Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro các giống mía Br2, Br7515 và QĐ 93-159 nhập nội. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHAN ĐÌNH NHÂN Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHÂN IN VITRO
CÁC GIỐNG MÍA BR2, BR7515 VÀ QĐ 93-159 NHẬP NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Khoa : Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm
Khoá : 2010 – 2014 Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


chân thành và sâu sắc tới TS. Hà Thị Thúy, phó Viện trưởng Viện Di Truyền Nông
Nghiệp. Cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình hướng dẫn tôi trong toàn bộ
quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới cô Th.s Nguyễn Thị Tình khoa CNSH-
CNTP, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đã hướng dẫn, giúp tôi thực tập và hoàn
thành khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chị Đỗ Thị Vân đã tận tình chỉ bảo tôi
trong suốt thời gian thực tập khoa luận tại trạm thực nghiệm Sinh học Công nghệ
cao Văn Giang – Hưng Yên.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô chú, anh chị làm việc tại trạm
thực nghiệm Sinh Học Công nghệ cao, Văn Giang, Hưng Yên; trực thuộc Viện Di
Truyền Nông Nghiệp, đã tạo điều kiện tối đa cho tôi trong toàn bộ quá trình thực
tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc nhất tới tập thể các thầy cô giảng
dạy tại khoa CNSH – CNTP, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đã hướng dẫn,
giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên động viên và tạo
mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2014
Sinh viên

Phan Đình Nhân
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Khả năng tạo chồi của chồi của ba giống mía Br7515, Br2 và QĐ93-159
sau 3 tuần nuôi cấy 29
Bảng 4.2: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau kết hợp với
Kinetin(0, 2mg/l MT) lên quá trình tái sinh chồi từ callus của hai giống
mía Br2 và Br7515 31
Bảng 4.3: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau kết hợp với

ba giống mía Br7515, Br2 và QĐ93-159. 32

Hình 4.5: Ảnh hưởng của nồng độ BAP đến quá trình tái sinh chồi từ callus
cau 3 tuần nuôi cấy 34

Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nước dừa đến sự hình thành chồi
từ callus của ba giống mía Br2, Br7515 và QĐ93-159 36

Hình 4.7: Ảnh hưởng của nước dừa đến dự hình thành chồi từ callus sau 3
tuần nuôi cấy 37

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ khác nhau lên
quá trình nhân nhanh chồi của ba giống mía BR2, QĐ 93-159 và
BR7515. 39

Hình 4.9 Ảnh hưởng của BAP trong kéo dài chồi sau 4 tuần nuôi cấy. 41

Hình 4.10: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ NAA đến quá trình hình
thành rễ bất định của các giống mía Br2, Br7515 và QĐ 93-159 tạo cây
hoàn chỉnh 43

Hình 4.11: Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến quá trình hình thành rễ sau 2
tuần nuôi cấy 45

Hình 4.12: Cây sau khi được rửa sạch môi trường và hóa chất 45

Hình 4.13: Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của chất nền đến tỷ lệ sống của cây
trên vườn ươm 46

Hình 4.14: Mía nuôi cấy mô ngoài vườn ươm sau 30 ngày 47

2.1.2.3. Điều kiện vô trùng 8
2.1.3. Các hướng ứng dụng của nuôi cấy mô tế bào thực vật 8
2.1.3.1 Tạo dòng sạch bệnh 8
2.1.3.2. Vi nhân giống bảo tồn gen 9
2.1.4. Các phương pháp vi nhân giống 9
2.1.4.1. Hoạt hóa chồi nách 9
2.1.4.2. Phương pháp tạo chồi bất định 10
2.1.4.3. Phương pháp tạo phôi vô tính 10
2.1.4.4. Các bước chính trong nhân giống in vitro 11
2.2. Giới thiệu về cây mía 13
2.2.1. Nguồn gốc, vị trí phân loại cây mía 13
2.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh thái của cây mía 13
2.2.3. Phân loại giống mía ở Việt Nam 14
2.2.4. Ý nghĩa kinh tế của cây mía 14
2.2.5. Tình hình sản xuất mía trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.5.1. Trên thế giới 15
2.2.5.2. Việt Nam 16
2.2.6. Tình hình nhân giống cây mía bằng phương pháp in vitro trên thế giới
17
2.2.7. Tình hình nhân giống cây mía bằng phương pháp in vitro ở Việt Nam18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.3. Hóa chất và thiết bị 19
3.3.1. Hóa chất 19
3.3.2. Thiết bị 19
3.4. Nội dung nghiên cứu. 20
3.5. Phương pháp nghiên cứu 20
3.5.1. Phương pháp nghiên cứu nội dung 1 20

Mía là tên gọi chung của một số loài thuộc chi mía (Saccharum), chúng là
các loài sống lâu năm, thuộc tông Andropogoneae của họ hòa thảo (Poacea). Thân
mía to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2- 6m. Hầu hết các vùng trồng mía
hiện nay đều dùng để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất đường.
Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành
Mía đường đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 với các chỉ tiêu chủ yếu đến
năm 2010 như diện tích mía 300.000 ha; năng suất mía bình quân 65 tấn/ha; sản
lượng mía cả nước 19,5 triệu tấn; tổng sản lượng đường sản xuất 1,5 triệu tấn (trong
đó sản lượng đường công nghiệp đạt 1,4 triệu tấn). Định hướng đến năm 2020 tổng
diện tích khoảng 300, 000 ha, năng suất bình quân đạt 80 tấn/ha, tổng sản lượng đạt
24 triệu tấn.
Tuy nhiên tất cả các chỉ tiêu đặt ra cho ngành mía đường đều đã không đạt
kế hoạch. Vụ mía đường 2012 - 2013 kết thúc với những thống kê, tổng sản lượng
đường chỉ đạt 19, 4 triệu tấn. Công suất chế biến của các nhà máy chỉ đạt 72,5%-
74,4% so với thiết kế. Các chỉ tiêu thực tế năm 2013đạt được là: Diện tích mía
298.200 ha; năng suất mía bình quân 63, 9 tấn/ha (vẫn chưa đạt được mức dự kiến
đặt ra năm 2010).
Để tăng năng suất mía khi mà diện tích reo trồng vẫn giữ nguyên đòi hỏi
phải cải tiến về kĩ thuật canh tác cũng như cải tiến chất lượng giống.
Việc nghiên cứu nhân nhanh các giống mía mới bằng phương pháp nuôi cấy
mô phục vụ cho sản xuất mía đường ở Việt Nam cũng như trên thế giới là một trong
những hướng đi nhằm tạo ra giống nhanh có chất lượng,cũng như là nguồn cung
cấp cây giống đồng đều sạch bệnh cho các vùng sản xuất. Chính vì thế chúng tôi đã
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro các giống
mía Br2, Br7515 và QĐ 93-159 nhập nội”.

2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được ảnh hưởng của chồi đỉnh và chồi nách đến khả năng tái sinh
của các giống mía Br7515, Br2 và QĐ93-159.

mặn, khả năng chịu nóng, lạnh…) của thực vật nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm
tối thiểu thời gian và chi phí thấp hơn nhiều so với việc tiến hành ngoài đồng ruộng.
Đánh giá được sức sinh trưởng của mía nuôi cấy mô và mía hom ngoài sản
xuất.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất.
- Tạo cơ cấu giống phù hợp cho từng vùng nguyên liệu với tốc độ nhanh:
Hiện nay các nhà máy sản xuất được xây dựng ngày càng nhiều, dẫn tới nguồn
nguyên liệu của từng vùng sản xuất phù hợp cần được tìm hiểu và nghiên cứu. Sau
khi xác định được giống ưu việt nhân nhanh giống mới thay thế giống cũ phù hợp
với từng vùng.
- Đảm bảo an toàn sinh học: Gây dựng bước đầu một vùng nguyên liệu mía
mới bằng các giống cấy mô sạch bệnh. Nuôi cấy mô là biện pháp cung cấp giống
sạch bệnh, giảm chi phí thuốc hóa học , giúp cho việc nhập nội giống an toàn sinh
học
- Nuôi cấy mô làm trẻ hóa, sạch bệnh, tăng năng suất mía một cách đáng kể:
Kinh nghiệm của hầu hết các nước trồng mía đều cho thấy vai trò quan trọng của
công nghệ cấy mô đối với nhân giống mía.

4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật và ứng dụng
2.1.1. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật.
Cơ sở lý luận của nuôi cấy mô tế bào thực vật đó là tính toàn năng của tế bào
do Haberlandt nêu ra vào năm 1902. Theo quan niệm của khoa học hiện đại thì tính
toàn năng của tế bào là mỗi tế bào riêng rẽ đều mang toàn bộ lượng thông tin đi
truyền cần thiết và đủ của cơ thể sinh vật đó. Khi gặp điều kiện thuận lợi thì mỗi tế
bào đều có thể phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Để thể hiện tính toàn năng tế
bào phải trải qua 3 giai đoạn;

môi trường nuôi cấy là việc xem xét các thành phần cần thiết cho sự tăng trưởng và
phát triển của cây. Hầu hết các loại môi trường nuôi cấy mô và tế bào thực vật đều
bao gồm:
- Các nguyên tố đa lượng và vi lượng:
+ Nguyên tố đa lượng: Sử dụng ở nồng độ > 30 ppm. Những nguyên tố N, S,
P, K, Mg, Ca là cần thiết và thay đổi theo từng đối tượng (Đỗ Năng Vịnh, 2005)
[15].
Nitơ: Dùng ở dạng muối NO
3
-
và NH
4
+
riêng rẽ hoặc phối hợp với nhau.
Photpho: Là nguyên tố mà mô tế bào thực vật nuôi cấy có nhu cầu cao và
thường được đua vào môi trường dạng đường photpho.
Lưu huỳnh: Được sử dụng ở dạng muối SO
4-
2-
nồng độ thấp còn dạng SO
3
2-

và SO
2
2-
kém tác dụng thậm chí còn gây độc cho môi trường nuôi cấy.
Na
+
và Cl

nhóm B (Đỗ Năng Vịnh, 2005) [15]. Tùy thuộc vào các loại mô nuôi cấy và giai
đoạn nuôi cấy mà hàm lượng vitamin bổ sung vào khác nhau.
- Các nhóm chất bổ sung:
Tùy từng nhóm cây thì cần bổ sung vào môi trường các chất khác để cung
cấp các axit amin tự do, protein, vitamin…
Nước dừa: Trong nước dừa có nhiều axit amin tự do, axit amin liên kết, axit
hữu cơ, đường,… Nước dừa là chất bổ sung đặc biệt cho nuôi cấy mía [10].
Dịch chiết mầm lúa mì (mạch nha): Chứa một số đường, vitamin, một số
chất có hoạt tính điều hòa sinh trưởng.

7
Dịch chiết nấm men: Thành phần chủ yếu chứa đường, axit nucleic, axit
amin, vitamin, auxin, muối khoáng…
Agar: Đây là thành phần polycaccharit của tảo có tác dụng làm đông môi
trường ở nhiệt độ <40
o
C. Thường bổ sung vào môi trường nuôi cấy từ 5g/l đến
6g/l.
- Các chất điều hòa sinh trưởng:
Theo tác giả Vũ Văn Vụ, các chất kích thích sinh trưởng có vai trò rất quan
trọng trong kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật. Bằng cách cung cấp các chất ở
một mức độ hợp lý chúng ta có thể điều chỉnh được chiều hướng phát sinh hình thái
của mẫu nuôi cấy [13]. Auxin và Cytokinin là hai chất kích thích sinh trưởng được
sử dụng phổ biến nhất hiện nay.
Auxin cần bổ sung vào giai đoạn tạo callus, kéo dài chồi và nhân nhanh in
vitro.
Cytokinin bổ sung vào môi trường nuôi cấy ở giai đoạn ra rễ và nhân
chồi.
Tỷ lệ thích hợp giữa Auxin và Cytokinin phù hợp sẽ định hướng cho cây tạo
rẽ hay tạo chồi:

Môi trường và các thiết bị sử dụng cấy phải được vô trùng tuyệt đối. Nếu điều kiện,
thiết bị không đảm bảo thì môi trường sẽ bị nhiễm, mô cấy sẽ bị chết.
2.1.3. Các hướng ứng dụng của nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.1.3.1 Tạo dòng sạch bệnh
Các cây sinh sản vô tính thường nhiễm virus. Nghiên cứu tạo cây sạch bệnh
được Morel và Martin(1992) thực hiện đầu tiên trên cây thược dược bằng cách nuôi
cấy đỉnh sinh trưởng [17]. Tạo dòng sạch bệnh có thể thực hiện bằng hai phương
pháp:
- Xử lý nhiệt: Theo tác giả Moskover, virus gây bệnh ở thực vật thường bị ức
chế sinh trưởng ở 39-40
0
C trong khi mô phân sinh vẫn phát triển nên các đỉnh sinh
trưởng sẽ không chứa virus. Nhiệt độ thấp cũng có tác dụng ức chế hoạt động của
một số virus [1].

9
- Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng: Virus giảm dần ở gần đỉnh sinh trưởng, riêng
đỉnh sinh trưởng hoàn toàn sạch virus, ta có thể tách đỉnh sinh trưởng và nuôi
cấy thành cây hoàn chỉnh sạch bệnh. Mẫu mô nuôi cấy càng nhỏ và càng gần
đỉnh sinh trưởng thì khả năng sạch bệnh càng lớn. Nhưng có một số ngoại lệ khả
năng loại trừ virus khó khăn, không phụ thuộc vào kích thước mẫu và một số loài
virus có khả năng sinh sản và chuyển dịch nhanh đến vùng sinh trưởng. Việc
phối hợp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng với xử lý nhiệt, hóa chất sẽ nâng cao hiệu
quả loại trừ bệnh virus và tạo giống sạch bệnh ở những cây trồng này [19].
2.1.3.2. Vi nhân giống bảo tồn gen
Theo tác giả Lê Trần Bình, do có tính khả thi rộng và tiềm năng công
nghiệp hóa cao, vi nhân giống hiện đã trở nên phổ biến và được ứng dụng rộng
rãi trong duy trì và nhân nhanh những kiểu gen quý hiếm, các dòng tốt, bảo quản
các tập đoàn giống nhân vô tính và đặc biệt là sản xuất giống thương mại ở quy
mô công nghiệp [1].

Tương tự như tạo chồi bất định, để tạo phôi vô tính cũng cần thực hiện quá
trình phản phân hóa và tái sinh tế bào để tách các tế bào soma, hình thành phôi
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phát triển mô sẹo. Sự hình thành phôi trải
qua hai bước chính:
Bước 1: Sự phân hóa tế bào có khả năng phát sinh phôi. Trong quá trình
cần môi trường giàu Auxin vì Auxin giúp cho việc cảm ứng để tạo thành phôi,
đồng thời Auxin giúp kích thích cho quá trình phát triển số lượng tế bào thông
qua việc liên tiếp phân chia tế bào. Các tế bào có khả năng phát sinh phôi là các
tế bào nhỏ, nhân lớn, nhiều hạch nhân, không có không bào, tế bào chất đậm
đặc, giàu protein, ARN thông tin.
Bước 2: Sự phát triển của phôi mới hình thành. Môi trường nuôi cấy của
giai đoạn này phải nghèo hoặc không có Auxin, nếu nồng độ của Auxin kích
thích sự tạo thành phôi nhưng lại ức chế cho quá trình phân hóa và phát triển
tiếp theo của phôi này. Như vậy nồng độ chất điều tiết sinh trưởng hợp lý rất
quan trọng để có các phản hồi thích hợp. 11
2.1.4.4. Các bước chính trong nhân giống in vitro
Theo George (1993), quá trình nhân giống vô tính in vitro bao gồm năm
bước sau:
Bước 1: Chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ: Trước khi tến hành nhân giống in
vitro cần chọn lọc cẩn thận các cây mẹ vì đây là cây cho nguồn mẫu nuôi cấy. Các
cây này cần phải sạch bệnh, đặc biệt phải sạch virus và đang trong giai đoạn sinh
trưởng mạnh. Việc trồng các cây mẹ trong điều kiện thích hợp với chế độ chăm
sóc và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả trước khi lấy mẫu sẽ làm giảm tỷ lệ mẫu
nhiễm, tăng khẳ năng sống và sinh trưởng của mẫu nuôi cấy in vitro.
Bước 2: Nuôi cấy khởi động: Là giai đoạn khử trùng đa mẫu cấy in vitro.
Giai đoạn này cần đảm bảo các yêu cầu như tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn
tại và sinh trưởng tốt. Quan trọng nhất là đỉnh chồi ngọn, đỉnh chồi nách được sử


Hình 2.1. Quy trình nhân nhanh tổng quát
Chọn và xử lý
mẫu
Chọn và
xử lý mẫu
Tạo callus từ lát
cắt lá non
Nuôi cấy chồi
đỉnh
Chọn cây ưu việt
từ giống

phẩm lai tự nhiên hoặc nhân tạo giữa các loài [7].
2.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh thái của cây mía
Cây mía là cây thuộc họ hào thảo, sống ở các vùng có khí hậu nhiệt đới và ôn
đới ẩm. Thân cây mía to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2-6m. Trên thân
cây mía thường thì phần ngọn nhạt hơn phần gốc do phần ngọn chứa thêm một
lượng nước lớn để cung cấp cho lá và ngọn. Lá mía cứng, dài, có lông, khi dài
chuyển sang mầu nâu. Cây mía thuộc cây rễ chùm ăn trên bề mặt đất khoảng 0-
60 cm.
Nhiệt độ thích hợp từ 15-26
0
C, thời kỳ mía nảy mầm thì cần nhiệt độ tốt
nhất là 26-33
0
C. Thời gian chiếu sáng phải đạt từ 1200-2000 lux/ ngày. Độ ẩm cần
100-170mm nước/ tháng, khi mía sắp tới thời kỳ thu hoạch cần khô khoảng 2 tháng
như vậy thì tỷ kệ đường trong cây sẽ cao. Mía là loại cây công nghiệp khỏe, không
kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, từ 70% sét đến 70% cát. Đất
thích hợp nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng canh tác sâu, có độ phì cao, giữ

14
ẩm tốt và dễ thoát nước. Tuy nhiên pH của đất phải giới hạn từ 4-9, pH thích
hợp nhất cho cây mía phát triển từ 5, 5-7, 5.
2.2.3. Phân loại giống mía ở Việt Nam
Trên thực tế hiện nay ở Việt Nam, cây mía được chia thành hai loại mía
chính: Mía ăn và mía ép công nghiệp.
- Mía ăn: Nhóm này chiếm diện tích rất ít, chỉ một phần nhỏ và tập trung chủ
yếu ở các tỉnh như: Hà Tây, Hưng Yên, Hòa Bình… Đây là nhóm mía nhiệt đới,
thân mềm, nhỏ, hàm lượng đường glucose và fructose cao hơn các nhóm khác nên
rất bổ và mát. Nhóm mía này hoàn toàn là nhóm mía nguyên thủy chưa trải qua
công nghệ chuyển gen hiện đại. Nhóm mía này có thể trồng quang năm không theo

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đường là nhu cầu không thể thiếu và có thị
trường tiêu thụ ổn định. Ngoài để bán trực tiếp, đường là nguyên liệu trong sản xuất
bánh kẹo, bia rượu, nước giải khát…[2]
Không chỉ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, mía là cây năng
lượng hàng đầu để sản xuất cồn công nghiệp trong tương lai, khi nguồn nguyên liệu
hóa thạch ngày càng cạn kiệt [7].
Cùng sản phẩm là đường, cây mía cho một số sản phẩm phụ là nguyên liệu
cho các ngành công nghiệp khác. Bã mía (chiếm 25-30% trọng lượng mía cây) được
dùng để sản xuất than hoạt tính, bột giấy, ván ép và đặc biệt là sợi tổng hợp trong
công nghiệp dệt hiện đại. Mật gỉ (chiếm 3-5% trọng lượng mía cây) là nguyên liệu
để sản xuất rượu, cồn công nghiệp, men các loại, axit hữu cơ, bột ngọt…Bùn lọc
(chiếm 1, 5-3%) có thể chế biến thành sơn, dược phẩm, thức ăn gia súc, phân
bón…[2].
Với hiệu quả kinh tế cao như vậy, mía là cây xóa đói giảm nghèo cho nhân
dân trung du, miền núi. Nhiều vùng trung cư khó khăn ở Thanh Hóa, Nghệ An, Phú
Yên, Quảng Ngãi đã nhờ trồng mía mà mức sống đã tăng lên đáng kể [7].
2.2.5. Tình hình sản xuất mía trên thế giới và Việt Nam
2.2.5.1. Trên thế giới
Người Ấn Độ biết dùng mía làm đường đầu tiên (3000 năm trước Công
Nguyên), đến thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên đã chế được đường kết tinh. Công

16
nghệ chế biến đường kết tinh lan dần sang Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc
[7]. Hiện nay mía được trồng ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Gần
120 nước trên thế giới sản xuất đường , trong đó 63% đường làm từ mía [7].
Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) dự báo sản lượng đường toàn
cầu sẽ tăng khoảng 5% trong niên vụ 2011-2012, có thể đạt 172, 8 triệu tấn. Nhu
cầu tiêu thụ đường của thế giới cũng được dự báo tăng, lên mức 167, 4 triệu tấn, do
giá đường rẻ và nguồn cung dồi dào. Triển vọng thị trường đường năm 2012 sẽ phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có mức tăng nhu cầu, và sản lượng ở nước sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status