Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của viện kiểm sát nhân dân thực tiễn tại tỉnh yên bái - Pdf 41

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN PHNG NHUNG

áP DụNG PHáP LUậT TRONG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
ở GIAI đOạN đIềU TRA CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN THựC TIễN TạI TỉNH YÊN BáI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN PHNG NHUNG

áP DụNG PHáP LUậT TRONG THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố
ở GIAI đOạN đIềU TRA CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN THựC TIễN TạI TỉNH YÊN BáI
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS.TSKH. O TR C

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

sát nhân dân ..................................................................................................7

1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân......................................................7
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ............................28
1.1.3. Vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân .....................................34
1.2.

Quy trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân .......................................36

1.2.1. Nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ, điều kiện, hoàn
cảnh có liên quan đến sự kiện pháp lý, đối tƣợng và quyết định xử lý
do Cơ quan điều tra cung cấp .......................................................................37
1.2.2. Lựa chọn quy phạm pháp luật, làm sáng tỏ nội dung tƣ tƣởng của các
quy phạm pháp luật đƣợc áp dụng trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ............................................38
1.2.3. Ban hành văn bản áp dụng pháp luật ...........................................................39
1.2.4. Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật .............................................39


1.3.

Các yếu tố bảo đảm hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ...............39

1.3.1. Các yếu tố khách quan .................................................................................39
1.3.2. Các yếu tố chủ quan .....................................................................................43

sát nhân dân ................................................................................................85

3.2.1. Nhóm các giải pháp về hoàn thiện pháp luật ...............................................85
3.2.2. Nhóm các giải pháp đối với ngành Kiểm sát ...............................................94
3.2.3. Nhóm các giải pháp khác ...........................................................................101
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3..........................................................................................106
KẾT LUẬN ............................................................................................................107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................109


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1.

ADPL:

Áp dụng pháp luật

2.

BLHS:

Bộ luật hình sự

3.

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

4.


VAHS:

Vụ án hình sự

10.

VKS:

Viện kiểm sát

11.

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

12.

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng


trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của
nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động
của các cơ quan tƣ pháp vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của tình hình mới. Trƣớc
thực trạng đó, Đảng và Nhà nƣớc đang tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách tƣ pháp,
nâng cao chất lƣợng hoạt động của các cơ quan tƣ pháp trong công tác đấu tranh
phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm.
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan đƣợc Nhà nƣớc trao thực hiện
chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp. Hoạt động áp dụng pháp luật
(ADPL) của VKSND trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tƣ pháp có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
trong đó công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra giúp cho CQĐT hoạt
động đúng hƣớng, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can đƣợc đúng ngƣời đúng tội, hoạt
động điều tra đƣợc đầy đủ, chính xác và kịp thời. Do vậy, hoạt động ADPL của
VKSND trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong bối
cảnh hiện nay đòi hỏi phải đƣợc chú trọng và nâng cao chất lƣợng mới đáp ứng yêu
cầu thực tiễn đặt ra.
Yên Bái là một tỉnh miền núi có địa hình đồi núi phức tạp, giao thông đi lại
còn khó khăn, có nhiều dân tộc cùng chung sống với nhiều phong tục tập quán, văn
hóa truyền thống khác nhau. Cùng với công cuộc đổi mới của Đảng, trong những
năm gần đây, kinh tế - xã hội của Yên Bái đã có nhiều khởi sắc, tuy nhiên Yên Bái
vẫn là một tỉnh nghèo, trình độ dân trí nói chung và trình độ hiểu biết pháp luật nói

1


riêng còn thấp so với cả nƣớc, tình hình vi phạm, tội phạm trên địa bàn có những
diễn biến phức tạp, tính chất nghiêm trọng ngày càng tăng.
Qua tổng kết, đánh giá thực tế tại VKNSD tỉnh Yên Bái những năm vừa qua
cho thấy, công tác thực hành quyền công tố vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, hạn chế
so với yêu cầu cải cách tƣ pháp nhƣ: có những Kiểm sát viên (KSV), có những đơn

+ Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công
tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự, đề tài
nghiên cứu cấp bộ, do Ngô Văn Đọn làm chủ nhiệm đề tài, năm 2004;
+ Sổ tay kiểm sát viên hình sự, của VKSND tối cao, tập I năm 2006;
+ Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006;
+ Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra,
của TS. Lê Hữu Thể chủ biên, Nxb Tƣ pháp, năm 2008;
- Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến ADPL trong thực hành
quyền công tố của VKSND:
+ Luận án tiến sĩ: Quyền công tố ở Việt Nam, của nghiên cứu sinh Lê Thị
Tuyết Hoa thực hiện năm 2002;
+ Luận văn thạc sĩ: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, của Trịnh Duy
Tám, năm 2005;
+ Luận văn thạc sĩ: Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma túy
theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, của Bùi Mạnh Cƣờng, năm 2007;
+ Luận văn thạc sĩ: Áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với vụ án người chưa thành niên phạm tội
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, của Vũ Xuân Thoan, năm 2008;
- Một số bài viết nhƣ: “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp” của Hà Mạnh
Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003; “Đặc trưng của áp dụng
pháp luật hình sự” của Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí nhà nƣớc và pháp
luật, số 3/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước
ta hiện nay” của Đỗ Văn Đƣơng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7/2006;
“Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền” của Nguyễn
Đăng Dung, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2008…

3

APDL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra và đƣa ra những giải pháp
nhằm đảm bảo việc ADPL đƣợc đúng đắn, nâng cao hơn nữa chất lƣợng thực hành

4


quyền công tố của VKSND tỉnh Yên Bái, đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp, góp
phần cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong tỉnh đấu tranh phòng, chống tội
phạm và bảo vệ tốt hơn lợi ích của nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức
và công dân.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích cơ sở lý luận về ADPL và ADPL trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra của VKSND theo quy định của pháp luật. Tập trung làm rõ khái
niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò, quy trình và các yếu tố bảo đảm việc ADPL trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của VKSND;
+ Phân tích thực trạng ADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh Yên Bái. Phân tích làm rõ những kết quả
đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế
trong hoạt động ADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của
VKSND tỉnh Yên Bái;
+ Đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp để nâng cao chất lƣợng ADPL trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của VKSND tỉnh Yên Bái, đề xuất các
giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng, hiệu quả ADPL trong thực
hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của VKS, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải
cách tƣ pháp ở nƣớc ta hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà
nƣớc và pháp luật, các quan điểm và tƣ tƣởng chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN, phát huy dân chủ, công khai minh bạch
đối với hoạt động của các cơ quan công quyền trong đó có hoạt động của các cơ

6


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật
* Khái niệm áp dụng pháp luật
Pháp luật là các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, do nhà
nƣớc ban hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc chung, đƣợc nhà nƣớc bảo đảm
thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục thuyết phục và cƣỡng chế nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Pháp luật chỉ có thể thực sự phát huy hiệu quả khi các quy định
do Nhà nƣớc đặt ra đƣợc chính các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội và công dân
thực hiện một cách nghiêm minh và tự giác. Căn cứ vào tính chất của việc thực hiện
pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thành 4 hình thức thực hiện pháp luật
gồm: Tuân thủ pháp luật (còn gọi là tuân theo pháp luật), thi hành pháp luật (còn
gọi là chấp hành pháp luật), sử dụng pháp luật và ADPL. Trong đó, ADPL là hình
thức thực hiện pháp luật đặc biệt quan trọng vì nó là bảo đảm pháp lý cho toàn bộ
các hình thức thực hiện pháp luật khác, tức là cho hoạt động thực hiện pháp luật nói
chung. Bởi trong nhiều trƣờng hợp, chủ thể thực hiện pháp luật không muốn hoặc
không đủ khả năng thực hiện pháp luật nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền thì khi đó cần thiết phải ADPL.
ADPL là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nƣớc thông qua các
cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật
thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định

những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội khi
được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các
trường hợp cụ thể đối với các cá nhân cụ thể và tổ chức cụ thể.
* Đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật
- ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước:

8


Pháp luật do nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện nên dĩ nhiên nó mang
tính quyền lực nhà nƣớc. Nhờ có sự bảo đảm của nhà nƣớc nên pháp luật mới có sức
mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể có liên quan. Nhƣ vậy, ADPL thực chất là quá
trình sử dụng quyền lực nhà nƣớc, nhân danh nhà nƣớc, bảo đảm cho quyền lực nhà
nƣớc có hiệu lực trên thực tế.
- ADPL là hoạt động tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định:
ADPL là quy trình đặc biệt của việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo cho
pháp luật có giá trị điều chỉnh trên thực tế. Mặt khác, chủ thể bị ADPL có thể
đƣợc hƣởng những lợi ích rất lớn nhƣng cũng có thể phải chịu những hậu quả
nghiêm trọng từ hoạt động ADPL. Do vậy, pháp luật phải quy định rõ ràng cơ sở,
điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình ADPL.
Tùy thuộc vào từng lĩnh vực ADPL mà trình tự, thủ tục đƣợc xác lập cho phù hợp.
Các quy trình, thủ tục ADPL có thể đầy đủ hoặc đƣợc rút gọn theo quy định của
pháp luật. Nhƣ vậy, không thể có một quy trình, thủ tục chung cho các lĩnh vực
ADPL trên thực tế.
- ADPL là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội
nhất định:
Đối tƣợng của hoạt động ADPL là những quan hệ xã hội cần đến sự điều
chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng
hoạt động ADPL, những quy phạm pháp luật nhất định đƣợc cá biệt hóa vào những
trƣờng hợp cụ thể của đời sống. Chính nhờ có quá trình ADPL mà nhiều quy phạm

chuẩn bị về mặt tổ chức, nhân sự, kỹ thuật cũng nhƣ xác định thời điểm tiến hành
ADPL. Nếu thấy chƣa đủ điều kiện hoặc không cần thiết phải tiếp tục ADPL thì các
chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc chấm dứt việc ADPL.
Giai đoạn đầu của quá trình ADPL đặt ra những yêu cầu sau:
+ Nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ tình tiết của vụ việc;
+ Xác định đƣợc đặc trƣng pháp lý của nó;
+ Tuân thủ các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc.
- Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết
định áp dụng pháp luật:
Đây là giai đoạn quan trọng trong quy trình ADPL vì nếu không đƣa ra cơ sở
pháp lý phù hợp và có sức thuyết phục thì sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới các giai đoạn

10


sau. Về nguyên tắc, cần phải chọn quy phạm pháp luật còn hiệu lực và sát thực với
nội dung sự kiện, quan hệ pháp luật cần điều chỉnh, làm rõ quy phạm pháp luật đó
thuộc ngành luật nào, phân tích, làm sáng tỏ nội dung của quy phạm đã lựa chọn.
Trên thực tế, việc lựa chọn quy phạm pháp luật có thể xảy ra nhiều khả năng.
Nếu có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu thì chủ thể có thẩm quyền có
thể xác định đƣợc ngay cơ sở pháp lý cho việc ADPL. Nếu có hai hay nhiều quy
phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó nhƣng ra cách giải quyết khác nhau
(trƣờng hợp xung đột quy phạm pháp luật trong ADPL) thì chủ thể có thẩm quyền
lựa chọn quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn và đƣợc ban hành sau.
Trƣờng hợp không có quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc ADPL thì chủ
thể có thẩm quyền xem xét ADPL tƣơng tự.
- Đưa ra quyết định ADPL:
Đây là giai đoạn quan trọng nhất, phản ánh kết quả thực tế quá trình ADPL
của các chủ thể có thẩm quyền. Ở giai đoạn này, những quyền và nghĩa vụ pháp lý
cụ thể của các chủ thể hoặc những biện pháp đối với ngƣời vi phạm đƣợc ấn định.

Trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa (gỡ tội)
và xét xử. Buộc tội thực chất chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với ngƣời
phạm tội. Ngƣời buộc tội hay cơ quan thực hiện chức năng buộc tội có quyền và
trách nhiệm đƣa ra lời cáo buộc cụ thể đối với những cá nhân cụ thể và có nghĩa
vụ phải chứng minh tội phạm. Quyền công tố là quyền của cơ quan công tố nhân
danh nhà nƣớc tiến hành buộc tội đối với ngƣời phạm tội, còn khi tham gia vào
các quan hệ khác (dân sự, kinh tế lao động, hành chính), cơ quan công tố chỉ (có
thể) đứng ra thay cho ai đó để đề nghị, yêu cầu Tòa án phán xét, chứ không thể
thực hiện việc buộc tội.
Do chức năng buộc tội và gỡ tội là đối trọng nhau, và cơ quan tài phán thì
không thể “vừa đá bóng vừa thổi còi”, nghĩa là không thể vừa thực hành quyền công
tố vừa xét xử, nên để bảo đảm tính khách quan và sự công bằng thì quyền công tố
phải độc lập với quyền tài phán của Tòa án. Về mặt nguyên tắc, quyền công tố chỉ
có thể do một cơ quan thực hiện và đƣợc gọi là cơ quan công tố (ở Việt Nam cơ
quan này là VKSND). Đồng thời, cũng nhƣ bất cứ loại quyền lực nào, quyền công
tố phải đƣợc thể hiện ở nội dung cụ thể của nó trong các giai đoạn tố tụng. Đây là
một trong những yếu tố quan trọng và cần thiết để phân biệt quyền công tố với các

12


thẩm quyền tố tụng khác của cơ quan công tố và với thẩm quyền của các cơ quan
tiến hành tố tụng khác nhƣ Cơ quan điều tra, Tòa án...
Từ những phân tích trên đây, tác giả đƣa ra quan điểm tƣơng đồng với đa số
các nhà nghiên cứu về khái niệm quyền công tố: Quyền công tố là quyền nhân danh
nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bảo
đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội phạm, người phạm tội và
bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa (ở Việt Nam cơ quan nhà nƣớc đƣợc giao
quyền công tố là hệ thống VKSND từ Trung ƣơng đến địa phƣơng).
- Khái niệm, đối tượng, nội dung, phạm vi thực hành quyền công tố:

luật định thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với người phạm tội và
bảo vệ việc truy cứu TNHS đó trong các giai đoạn tố tụng.
Hiến pháp năm 2013 đƣợc Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 đã
có những nội dung mới quan trọng về chế định VKSND, bổ sung, làm rõ hơn những
nguyên tắc mới, tiến bộ của tố tụng tƣ pháp liên quan trực tiếp đến hoạt động của
VKSND. Những nội dung này đƣợc cụ thể hóa trong Luật tổ chức VKSND sửa đổi
năm 2014, tại Điều 3 lần đầu tiên đã quy định rõ đối tƣợng, nội dung, phạm vi thực
hành quyền công tố: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong
TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là tất cả những quyền năng
tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm và ngƣời phạm tội, không làm oan ngƣời không có tội.
Những hoạt động trên đây của VKS hoàn toàn mang tính độc lập, không lệ thuộc
vào bất cứ cơ quan nào.
* Giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự
Quá trình TTHS đƣợc chia thành các giai đoạn khác nhau với những hoạt
động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Ở nƣớc ta hiện nay có
nhiều quan điểm về việc phân chia các giai đoạn TTHS. Có quan điểm cho rằng quá
trình TTHS gồm 5 giai đoạn: Khởi tố VAHS, điều tra VAHS, truy tố ngƣời phạm
tội, xét xử và thi hành án. Bên cạnh đó cũng tồn tại quan điểm cho rằng quá trình
TTHS gồm 7 giai đoạn: Khởi tố VAHS, điều tra VAHS, truy tố, xét xử sơ thẩm
VAHS, xét xử phúc thẩm VAHS, thi hành án và giai đoạn đặc biệt (giám đốc thẩm,

14


tái thẩm). Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn
TTHS nhƣng điều tra VAHS vẫn là giai đoạn không thể thiếu và có vai trò, nhiệm


tụng. Đối với tài liệu do ngƣời bào chữa thu thập đƣợc trong giai đoạn điều tra thì
phải giao nộp cho CQĐT hoặc VKS, việc giao nhận tài liệu, đồ vật giữa ngƣời bào
chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải đƣợc lập biên bản theo Điều 95 BLTTHS.
+ Trong giai đoạn điều tra, các chủ thể áp dụng các biện pháp tùy thuộc vào
tính chất, mức độ, hậu quả của từng vụ án. Các biện pháp đó là: Khám xét; thu giữ;
kê biên tài sản; khám nghiệm hiện trƣờng; khám nghiệm tử thi; thực nghiệm điều
tra; hỏi cung bị can; lấy lời khai ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên, ngƣời bị tạm giữ, tạm giam; đối
chất; nhận dạng... Việc áp dụng các biện pháp trên phải theo đúng trình tự, thủ tục
do BLTTHS quy định.
* Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
Do giai đoạn điều tra có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng nên việc xác định
đúng phạm vi thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn này là rất cần thiết.
Điều 112 BLTTHS (2003) quy định khi tiến hành các hoạt động thực hành quyền
công tố, cùng với việc thực hiện những hoạt động của giai đoạn điều tra thì VKS
còn thực hiện những hoạt động của giai đoạn khởi tố (quyết định khởi tố vụ án) và
giai đoạn truy tố (quyết định truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án). Nhƣ vậy
phạm vi thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn điều tra bao trùm cả hoạt
động khởi tố, điều tra và truy tố.
Điều 2 Quy chế công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc điều tra các VAHS của VKSND tối cao (gọi tắt là Quy
chế) xác định: “Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội
phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc
đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật”. Tức là phạm vi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trƣớc toà để xét xử
hoặc khi vụ án đƣợc đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.
Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, có thể đƣa ra khái niệm thực hành

6. Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm
đình chỉ vụ án [29, Điều 112].
Trong giai đoạn điều tra, tuy rằng CQĐT là chủ thể chính trực tiếp tiến hành

17


các hoạt động điều tra, nhƣng VKS là cơ quan giữ vai trò chủ đạo, quyết định và
chịu trách nhiệm đến cùng trong toàn bộ quá trình điều tra vụ án. Vì vậy, Kiểm sát
viên cần nắm vững các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS cùng các
văn bản pháp luật khác có liên quan để ADPL chính xác khi thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Cụ thể:
* Những hoạt động khởi động công tố trong giai đoạn điều tra
- Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố:
Để phù hợp với Hiến pháp (2013) và thực hiện chủ trƣơng cải cách tƣ pháp
của Đảng và Nhà nƣớc nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
phạm, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm, Luật tổ chức VKSND (2014) đã mở rộng
thẩm quyền của VKSND, quy định thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một trong những công tác thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của VKSND. Điều 12 Luật tổ chức VKSND (2014) quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhƣ sau:
1. Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt ngƣời trong trƣờng
hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con
ngƣời, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố.
2. Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái
pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status