Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn quận hai bà trưng - Pdf 51

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã chính thức bước vào ngôi nhà chung của nền kinh tế toàn cầu.Hội
nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội lớn cho toàn dân tộc nhưng chúng ta cũng
phải đối đầu với nhiều thách thức không nhỏ.Những thách thức này đòi hỏi Đảng và
Nhà Nước sẽ phải nỗ lực hơn nữa để tiếp tục công cuộc đổi mới, hoàn thiện các
chính sách nâng cao năng lực quản lý Nhà Nước, đẩy mạnh cải cách hành chính,
một trong những công tác được Nhà Nước quan tâm nhất hiện nay là công tác quản
lý Nhà Nước về đất đai.
Đất đai là tài sản rất lớn của mỗi quốc gia, giá trị của nó đang ngày càng gia
tăng một cách rõ rệt.Nhưng các mối quan hệ liên quan đến đất đang có xu hướng
diễn biến phức tạp,đòi hỏi phải có sự giải quyết kịp thời đảm bảo được lợi ích của
người sử dụng đất.Do tác động của quá trình đô thị hóa, công tác quản lý nhà nước
về đất đai vẫn còn bị lỏng lẻo chưa được quan tâm đúng mức. Thêm vào đó, ý thức
và sự hiểu biết về pháp luật đất đai của đối tượng sử dụng còn hạn chế dẫn đến
những vi phạm pháp luật trong việc sử dụng đất gây nhiều hậu quả xấu về mặt kinh
tế xã hội.Vì những lý do trên, em đã chọn đề tài:” Một số giải pháp tăng cường
công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng” làm đề
án môn học.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý Nhà Nước về đất đai.
- Tìm hiểu thực trạng quản lý Nhà Nước về đất đai trên địa bàn Quận Hai Bà
Trưng để đánh giá những mặt tích cực và những mặt còn tồn tại.
- Trên cơ sở của việc đánh giá đề xuất một số giải pháp để quản lý đất đai đạt
hiểu quả cao hơn.
3. Kết cấu của đề án
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

1



+ Là tư liệu sinh hoạt đất đô thị dùng cho nhà ở, giải trí công cộng.
+ Là tư liệu sản xuất đất đô thị căn cứ vào mục đích kinh doanh cuối cùng để
xác định không gian đất đai cầu dùng.Tính đất đặc biệt của nó thể hiện ở chỗ diện
tích đất có hạn , đất không di chuyển được, không thuần nhất về chức năng , vị trí,
và không bị hao mòn, nó là công cụ sinh lợi cho nhiều người, nhiều tổ chức trong
xã hội.Đất thuộc sở hữu của nhà nước nhưng vẫn được người sử dụng mua bán, trao

3


đổi, chuyển nhượng và đó là một loại hàng hóa đặc biệt.Chính vì vậy đất là tài
nguyên quý giá của mỗi quốc gia.
- Việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt, tôn trọng các quy định về môi trường và mỹ quan
đô thị.
Việc sử dụng đất hiện nay ở Việt Nam tuân theo luật đất đai năm 2003 mà cơ
sở của nó là luật đất đai năm 1993 và hiến pháp năm 1992.Việc khai thác, quản lý,
sử dụng đất đô thị được đặt trong môi trường pháp lý của nhà nước mà cụ thể là luật
đất đai.
- Có thể sử dụng vào các chức năng khác nhau, giá trị của mỗi lô đất chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố.Trên mảnh đất đô thị các chức năng sử dụng này cạnh tranh
với nhau như sự cạnh tranh giữa khu công nghiệp và trung tâm thương mại.
- Giá trị của đất đô thị phụ thuộc vào khả năng sinh lời do vị trí đất đem lại,
giá trị sử dụng do mức độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật để xác định mục đích sử dụng
hoặc là do chức năng được quy định trong quy hoạch xây dựng đô thị và đã được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Có nhiều đối tượng sử dụng: trên cùng mảnh đất có thể có nhiều đối tượng
cùng hưởng lợi như chủ đất, chủ nhà hàng.Các mảnh đất đô tihj riêng lẻ thường chia
làm nhiều quyền lợi khác nhau.Những cá nhân khác nhau có thể có những quyền lợi
khác nhau khi cùng chung sống trên cùng một mảnh đất , và làm ảnh hưởng đến giá

động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật
nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
- Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai.
Đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ
đất đai theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng
đất, điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá , là điều kiện tồn tại và phát triển của
con người. Đất đai là tư liệu sản xuất chính, không thể thay thế được của một số
ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp.Nếu không có nó rõ ràng không có bất

5


kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động sản xuất nào, cũng như không
thể nào có sự tồn tại của loài người.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của đất đai trong đời sống và
trong sản xuất xã hội ngày càng được đề cao, giá trị và giá trị sử dụng của nó tăng
lên rõ rệt.Do vậy các mối quan hệ liên quan đến đất đai đang diễn ra theo chiều
hướng ngày cang phức tạp, đòi hỏi cần phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước.
Việc sử dụng đất của nước ta nói riêng và Hà Nội nói chung trong thời gian
qua lộn xộn.Tình trạng vi phạm pháp luật về đất như giao đất trái với thẩm quyền,
chuyển quyền sử dụng đất không đúng như thủ tục pháp lý, sử dụng đất không đúng
mục đích, các vụ tranh chấp đất vẫn còn diễn ra ngày càng nhiều. Chức năng quản
lý nhà nước về đất đai còn nhiều chồng chéo giữa Bộ Xây Dựng và Bộ Tài NguyênMôi Trường.
Mặt khác việc tự ý chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở
không cần sự cho phép của các cơ quan chức năng. Thực trạng trên cũng phán ánh
hiệu lực của bộ máy quản lý của nhà nước về đất đai ở nước ta quá kém. Vì vậy
công tác quản lý nhà nước về đất đai là rất cần thiết.

ngành nhằm giải quyết tổng hợp những vấn đề về tổ chức sản xuất, xã hội, đời sống
vật chất…
Đô thị hóa phát triển kéo theo sự gia tăng về số lượng dân cư đô thị, đòi hỏi sự
gia tăng về đất đai xây dựng.Chức năng và hoạt động của đô thị ngày càng đa dạng
và phức tạp, nhu cầu của con người ngày càng tăng cao và đổi mới liên tục.Do đó
quy hoạch xây dựng đô thị là những hoạt động định hướng của con người tác động
vào không gian kinh tế và xã hội, vào môi trường tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người.Công tác quy hoạch đô thị phải đạt được 3 mục tiêu sau
đây:
- Tạo lập tối ưu cho việc sử dụng điều kiện không gian trong quá trình sản
xuất mở rộng của xã hội.
- Tạo lập tối ưu quá trình trao đổi giữa con người với thiên nhiên , khai thác và
bảo vệ tài nguyên môi trường.
- Phát triển toàn diện tổng hợp những điều kiện sống, điều kiện lao động và
những vấn đề phát triển nhân cách, quan hệ cộng đồng của con người.

7


3.2.2 Lập kế hoạch và phân phối đất đai xây dựng đô thị
Việc phân bố đất đai sử dụng vào xây dựng đô thị có thể chia thành các nhóm
chính sau đây:
- Đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung: bao gồm đất để xây dựng
các công trình sản xuất, kho tang, các xí nghiệp dịch vụ sản xuất, hành chính quản
lý, đào tạo, nghiên cứu và giao thông phục vụ các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra còn bố trí trong các khu công nghiệp các công trình dịch vụ công
cộng, thể thao nghỉ ngơi, giải trí.
- Đất các khu ở: bao gồm đất để xây dựng các khu mới và các khu cũ.Trong
các khu đất dùng để xây dựng các nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, đất cây
xanh, thể dục thể thao và giao thông phục vụ cho khu ở.


10-12%

Đất kho tàng

2- 3m2/ng

2-3%

Đất các khu ở

40-50m2/ng

46-50%

Đất trung tâm đô thị-khu đô thị

3-5m2/ng

3-5%

Đất cây xanh,thể dục thể thao

15-22m2/ng

15-22%

Đất giao thông

10-13%

- Hồ sơ trên được gửi đến cơ quan địa chính cùng cấp để thẩm tra và trình ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
- Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền giao đất của chính phủ thì tổng cục địa
chính và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình chính phủ
quyết định.
* Trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định giao đất đô thị:
- Việc tổ chức thực hiện quyết định giao đất đô thị được thực hiện như sau:
Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện có trách nhiệm
tổ chức triển khai việc giải phóng mặt bằng và hướng dẫn việc đền bù các thiệt hại
khi thu hồi đất trong phạm vi địa phương mình quản lý.
Việc giao nhận đất tại hiện trường chỉ được thực hiện khi các tổ chức, cá nhân
xin giao đất có quyết định giao đất, nộp tiền sử dụng đất, lệ phí địa chính và làm các
thủ tục đền bù thiệt hại theo đúng các quy định của pháp luật.
Người được giao đất có trách nhiệm kê khai. Đăng ký sử dụng đất tại ủy ban
nhân dân phường, xã, thị trấn nơi đang quản lý khu đất đó.
Sau khi nhận đất, người được giao đất phải tiến hành ngay các thủ tục chuẩn bị
đưa vào sử dụng, trong trường hợp co sự thay đổi về mục đích sử dụng, thì người
giao đất phải trình cơ quan quyết định giao đất xem xét giải quyết.
Việc sử dụng đất được giao phải đảm bảo đúng tiến đọ ghi trong dự án đầu tư
xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.Nếu trong thời hạn
12 tháng kể từ khi nhận đất, người được giao đất vẫn khoogn tiến hành sử dụng mà
không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì quyết định giao đất
không còn hiệu lực.
3.3.2 Thuê đất
Các tổ chức và cá nhân không thuộc diện giao đất hoặc không có quỹ đất xin
giao, hoặc các công việc sử dụng không thuộc diện giao đất thì phải tiến hành xin

10



- Thực hiện đúng hợp đồng thuê đất.
Hết thời hạn thuê đất, đối với trường hợp sử dụng mặt bằng, người thuê đất
phải thu dọn mặt bằng trở lại nguyên trạng, không được làm hư hỏng công trình cơ
sở hạ tầng kỹ thuật có liên quan và bàn giao lại cho bên thuê.
4. Đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị
4.1 Nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng đất
Mọi tổ chức, cá nhân khi sử dụng đất đều phải tiến hành kê khai đăng ký việc
sử dụng đất với ủy ban nhân dân phường, thị trấn để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng hợp pháp đất đang sử dụng.Việc đăng ký đất đai không chỉ đảm bảo
quyền lợi của người sử dụng đất mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với người sử dụng
đất.Việc đăng ký này sẽ giúp cho cơ quan Nhà Nước nắm chắc thực trạng sử dụng
đất,thực hiện công tác quản lý việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích.
4.2 Xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất đô
thị
Do yếu tố lịch sử để lại, nhiều người sử dụng hợp pháp đất đai tại các đô thị
nhưng chưa có đủ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp đó. Chính vì vậy, để
tăng cường công tác quản lý đất đô thị cần phải tổ chức xét, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng hợp pháp cho người sử dụng hiện hành.Việc xét, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho những người đang sử dụng thường thuộc vào các
trường hợp sau đây:
- Cá nhân sử dụng đất có các giấy tờ hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .
- Những người đang có các giấy tờ hợp lệ chứng nhận quyền sử dụng đất do
các cơ quan có thẩm quyền thuôc chế độ cũ cấp, không có tranh chấp về quyền sử
dụng đất và đang sử dụng đất không thuộc diện phải giao lại cho người khác theo
chính sách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hoặc Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

12




5.Chuyển quyền sử dụng đất đô thị
Chuyển quyền sử dụng được hiểu là việc người có quyền sử dụng đất hợp
pháp chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người khác, tuân theo các quy định
của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
Theo quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự thì chuyển quyền sử dụng
đất gồm 5 hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp
quyền sử dụng đất.
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử dụng đất trong
đó cấc bên chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho nhau theo các nội dung, hình
thức chuyển quyền sử dụng đất theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền
được quy định trong Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất: là hình thức chuyển quyền sử dụng đất,
trong đó người sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được
chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.
- Cho thuê quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất có thời
hạn.
- Thế chấp quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không
đầy đủ, trong đó bên thế chấp dùng quyền sử dụng đất để đảm bảo việc thực hiện
nghĩa vụ dân sự.
- Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết
sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với quy định của
Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
6.Thu hồi đất và đền bù khi thu hồi đất đô thị
6.1 Thu hồi đất xây dựng và phát triển đô thị
Để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, phát triển đô thị, Nhà Nước có quyền thu
hồi phần diện tích đất đai đã giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng hiện đang nằm trong
vùng quy hoạch xây dựng phát triển đô thị.
Khi thu hồi đất có người sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng, các

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết tranh chấp
giữa các tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình..
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của tòa án nhân dân

15


Tòa án nhân dân giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử
dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền và tranh
chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó.

16


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BA TRƯNG
I. Điều kiện tự nhiên,kinh tế-xã hội của Quận Hai Bà Trưng ảnh hưởng đến
công tác quản lý Nhà Nước về đất đai
1. Điều kiện tự nhiên
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam của phần nội thành.Phía Bắc giáp
với quận Hoàn Kiếm đi theo đường Nguyễn Du.Ranh giới tự nhiên phía Đông là
Sông Hồng, phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phía tây giáp Quận Đống Đa và Thanh
Xuân dọc theo đường Lê Duẩn và đường Giải Phóng.
Hai Bà Trưng là quận có nhiều phường ven nội đang đô thị hóa nhanh.Tiềm
năng chủ yếu của quận là đất đai.Hiện nay quận có 20 phường,với diện tích là
9.62km2, dân số là 378 000 người.
Trên địa bàn quận có nhiều trường Đại Học lớn như Bách Khoa, Xây Dựng,
Kinh Tế Quốc Dân…, nhiều viện nghiên cứu khoa học và đơn vị kinh tế của Trung
ương và địa phường.

Quá trình đô thị hóa đang diễn ra trên khắp các đô thị lớn dẫn đến lượng di
dân cư từ các nơi khác đến làm ăn sinh sống ngày càng đông. Do đó nhu cầu về sử
dụng đất ngày càng tăng trong khi quỹ đất thì có hạn nên việc xảy ra tình trạng tự ý
chuyển đổi mục đích sử dụng, lấn chiếm đất công làm nhà ở là tất yếu.
Cùng với quá trình đô thị hóa thì Quận Hai Bà Trưng có sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế rất nhanh theo hướng dịch vụ- công nghiệp.Sự phát triển của các hoạt động
thương mại, dịch vụ ngày càng mở rộng dẫn đến việc hình thành các trung tâm
thương mại, các hoạt động kinh doanh nhỏ..vvv.Vì vậy quá trình này làm biến đổi
sâu sắc cơ cấu sử dụng đất, gây nên sự biến động lớn về mục đích sử dụng đất .Do
đó muốn cho đời sống nhân dân trên địa bàn Quận ổn định, kinh tế ngày càng phat
triển thì phải đẩy nhanh công tác quản lý về đất đai.

18


II. Quỹ đất của Quận Hai Trưng và biến động đất đai trong thời gian qua.
1. Quỹ đất của Quận Hai Trưng
Theo số liệu thống kê năm 2009, Quận Hai Bà Trưng có tổng diện tích đất tự
nhiên là 962ha bao gồm tất cả các loại đất trong địa giới hành chính của Quận.
Theo tiêu chí phân loại đất của Tổng Cục Địa Chính, trên địa bàn Quận Hai Bà
Trưng có 4 loại đất chính đó là:
* Đất nông nghiệp
* Đất chuyên dùng
* Đất ở
* Đất chưa sử dụng
Diện tích và cơ cấu của từng loại đất được thể hiện cụ thể trong bảng sau
Cơ cấu các loại đất của Quận Hai Bà Trưng năm 2009
TT

Loại đất

4

Đất chưa sử dụng

962

0.01

5

Tổng diện tích

9.620.000

100

Nguồn: kết quả thống kê đất năm 2009
2. Biến động quỹ đất của Quận Hai Bà Trưng trong thời gian 2005-2010
Ngày 6/11/2003, Chính phủ ra nghị định số 132/2003/NĐ-CP, điều chỉnh toàn
bộ diện tích tự nhiên và dân số của phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp
Bát, Hoàng Văn Thụ Quận Hai Bà Trưng về thuộc Quận Hoàng Mai quản lý. Sau
khi điều chỉnh Quận Hai Bà Trưng chỉ còn 20 phường. Diện tích đất tự nhiên của
Quận sau khi cắt giảm 5 phường thì diện tích đất tự nhiên năm 2005 đã giảm
456,4052 ha so với năm 2000.

19


Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay Quận Hai Bà Trưng chọn hướng phát
triển thương mại, dịch vụ nên xu hướng biến động đất đai đó là diện tích đất nông

dụng đất đai trên địa bàn Quận.
2.1. Tổ chức bộ máy quản lý về đất đai của Quận Hai Bà Trưng
Phòng Tài Nguyên và Môi Trường Quận Hai Bà Trưng là cơ quan chuyên môn
trực thuộc UBND Quận. Chức năng của phòng giúp UBND Quận thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
môi trường, quản lý đất và nhà ở.
Nhiệm vụ của phòng trong việc quản lý đất đai trên địa bàn Quận:
- Thẩm định, trình UBND quy hoach, kế hoạch sử dụng đất của cả Quận.
- Trình UBND Quận kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về nhiệm vụ điều
tra, khảo sát, đánh giá, phân hạng đất, đo đạc lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai.
- Trình UBND quyết định việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở…vv
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện khảo sát, đánh giá, phân hạng đất, kê
hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, thống kê, kiểm kê, thông tin và lưu trữ tư liệu
về quản lý đất đai.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc hoạch định địa giới hành
chính phường, quản lý các dấu mốc đo đạc, mốc địa giới và giải quyết các tranh
chấp địa giới có liên quan tới đất đai.
- Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, thông tin về tài nguyên, môi
trường, nhà đất
2.2 Thực hiện các nội dung quản lý đất đai
Phòng Tài Nguyên và Môi Trường chịu trách nhiệm quản lý đất trên toàn
Quận gồm 7 nội dung sau đây:
- Điều tra, khảo sát, lập bản đồ địa chính

21





số 16/2000/QĐ-UB.Do đó giúp cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận dễ
dàng .
Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ nên công
tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật cơ sở
là cần thiết. UBND Thành Phố Hà Nội đã giao nhiệm vụ cho quận thực hiện quy
hoạch chi tiết một số phường như quy hoạch chi tiết 1/500 của phường Vĩnh Tuy
theo quyết định số 29/2007/QĐ-UBND và quy hoạc chi tiết lô đất số V, dải đất phía
nam ven đường Đại Cổ Việt theo quyết định số 43/2007/QĐ-UBND phê duyệt. Quy
hoạch chi tiết của 2 phường sẽ là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội của hai phường.
Hoạt động quản lý đất đai trên địa bàn quận vẫn đảm bảo tuân thủ đúng quy
định của pháp luật và chính sách đất đai của nhà nước. Mặc dù vậy công tác quy
hoạch sử dụng đất của quận vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn tồn tại nhiều quy hoạch treo
2.2.3. Giao đất, cho thuê đất
UBND quận Hai Bà Trưng chi thực hiện quyết định giao đất của UBND thành
phố Hà Nội.Trong quá trình quản lý đất đai, công tác giao đất ở quận được tiến
hành cho từng loại đất, từng đối tượng sử dụng.
- Hộ gia đình cá nhân sử dụng 2.980.939m 2 chiếm 30,98% tổng diện tích đất
đã giao toàn quận.
- Các tổ chức kinh tế sử dụng 3.559.044m 2 chiếm 37% tổng diện tích đất đã
giao toàn quận.
- Nước ngoài và liên doanh với nước ngoài sử dụng sử dụng 33.571m 2 chiếm
0,349% tổng diện tích đất đã giao toàn quận.
- UBND phường quản lý sử dụng 1.731.427m2 chiếm 18% tổng diện tích đất
đã giao toàn quận.
- Các tổ chức khác sử dụng 1.315.018m 2 chiếm 13,671% tổng diện tích đất đã
giao toàn quận.
Trong công tác giao đất, cho thuê đất nhiệm vụ của Quận chỉ dừng lại ở việc
thực hiện các quyết định giao đất của Thành Phố nhưng UBND Quận đã làm tốt

UBND quận Hai Bà Trưng đưa ra thì diện tích là 3.309 m 2, lấy vào phần đất thuộc
sở hữu hợp pháp của các hộ dân nhà 27B, khu tập thể bộ giáo dục và đào tạo.

24


2.2.5. Đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Việc cấp giấy chứng nhận cũng là một nôi dung quan trọng trong công tác
quản lý đất đai. Trong giai đoạn 2005-2009 công tác cấp giấy chứng nhận quyên sử
đất có nhiều biến động.
- Năm 2005: Đã cấp được 1.383 giấy chứng nhận .
- Năm 2006: Tổng số hồ sơ đã cấp giấy chứng nhận là 1.386 giấy, đã thực
hiên kiểm tra, thẩm định hồ sơ theo nghị định 61/CP là 1.478 giấy chứng nhận và đã
trả cho nhân dân được 1.312 giấy.
- Năm 2007: Tổng số hồ sơ nhà ở, đất ở tư nhân đã cấp giấy chứng nhận là
2.354 giấy, đã thực hiện kiểm tra là 1.800 giấy.Đã trả cho nhân dân được 1536 giấy,
xác nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính là 309 trường hợp.
- Năm 2008: Đối với hồ sơ nhà ở, đất ở tư nhân và nhà tự quản đã thực hiện
thẩm định là 2.615 giấy chứng nhận. Tổng số hồ sơ đã kiểm tra là 2.605 giấy chứng
nhận, trả cho nhân dân 1696 giấy, có 185 trường hợp đã hoàn thành nghĩa vụ tài
chính.
- Năm 2009: Tổng số hồ sơ đã cấp giấy chứng nhận là 3.134 giấy, đã thực
hiên kiểm tra là 2.895 giấy, trả cho nhân dân 1.956 giấy.
Theo số liệu báo cáo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kế hoạch thực
hiện đến năm 2010 thì tổng số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần cấp là
49.804 giấy.
Qua kết quả trên ta thấy: số lượng giấy chứng nhận trả cho nhân dân tăng
- Năm 2006 so với năm 2005 đạt 94,87%.
- Năm 2007 so với năm 2005 là 117,07%.
- Năm 2008 so với năm 2007 đạt 110,42%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status