ADPL này chủ yếu ở diễn ra trong vi
phạm pháp luật hình sự, pháp luật hành chính.
- Khi có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không
tự giải quyết được. Các trường hợp ADPL này chủ yếu ở diễn ra trong lĩnh vực dân
sự, tranh chấp về kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình…
- Nhà nước xác định một hành vi, một kết quả hoạt động hoặc một mối quan
hệ xã hội nào đó là hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Chẳng hạn như công chứng, đăng
ký kết hôn…
- Trong trường hợp quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
10
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu không có sự can thiệp của nhà nước, chẳng
hạn khi cần phải có quyết định của chủ thể có thẩm quyền thì mới phát sinh quyền
- ADPL được thực hiện chủ yếu theo ý chí đơn phương của nhà nước, thông
qua hoạt động của cơ quan nhà nước hay nhà chức trách, người có thẩm quyền và
không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị ADPL. Trong một số trường hợp đặc biệt
thì việc ADPL chỉ được tiến hành khi có yêu cầu của tổ chức hay cá nhân nhất định.
Chẳng hạn như quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự theo đơn sẽ được cơ quan
Thi hành án ban hành khi người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành nhưng
người bị thi hành án không tự nguyện thi hành.
- Quyết định, văn bản ADPL do các chủ thể có thẩm quyền ADPL ban hành
theo quy định của pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, chẳng hạn như theo quy định
tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015: “Tạm giam có thể áp
dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng” [24]
hoặc tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự (BLHS) 2015 quy định: “Khi xử phạt tù
không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ,
nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo
và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm ...” [22]. Theo quy định trên thì
trong một số trường hợp cụ thể việc “tạm giam” hay “cho hưởng án treo” là do ý chí
của người có thẩm quyền - đại diện cho nhà nước quyết định.
- Quyết định, văn bản ADPL mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với
những tổ chức và cá nhân liên quan bị áp dụng. Trong những trường hợp cần thiết,
nhà nước có thể cưỡng chế thi hành quyết định, văn bản pháp luật đã có hiệu lực
pháp luật.
Thứ hai: Hoạt động áp dụng pháp luật phải tuân theo quy trình, thủ tục chặt
chẽ do pháp luật quy định.
Việc ADPL đối với chủ thể bị áp dụng và chủ thể có liên quan nếu để xảy ra
oan, sai thì có thể bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền con người, quyền công
dân của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, có thể họ phải chịu hậu quả rất lớn về
tinh thần và vật chất, nên ADPL là hoạt động phải tuân theo về mặt hình thức và thủ
tục rất chặt chẽ, do pháp luật quy định.
GS. TSKH. Đào Trí Úc đã khẳng định một đặc trưng cơ bản về tuân thủ quy
hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị áp dụng và
người liên quan.
13
Thứ tư: Hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo.
Hoạt động ADPL là hoạt động phức tạp, phải tuân thủ quy trình chặt chẽ,
nhưng kết quả của các quyết định ADPL mà chủ thể áp dụng đưa ra phải trong
khuôn khổ của căn cứ pháp luật họ áp dụng. Chủ thể ADPL đòi hỏi phải có sự sáng
tạo chứ không chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật thực định mà còn căn cứ vào
tình hình thực tế. “Tính sáng tạo trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục pháp lý,
đó là đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật” [11].
Đối với trường hợp pháp luật không quy định chẳng hạn như trong giải quyết
vụ án dân sự, nếu luật không quy định thì tòa án có thể áp dụng tập quán, ADPL
tương tự, các nguyên tắc, án lệ, lẽ phải, lẽ công bằng để có thể đưa ra quyết định
đúng đắn, sáng suốt nhất, hợp lý nhất nhưng vẫn trong giới hạn của pháp luật mà họ
phải áp dụng.
Tại Điều 6 Bộ luật dân sự 2015 quy định về áp dụng tương tự pháp luật:
1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của
pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có
quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của
pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy
định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng. [25].
Khi ADPL, các cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền phải nghiên cứu
kỹ nội dụng vụ, việc, nếu chưa đủ căn cứ thì phải điều tra hoặc yêu cầu điều tra, thu
thập chứng cứ để từ đó lựa chọn quy phạm, ra quyết định, văn bản ADPL và tổ
chức thi hành. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì
phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc ADPL tương tự
phạm pháp trước Tòa án” [33, tr.204].
Trong từ điển Luật học định nghĩa:“Quyền công tố là quyền buộc tội nhân
danh nhà nước đối với người phạm tội” [34, tr.188].
Quyền công tố ở nước ta đã được thực hiện từ năm 1945 cho đến nay. Tuy
nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử thì có sự khác nhau về cách hiểu cũng như nhiệm
vụ mà cơ quan được nhà nước giao đảm nhận quyền năng pháp lý này. Từ năm
15
1945 đến năm 1959, khi chưa có hệ thống cơ quan VKS, QCT được giao cho Tòa
án, quyền này nằm trong hệ thống toà án, do các thẩm phán buộc tội đảm nhiệm.
Trong giai đoạn trước năm 1960, cơ quan thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố là Công tố viên thuộc Tòa án, sau đó là Viện
công tố các cấp thuộc Chính phủ, nội hàm của thực hành quyền công tố
hầu như chỉ là truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, hoặc
điều tra, khởi tố trong một số trường hợp, các quy định thuộc nội dung
thực hành quyền công tố còn rất sơ khai [18].
Đến ngày 26/7/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ
chức VKSND, thành lập nên hệ thống VKSND trong bộ máy nhà nước, đây là cơ sở
pháp lý đầu tiên cho việc hình thành một hệ thống cơ quan trong trong bộ máy nhà
nước, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN. Thuật ngữ “quyền công tố” được ghi
nhận lần đầu tiên trong Hiến Pháp 1980, sau đó tiếp tục được ghi nhận trong Hiến
Pháp 1992, BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm
1981, Luật tổ chức VKSND năm 1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002 và nay là
Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014.
Quyền công tố gắn liền với sự buộc tội của nhà nước, phát sinh khi có tội
phạm, tức là khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra, do chủ thể có năng lực
trách nhiệm hình sự, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ. Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước (bên có quyền lực và đứng ra buộc tội),
quyền đó được nhà nước giao cho VKSND và một bên là người thực hiện hành vi