ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN NGỌC NAM
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG
IN VITRO LAN HOÀNG THẢO THẠCH HỘC TÍA
(DEDROBIUM NOBILE LINDL)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Thái Nguyên - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN NGỌC NAM
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG
IN VITRO LAN HOÀNG THẢO THẠCH HỘC TÍA
(DEDROBIUM NOBILE LINDL)
Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Mã số: 60.42.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
1.1.1. Phân loại và nguồn gốc ..................................................................................... 3
1.1.2. Chi lan Hoàng thảo (Dendrobium).................................................................... 4
1.2. MỘT SỐ LOÀI LAN DENDROBIUM DÙNG LÀM THUỐC .............................. 7
1.2.1. Lan Thạch hộc ................................................................................................... 7
1.2.2. Hoàng thảo ngọc trúc - Dendrobium moniliforme............................................ 9
1.2.3. Dendrobium officinale ...................................................................................... 9
1.2.4. Các Dendrobium khác ..................................................................................... 10
1.3. GIÁ TRỊ DƯỢC LIỆU CỦA LAN THẠCH HỘC ................................................ 10
1.3.1. Đặc điểm thực vật học ..................................................................................... 10
1.3.2. Thu hái và chế biến ......................................................................................... 11
1.3.3. Công dụng và thành phần hóa học .................................................................. 12
1.3.4. Các vị thuốc chứa thạch hộc ........................................................................... 13
1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO LAN DENDROBIUM ...... 16
1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới ..................................................................... 16
1.4.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam ..................................................................... 17
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................... 19
2.1. VẬT LIỆU .............................................................................................................. 19
2.1.1. Vật liệu thực vật .............................................................................................. 19
2.1.2. Dụng cụ và hóa chất ........................................................................................ 19
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................................... 20
2.2.1. Thu và xử lý mẫu ............................................................................................ 20
2.2.2. Khử trùng mẫu hạt đưa vào nuôi cấy .............................................................. 20
2.2.3. Môi trường nuôi cấy ........................................................................................ 20
ii
2.2.4. Bố trí thí nghiệm ............................................................................................. 21
2.2.5. Điều kiện nuôi cấy .......................................................................................... 22
2.2.6. Các chỉ tiêu đánh giá ....................................................................................... 22
2.2.7. Xử lý số liệu .................................................................................................... 22
protocorm ............................................................................................................ 30
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của BAP đến sự phát triển cụm chồi lan Thạch hộc ....... 31
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của hàm lượng chuối xanh và khoai tây nghiền đến sự
phát triển lan Thạch hộc ...................................................................................... 33
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của α - NAA đến khả năng tạo rễ của lan Thạch hộc...... 35
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sự phát triển lan Thạch hộc 37
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cây và hoa lan Thạch hộc ................................................................... 11
Hình 3.1. Hình ảnh mẫu thân lan thạch hộc sinh trưởng trên môi trường bổ sung
BAP 1mg/l ........................................................................................................... 23
Hình 3.2. Hình ảnh protocorm phát sinh từ hạt Thạch hộc trong môi trường nuôi
cấy sau 40 và 60 ngày ......................................................................................... 25
Hình 3.2. Hình ảnh protocorm sinh trưởng trên môi trường có nồng độ BAP
khác nhau............................................................................................................. 26
Hình 3.3. Hình ảnh protocorm sinh trưởng trên môi trường có bổ sung
saccharose sau 8 tuần nuôi cấy............................................................................ 28
Hình 3.4. Chồi phát sinh từ cụm protocorm trong môi trường chứa 100ml/l
nước dừa .............................................................................................................. 29
Hình 3.5. Ảnh hưởng của than hoạt tính đến khả năng phát sinh chồi từ cụm
protocorm ............................................................................................................ 30
Hình 3.6. Ảnh hưởng của BAP tới sự nhân nhanh chồi lan Thạch hộc ............. 32
Hình 3.7. Ảnh hưởng của chuối xanh và khoai tây lên sự phát triển lan Thạch hộc ....34
Hình 3.8. Ảnh hưởng của α - NAA đến khả năng tạo rễ của lan Thạch hộc ...... 35
Hình 3.9. Hình ảnh cây lan thạch hộc con sinh trưởng trên các loại giá thể khác
nhau sau khi ra chai và huấn luyện tại vườn ươm .............................................. 37
6 - Benzyl adenin purine
EAC
Ehrlich ascites cells
GA3
Gibberellic acid
IAA
Indol - 3 - acetic acid
IBA
Indol - 3 - butyric acid
Kinetin
6 - furfurryl - aminopurin
MS
Murashige and Skoog
PM
Phytamax
điển hình là dược liệu lan Thạch hộc thuộc chi lan Hoàng thảo.
Trên thế giới, chi lan Hoàng thảo (Dendrobium) có khoảng 1400 loài, chủ
yếu phân bố ở Đông Nam Á và các đảo thuộc Philippine, Malaysia, Indonesia,
Papua New Guinea, Đông Bắc Australia. Ở Việt Nam có 107 loài và 1 thứ, phân
bố ở các vùng núi từ Bắc vào Nam và trên một số đảo ven biển. Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay nhiều loài đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe
dọa. Tình trạng khai thác đến cạn kiệt hầu hết các loài phong lan rừng ở nước ta
đang xảy ra mạnh, điển hình như vùng Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc như Hà
Giang, Yên Bái, Thái Nguyên... gây nguy cơ tuyệt chủng cao một số loài phong
lan quý hiếm.
Hoa Phong Lan không chỉ có tác dụng làm đẹp cho không gian sống mà
còn là bài thuốc có tác dụng chữa bệnh thần kỳ. Trong đó có thể kể đến lan Kim
tuyến được dùng trong điều trị các bệnh như trị đau bụng, sốt cao, rắn cắn, bệnh
tiểu đường, bệnh viêm thận, huyết áp cao, yếu sinh lý, phòng ngừa u bướu và
chữa các bệnh tim mạch; Lan Phi Điệp, Hoàng thảo đùi gà trị các chứng suy
nhược cơ thể, thần kinh suy nhược, đau họng và yếu sinh lý ở nam giới. Lan
Thạch hộc được dùng chữa ho lao, sốt nóng, khô cổ, ho, đau họng, khát nước
thuộc chứng âm hư, nóng trong, đau lưng, chân tay nhức mỏi, ra mồ hôi trộm,
thiểu năng sinh dục ở nam giới, di tinh, đau dạ dày, viêm ruột…
Hiện nay, lan rừng đang bị khai thác cạn kiện do nhu cầu chơi hoa cũng
như nhu cầu thu hái làm thuốc. Các thương lái Trung Quốc đã tràn sang các tỉnh
phía bắc Việt Nam và săn lùng, thu mua số lượng lớn các loại lan có tác dụng
làm thuốc. Vì vậy việc bảo tồn nguồn dược liệu tự nhiên là rất cần thiết.
1
Thông qua phương pháp nuôi cấy mô, tế bào thực vật với hệ số nhân
giống cao có thể tạo ra rất nhiều cây con in vitro đồng đều mang các đặc điểm
ưu việt mong muốn mà không phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết… góp phần thực
có một số loài mọc trên đá tức thạch lan. Họ lan đã biết khoảng 28.000 loài tự
nhiên và 100.000 lai ghép, 850 chi chiếm khoảng 10% của các loài thực vật có
hoa.
Danh sách dưới đây liệt kê sự phân bố của họ này:
• Nhiệt
đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
• Nhiệt
đới châu Á: 260 - 300 chi
• Nhiệt
đới châu Phi: 230 - 270 chi
• Châu
Đại Dương: 50 - 70 chi
• Châu
Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
• Bắc
Mỹ: 20 - 25 chi
Ở Việt Nam có 137 đến 140 chi gồm trên 800 loài lan rừng, bao gồm địa
lan, thạch lan và phong lan, phân bố rộng khắp cả nước .
từ thân sau khoảng 1 năm và tiếp tục ra hoa trong nhiều năm kế tiếp. Do sự đa
dạng nên các nhà sưu tập và trồng Dendrobium đã tạm phân loại chúng dựa theo
một số điểm tương đồng, về cách sống, mùa nghỉ và mùa hoa. Một số nhóm
tiêu biểu như:
(1)
Callista : Không rụng lá, đa số có giả hành. Có từ 1-6 lá mọc phía
trên đỉnh giả hành. Cần hoa xuất hiện vào mùa Xuân, thường cong vòng và
mang nhiều hoa màu vàng, trắng, tím nhạt. Trong nhóm này có những loài như
Den. chrysotoxum (Hoàng lạp), Den. densiflorum (Thủy tiên vàng), Den.
farmeri (Thùy tiên trắng), Den. Lindleyi và Den. Thyrsiflorum
(2)
Spatulata : thường được gọi là nhóm lan 'Hoàng thảo-sừng sơn
dương', do hoa có đôi cánh dài và mọc xoắn như sừng antelope. Không rụng lá,
4
giả hành to, cao. Ra hoa một lượt với nhiền cành hoa, hoa lâu tàn. Được xem là
nhóm dễ trồng. Trong nhóm có Den. antenatum, Den. canaliculatum, Den.
discolor, Den. gouldii, Den. johannis, Den. lineale, Den. sratiotes, Den.
strebloceras và Den. Laurinum.
(3)
Dendrobium : Rụng lá và giả hành mọc rũ xuống. Hoa mọc ra gần
đầu các cành già không còn lá. Cây cần có mùa đông lạnh để trổ hoa. Nhóm này
có Den. Anosmum (Phi điệp), Den. chrysanthum, Den.falconeri, Den.
- Ánh sáng: Lan cần nhiều ánh sáng gần như có thể để ở ngoài trời nhưng
cần phải có lưới che phòng khi lá non bị cháy nắng. Khi thấy cây quặt quẹo, đó
5
là dấu hiệu thiếu nắng, hãy đưa cây ra chỗ có nhiều nắng hơn nhất là vào mùa
đông, nếu thiếu nắng cây khó ra hoa.
- Nhiệt độ: Lan cần nuôi trong nhiệt độ từ 8 - 25°C tuy nhiên lan có thể
chịu nóng tới 38°C và có thể chịu lạnh tới 3,3°C. Ngoài ra nếu vào mùa đông
lạnh dưới 15,6°C trong vòng 4 - 6 tuần lan sẽ khó ra nụ.
- Độ ẩm và thoáng gió: Lan mọc mạnh nếu độ ẩm từ 60 - 70%. Nếu độ ẩm
quá thấp cây non sẽ không lớn được và bị teo đi. Cây cũng không mọc mạnh nếu
không thoáng gió và trong thời kỳ lan ra nụ nếu không thoáng gió nụ sẽ ít đi.
- Giá thể: Với một số loài lan trồng không cần dùng đến giá thể vẫn sinh
trưởng tốt, nhưng nếu môi trường sống có giá thể vẫn tốt hơn. Giá thể của lan
gồm những thứ dễ kiếm, nhiều khi không cần mất tiền mua vì có sẵn trong tự
nhiên. Những chất liệu này không phải vùng nào cũng giống nhau và chúng
được chọn tùy theo điều kiện ngoại cảnh, nhân lực, loài lan và qui mô sản xuất.
Những loại giá thể thường sử dụng như vỏ thông, mùn cưa, vụn dớn, vỏ dừa,
rêu...
- Tưới nước: Vào mùa hè khi lan ra mầm non và mọc mạnh, tưới 2 - 3 lần
một tuần. Vào mùa thu, khi cây đã ngừng tăng trưởng nên tưới nước thưa đi,
mỗi tuần chỉ cần tưới 1 lần cho thân cây khỏi bị teo lại. Vào mùa đông, đây là
thời gian lan chuẩn bị để ra hoa, ngưng hẳn việc tưới nước. Nếu độ ẩm quá thấp
nên phun sương mỗi tháng 1 - 2 lần [26].
c. Sâu bệnh và các vấn đề khác
Vì lan Dendrobium cần được bón nhiều loại phân hữu cơ khác nhau và
môi trường giá thể sẽ mục nát sau một thời gian trồng cây nên đã tạo điều kiện
cho nhiều loài sâu bệnh gây hại, một số bệnh thường gặp và cách điều trị:
+ Bệnh hại trên lan
- Bọ trĩ: Gây hại chủ yếu trong mùa nắng, dùng Malathion 5 mg/bình 4 lít
nước, phun 1 tuần/lần, phun liên tiếp liên tục trong 3 tuần [26].
1.2. MỘT SỐ LOÀI LAN DENDROBIUM DÙNG LÀM THUỐC
1.2.1. Lan Thạch hộc
Đây là loài lan được dùng làm thuốc lâu đời nhất tại Trung hoa, Nhật và
cũng là cây được nghiên cứu sâu rộng nhất về dược tính và ứng dụng làm thuốc
kể cả các thuốc đặc chế. Lan Thạch hộc phân bố khá rộng từ vùng Himalaya,
Assam, Nepal, Bhutan, Myanmar, Trung Hoa, Thái, Lào, Việt Nam. Cây được
7
dùng làm 'cây gốc' để lai tạo thành nhiều chủng loại cho hoa có mùi thơm và đủ
màu sắc.
Loài lan Thạch hộc thuộc chi Dendrobium bao gồm một số loài quý hiếm
đang cạn kiệt trong thiên nhiên. Tên Thạch hộc, theo Trung Hoa, “thạch” là đá;
“hộc” là đơn vị đo lường, “Thạch hộc” có nghĩa là lan mọc trên những tảng đá
to cỡ một hộc. Đây là cây lan được dùng làm thuốc lâu đời nhất tại Trung Quốc,
Nhật Bản và cũng là cây được nghiên cứu sâu rộng nhất về dược tính và ứng
dụng làm thuốc kể cả các thuốc đặc chế .
Thạch hộc khó sinh sản, mọc chậm, khó trồng, những cây mọc hoang dã
đã được đưa vào “Công ước buôn bán quốc tế động thực vật hoang dã có nguy
cơ tuyệt chủng” được pháp luật bảo vệ, do đó nguồn cung cấp tự nhiên đã cạn
kiệt, cấm thu hái và buôn bán. Một số loại Thạch hộc thường gặp bao gồm:
- Thạch hộc Rỉ sắt (Thiết bì Thạch hộc - Dendrobium nobile Lindl.) với
đặc trưng vỏ cây có màu xanh tía nên còn được gọi là thạch hộc tía, là cây thảo
bản phụ sinh lâu năm, sống bám vào cây gỗ lớn rừng nguyên sinh có độ ẩm cao
hoặc ở vách đá ẩm ướt, ưa khí hậu ẩm và râm mát, có giá trị độc đáo về dược
phẩm.
- Thạch hộc Lưu tô (đuôi ngựa) phân bố chủ yếu ở Quý Châu, Vân Nam,
Quảng Châu ở độ cao 600 - 1700 m, phụ sinh trên cây gỗ rừng kín hoặc vách đá
tính chống sưng và tạo tiến trình apoptosis nơi tế bào. Cây còn có những sesquiterpene
glucosides và phenolic glycosides như copacamphane, picrotoxane có những hoạt tính
kích ứng miễn nhiễm. Dendroside A, C và vaniloside có hoạt tính kích thích sự sinh
sản tế bào B, đồng thời ức chế sự bội sinh tế bào T. Dịch chiết bằng methanol toàn
cây cho những alkyl ferulates có hoạt tính chống oxy-hóa. Dịch chiết bằng methanol
từ rễ có hoạt tính hạ nhiệt khi thử [8].
1.2.3. Dendrobium officinale
Cây lan hầu như ít được nhắc đến trong các sách vở nghiên cứu, nuôi trồng lan
và chỉ được mô tả trong các bài viết y dược tại Trung Hoa. Theo Ủy Ban Chế dược
thư (Pharmacopoeia Commission of PRC, 2010) thì D. officinale được xếp vào loại
cây thuốc giúp đề kháng ung thư và tăng tuổi thọ. Những nghiên cứu khoa học ghi
nhận D. officinale có polysaccharides trong cây cải thiện, tăng cường sức đề kháng tế
bào khi thử trên chuột, hoạt tính chống oxy-hóa của các polysaccharides tổng cộng và
polysaccharide tinh chế DCPP3c-1 (trích từ môi trường cấy mô D. officinale) đã được
9
chứng minh qua các thử nghiệm 'in vitro'. Dịch chiết từ D. officinale có hoạt tính làm
hạ đường khi thử trên chuột bị gây tăng đường trong máu bằng adrenaline và bằng
streptozotocin do cách tác động kích thích sự bài tiết insulin từ tế bào beta, đồng thời
ngăn sự bài tiết glucagon từ tế bào alpha, ngoài ra còn làm giảm sự phân hủy của
glycogen trong cơ thể, làm tăng tổng hợp glycogen trong gan. D. officinale là một
trong 5 dược thảo có chứa chrysotoxene, erianin và confusarin là những chất có hoạt
tính diệt bào khi thử (in vivo và in vitro) trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau [8].
1.2.4. Các Dendrobium khác
Một số Dendrobium khác đã được nghiên cứu về hoạt chất cùng khả
năng trị bệnh như:
- Dendrobium densiflorum: Trong cây có Scopoletin và Scoparone có
hoạt tính ngăn chặn sự kết tụ tiểu cầu.
- Dendrobium chrysanthum: Trong đọt có erianin có hoạt tính diệt bào
khí cao và cường độ ánh sáng vừa phải [23].
1.3.2. Thu hái và chế biến
Trữ lượng Thạch hộc của ta rất phong phú, nhu cầu làm thuốc và xuất khẩu
cũng rất nhiều nhưng ở thị trường không có bán vì Thạch hộc là một loại dược liệu
hiếm gặp, khai thác khó khăn tốn kém, trong thân cây có chất dịch keo quánh, vỏ
dày, phơi rất lâu khô, nếu không được nắng mà bị mốc đen mất phẩm chất thì
không bán được. Do đó ít người thu hái chế biến để bán.
Vậy thu hái Thạch hộc phải chọn thời gian nắng lâu để có điều kiện phơi
khô. Nên tổ chức phơi, sấy tại chỗ nơi có dược liệu, vừa sẵn củi để sấy khô, vừa
đỡ phải chở cây tươi về, tốn nhiều công sức cước phí.
Thạch hộc thu hái về, cắt bỏ lá rễ, lấy thân trước trên luộc lên rồi phơi
nắng cho chóng khô, sau sấy thêm và xông diêm sinh cho vàng và khô đều. Ở
11
những nơi có nhiều dược liệu và có điều kiện tập trung thì nên xây lò sấy như
một gian chuông kín, làm giàn nhiều tầng để rải mỏng dược liệu từng lớp, đốt
than củi mà sấy, và trở luôn cho đều, thì không cần phải luộc trước. Tiện nhất là
làm lò sấy bằng tôn, để lưu động. Và nếu khai thác với quy mô lớn thì tốt nhất
xây lò gạch chịu lửa kiểu như lò bánh mỳ, đốt lò để sấy với hơi nóng hẩm đều
thì phẩm chất đảm bảo và sau không cần xông diêm sinh nữa.
Cao Thạch hộc: Để khỏi phải phơi sấy phức tạp và chuyên chở công kềnh
tốn công, ta nên nấu cao thạch hộc tại chỗ: đập dập thân cây, cắt khúc nấu, lọc,
cô thành cao, 100kg dược liệu tươi cho 8 lít cao lỏng như mật ong, dùng rất tốt
và rất tiện trong việc trị bệnh cũng như tẩm bổ [1].
1.3.3. Công dụng và thành phần hóa học
Thạch hộc làm thuốc có nhiều hoạt chất có hoạt tính sinh học quý. Thạch
hộc tía giàu polysacharide Thạch hộc, alkaloid Thạch hộc, các acid amine và
nhiều chất khoáng kali, canxi, magie, mangan, đồng, titan và nhiều nguyên tố vi
lượng, trong đó polysacharide Thạch hộc tới 22%, hàm lượng các acid amine
1.3.4. Các vị thuốc chứa thạch hộc
Thạch hộc giúp tiêu hóa, bổ âm sinh tân dịch, giúp tiêu hóa khỏi nôn ọe,
háo khát, chữa bệnh sốt âm kéo dài, người gầy khô do tinh dịch hao kém, dùng
12-20g phối hợp với các vị khác.
Chữa bệnh ôn nhiệt, nóng ẩm khô rát, mất nước: dùng Thạch hộc, Mạch
môn, Huyền sâm, Sa sâm nam mỗi vị 20g sắc uống. Hoặc dùng cao thạch hộc
uống một thìa 3ml, ngày uống 3-4 lần.
Chữa bệnh âm hư hỏa bốc, người gày sạm đen, khô khát, thổ huyết, ra máu
mũi, dùng phương “Tư âm giáng hỏa” của Lãn Ông: Thạch hộc, Sinh địa, Thục
địa, Đơn sâm, Sa sâm, Thiên môn, Ngưu tất mỗi vị 16g, Ngũ vị tử 3g sắc uống.
Chữa lao phòng quá độ, hao nhiều tinh khí, hoặc thức đêm mất ngủ, ngồi lâu
làm việc trí óc sinh đau lưng mệt mỏi, hỏa bốc nhức đầu ù tai, đỏ mồ hôi trộn, khó
ngủ, chán cơm dùng cao Thạch hộc uống mỗi lần 4ml, ngày uống 3-4 lần.
Chữa di tinh, đái đường: Thạch hộc, Kim anh tử mỗi vị 16g sắc uống với
bột Hoài sơn, củ Súng mỗi vị 12g, chia làm 3 lần [1].
13
Các dụng chính của Thiết bì thạch hộc
- Bổ dưỡng tân dịch
“Đại từ điển dược học Trung Quốc” gọi Thiết bì thạch hộc là “chuyên bổ khí
dịch phế vị, khí dịch xung vượng, thận thủy tự sinh”, tốt cho bổ âm sinh dịch, trị
chứng thiếu âm dịch, giúp cải thiện rõ rệt triệu chứng tinh thần ủ rũ, sắc diện nhợt
nhạt, mắt khô thần sắc trì trệ, đau lưng mỏi gối, chóng mặt lao lực, táo bón [23].
- Tăng cường thể chất
Thiết bì thạch hộc có công dụng tư dương dưỡng huyết, “Dược tính luận”
của đời Đường có ghi chép thiết bì thạch hộc có thể bổ thận tích tinh, dưỡng vị âm,
ích khí lực, trong thạch hộc có chứa nhiều polisaccharide, nghiệm chứng chứng
minh polisaccharide trong thạch hộc có tác dụng tăng cường miễn dịch, có thể tăng
cường khả năng nuốt tế bào hồng cầu của đại thực bào (macrophage) [23].
có thể dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận táo, từ cổ đến nay chính là thuốc chuyên
dùng để trị liệu bệnh tiểu đường. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy, thiết bì thạch
hộc không chỉ tăng cường hoạt tính insulin, đồng thời hạ rõ rệt mức đường huyết,
khôi phục đường huyết bình thường [23].
- Ức chế khối u
Thiết bì Thạch hộc có tác dụng tiêu diệt một số tế bào khối u ác tính
trong ung thư phổi, ung thư buồng trứng và bệnh máu trắng tế bào tiền tủy bào,
có hoạt tính kháng u khá mạnh. Thực tiễn lâm sàng cho thấy, thạch hộc dùng trị
liệu phụ trợ với các khối u ác tính, có thể cải thiện bệnh trạng của người mắc
khối u, giảm bớt tác dụng phụ của xạ trị, hóa trị, tăng cường khả năng miễn dịch,
nâng cao chất lượng sống, kéo dài thời gian sống [23].
- Sáng mắt
Đông Y cho rằng “gan thông với mắt”, sinh lý bệnh lý của mắt có quan
hệ mật thiết với sự thịnh vượng âm tinh của gan, Thạch hộc có công dụng bổ âm
dưỡng mắt, được nhiều thế hệ thầy thuốc xem là thuốc quý để bồi bổ đôi mắt.
Nghiên cứu dược lý học hiện đại chứng minh, thiết bì Thạch hộc có tác dụng
làm chậm đục thủy tinh thể ở người già, có thể duy trì 36% độ trong của thủy
tinh thể, có tác dụng ức chế và sửa chữa với những biến đổi bất thường của hoạt
tính enzyme do galatoza tạo ra, bên cạnh đó còn có hiệu quả rõ rệt với việc bảo
vệ thị lực của thanh thiếu niên nhi đồng [23].
15
- Đẹp da
Con người sau khi bước vào tuổi trung niên, do âm dịch trong cơ thể
ngày càng giảm sút, từ đó đẩy nhanh tốc độ lão hóa da, khiến da trở nên khô
sạm hoặc nhăn nheo. Thiết bì Thạch hộc có chứa đa lượng chất bạch huyết, có
tác dụng dưỡng ẩm, cung cấp dinh dưỡng cho làn da [23].
-Kéo dài tuổi thọ
rễ được rửa bằng nước cất, rửa qua ethanol 70% trong 30 giây, tiếp theo khử
trùng với hypo natri 3% (bổ sung 2 - 3 giọt Tween 80 EAC) trong 20
phút và sau đó rửa sạch cho 4 - 5 lần bằng nước cất vô trùng. Thân rễ được trẻ
ra cắt miếng nhỏ (5mm) và các mảnh rễ được cấy trên môi trường cơ bản của
MS bổ sung các chất kích thích tăng trưởng như NAA, BAP và kinetin. Các mẫu
hình thành protocorm tốt trên môi trường MS + 1,2μMkinetin + 2,0μM NAA .
Sau đó protocorm phát sinh chồi tốt nhất trên môi trường MS + 0,5μM BAP [21].
1.4.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Nguyễn Thanh Tùng và CS (2010) đã áp dụng phương pháp nuôi cấy lát
mỏng tế bào trong nhân giống in vitro cây Hoàng thảo thân gãy (Dendrobium
aduncum). Trong nghiên cứu của nhóm tác giả này, vật liệu khởi đầu là chồi in
vitro được cắt lát mỏng theo chiều ngang. Kết quả cho thấy mẫu cảm ứng tốt
trên môi trường ½ MS + 0,5 mg/l BA và tái sinh tốt trên môi trường MS + 3mg/l
kinetin + 0,3 mg/lNAA. Từ protocorm tỷ lệ chồi đạt được 5,67 chồi/mẫu [10].
Nghiên cứu nhân nhanh in vitro giống lan Kim điệp (Dendrobium
chrysotoxum), Nguyễn Văn Song (2011) đã tìm ra môi trường thích hợp cho sự
nảy mầm và phát sinh protocorm của hạt là MS + 20 g/l đường saccharose+ 8 g/l
agar + 150 ml/l nước dừa + 2,0 mg/l BAP. Môi trường nhân nhanh protocorm
tốt nhất là MS + 20 g/l đường saccharose+ 8 g/l agar + 150 ml/l nước dừa + 2,0
mg/l BAP. Môi trường MS + 20 g/l đường saccharose+ 8 g/l agar + 150 ml/l
nước dừa + 2,0 mg/l BAP + 1,0 mg/l NAA thích hợp nhất cho tái sinh chồi từ
protocorm và sinh trưởng của chồi in vitro. Môi trường MS + 20 g/l đường
saccharose+ 8 g/l agar + 150 ml/l nước dừa + 1,0 mg/l NAA thích hợp nhất cho
sự ra rễ của chồi in vitro [11].
Nghiên cứu nhân nhanh in vitro giống lan Hoàng thảo Long nhãn
(Dendrobium fibriatum), Nguyễn Thị Sơn (2011) đã khẳng định môi trường thích
hợp cho nảy mầm và phát sinh protocorm của hạt là MS + 10 g/l đường saccharose
17