Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà ISA browntại công ty thiên thuận tường – quảng ninh - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO ANH TIẾN

Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG GÀ ISA BROWN
TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƯỜNG – QUẢNG NINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:Chính quy
Chuyên ngành:Chăn nuôi thú y
Khoa:Chăn nuôi thú y
Khóa học:2013 - 2017

Thái Nguyên – năm 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO ANH TIẾN
Tên chuyên
đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG GÀ ISA BROWN
TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƯỜNG – QUẢNG NINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:Chính quy


Đào Anh Tiến


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Chương trình sử dụng vắc – xin ..................................................... 27
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện công tác phòng vắc-xin cho gà tại cơ sở ........... 28
Bảng 4.3. Tổng hợp kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng ......................... 30
Bảng 4.4.Tỷ lệ nuôi sống của gà ISA Brown qua các tuần tuổi ..................... 32
Bảng 4.5. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà ISA Brown.............................. 33
Bảng 4.6. Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (gam) .............................................. 36
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên gà ISA Brown ................. 38


iii
iiii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ISA Brown ................................................... 34
Hình 4.2: Đồ thị năng suất trứng của gà ISA Brown ...................................... 35


iv
DANH MUC TỪ, CỤM TỪ VIÊT TĂT

Từ, cụm từ viết tắt

Ý nghĩa

Cs

Tiêu


v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MUC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ......................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài .................................................................. 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU....................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3
2.1.1.
Điều
kiện
tự
nhiên
.........................................................................3

của

Công

ty

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ..................................................................................3
2.2.3. Tình hình sản xuất của Công ty ........................................................................3


MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấnđề
Ngành chăn nuôi gia cầm gần một thập kỷ qua đã được cả thế giới quan
tâmvà phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi gia cầm
chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật
chocon người.Gia cầm chiếm từ 20 -25% trong tổng sản phẩm thịt,ở các nước
phát triển, thịt gà chiếm từ 30% hoặc hơn nữa. Theo số lượng thống kê của FAO
(2014) thì năm 2012 toàn thế giới đã sản xuất ra 21.867,323 triệu con gà tương
đương với 92.811,674 nghìn tấn thịt gà, 1.698,767 triệu thủy sản, 66.372,549
nghìn tấn trứng.
Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đang phát triển cả về số lượng và chất
lượng.Với 4 phương thức chủ yếu là: Chăn nuôi nhỏ nông hộ; Chăn nuôi vịt thả
đồng; Chăn nuôi bán công nghiệp; Chăn nuôi công nghiệp. Năm 2012 đã sản
xuất ra 2.042 ngàn tấn thịt, 8.763,9 triệu quả trứng, trong đó có 5.549 triệu quả
trứng gà và 3.294,9 triệu quả trứng vịt.
Hầu hết các giống gia cầm cao sản của thế giới đều được nhập vào nuôi ở
Việt Nam thông qua các công ty nước ngoài,công ty liên doanh (Japa, Dabaco,
Pro Conco,…) và Trung tâm nghiên cứu gia cầm –Viện chăn nuôi. Trong đó có
gà ISA Brown, nguồn gốc ở Pháp, hiện nay đang được nuôi phổ biến ở nước
ta.Đây là giống gà có đặc điểm ít bệnh, dễ nuôi, năng suất trứng cao, thích nghi
tốt với điều kiện khí hậu ở Việt Nam.
Để khai thác tối đa khả năng sản xuất của vật nuôi, các phương thức chăn
nuôi khép kín là sự lựa chọn của các trang trại có vốn đầu tư lớn và hệ thống
mạng lưới chăn nuôi gia công do các công ty nước ngoài triển khai đang phát
triển hầu khắp cả nước.Trong đo q uy trình chăm sóc nuôi dưỡng có ảnh hưởng
trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm của gia cầm.


2


0

Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình 22,7 -24,1 C;
Lượng mưa trung bình 1.297=1910.5 mm; Độ ẩm trung bình 81,3%; Số giờ
nắng trong năm từ 1530-1776 giờ.
Gió chủ đạo là gió Đông Nam và Đông Bắc. Hàng năm có gió bão, mưa to,
gió mạnh.
2.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội
Công ty có rất nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế như công nghiệp khai
thác chế biến than,chăn nuôi quy mô tập trung, trồng trọt, chế biến thực phẩm.
2.2.3.Tình hình sản xuất của Công ty
Hiện nay có các ngành nghề sản xuất như:
Trang trại chăn nuôi heo nái sinh sản giống gốc GGP, GP và thương phẩm
được nhập khẩu và lai tạo từ Công ty Genetics Limited (JSR) – Anh Quốc. Liên


4

doanh cùng đối tác JSR thành lập hệ thống trại chăn nuôi heo nái và đực giống
gốc theo hình thức nhượng quyền thương mại (Franchise) đầu tiên tại Việt Nam.
- Trang trại chăn nuôi gà thịt và gà đẻ trứng với quy mô lớn có áp dụng
những công nghệ, thiết bị chăn nuôi và quản lý tiên tiến nhất.
- Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi phục vụ hệ thống trang trại của Công
ty và trang trại chăn nuôi vệ tinh – liên kết.
- Nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp, phân bón hữu cơ, phân bón sinh
học phục vụ chương trình cải tạo đất nghèo dinh dưỡng vùng Đông Bắc phục vụ
nhu cầu trồng trọt tại địa phương.
- Hệ thống trang trại trồng rau, củ an toàn theo tiêu chuẩn VietGHAP.
- Xây dựng nhà máy chế biến thực phẩm phục vụ thị trường khu vực và hệ
thống siêu thị thực phẩm trên cả nước.

 Lồng nhốt gà
Lồng gà được làm bằng kim loại, thiết kế phía trước và đáy lồng,có thể sản
xuất và bán hai phần này cho người nuôi còn các phần khác có thể tự làm và lắp
ghép theo kích thước gà. Đáy lồng được đặt hơi dốc. Khi trứng đẻ ra có thể lăn
tròn ra bên ngoài qua khe hở của tấm phên phía trước và được giữ lại bởi vỉ cong
bên ngoài của đáy lồng. Như vậy trứng không bị dẫm đạp hay bị mổ vỡ trứng.
Gà thải phân có thể trực tiếp xuống nền chuồng nếu là kiểu chuồng lồng
một tầng hay nhiều tầng kiểu bậc thang. Chuồng nuôi của Công ty Thiên Thuận
Tường thiết kế theo kiểu tầng, có băng chuyền tải phân và băng chuyền tải
trứng. Máng ăn, máng uống được gắn phía ngoài đằng trước cửa lồng để gà có
thể tự do ăn – uống theo nhu cầu và hoàn toàn tự động. Mật độ nuôi nhốt 0,12 –
2

0,15 m /gà.
 Chuồng gà
Chuồng phải có mái tốt, đủ ánh sáng, thông thoáng đảm bảo. Chuồng nuôi
phải đủ rộngtheo thiết kế đặt các hệ thống lồng, phòng chứa thức ăn và băng
chuyền tải thức ăn. Sự lắp đặt phù hợp các lồng đều có ánh sáng được chiếu đến
đồng đều mọi nơi.


6

 Chăm sóc, quản lý
Gà được chuyển vào lồng trước khi đẻ 14 ngày và ở đó đến tận khi loại thải
(11 – 12 tháng). Ưu thế của người nuôi gà lồng (đặc biệt là mỗi con một lồng)
cho phép loại thải chính xác cao những gà mái đẻ kém và như vậy sẽ nâng cao tỷ
lệ đẻ, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và chính là nâng cao hiệu quả kinh tế.
Thức ăn cho gà nuôi lồng phải đầy đủ - cân đối tất cả các thành phần dinh
dưỡng, vì gà không có khả năng tự kiếm được bất kì cái gì ngoài thức ăn, nước

ngày.
 Bất lợi
Đầu tư ban đầu quá lớn, làm cho phần lớn người chăn nuôi không dám nghĩ
đến phương thức này. Kèm theo phương thức nuôi lồng là cơ khí hóa, điện khí
hóa các dây chuyền thức ăn, chuyền phân, thu trứng…Nếu không đồng bộ hay
thiếu kiến thức, máy móc hỏng, mất điện sẽ làm đình đốn, ảnh hưởng rất lớn đến
chiếu sáng, thông thoáng và hoạt động của các bộ phận khác và kết quả là làm
hỏng cả đàn.Người phụ trách chăn nuôi hệ thống này phải được đào tạo, nếu so
với các phương thức khác thì cần lâu hơn để có kỹ năng hoàn thiện.
2.2.1.2.Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì và phát triển đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản
quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm. Sản
phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản
xuất chính của gà hướng trứng. Còn với gà hướng thịt (cũng như gà hướng
trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự nhân đàn di
truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Từ đó, nó quyết định tới năng suất,
sản lượng sản phẩm của chăn nuôi gia cầm. Con người chú trọng đến sinh sản
của gia cầm, vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn của loài
gia cầm điều mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để sử
dụng 2 sản phẩm quan trọng trứng và thịt. Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan
tâm trong công tác giống nói chung và công tác giống gia cầm nói riêng.Ở các
loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.


8

 Tuổi thành thục về tính dục
Ở gà, tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà đẻ bói đối với từng cá
thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5%, đối với đàn quần thể. Tuy nhiên xác định tuổi đẻ
của gà dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn là chính xác nhất. Tuổi thành

cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần ở cuối kỳ sinh sản. Năng suất trứng trên
năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ
trứng đạt cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ
(Khavecman (1972) [7].
* Những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính
Thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục.
Thí nghiệm của Morris T. R. (1967) [21] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm
cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì nó có tuổi thành thục
về tính là 150 ngày. Những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành
thục trên 170 ngày. Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì
thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có
thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích
thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính dục.
Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường
đặc biệt là thời gian chiếu sáng; thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ
sớm. Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời
điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống có khối lượng cơ thể nhỏ, tuổi
thành thục sinh dục thường sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn.
Trong cùng một giống, cơ thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện thời
tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục
sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục
sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn.
 Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Trong thời
gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường. Thời gian kéo dài sự đẻ có
liên quan tới chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc cường độ
và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn
nuôi gà đẻ. Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp. Sự



rất cao,


11

ở gà Ri tỷ lệ đòi ấp trên 30%, chính vì vậy mà sản lượng trứng thấp hơn, Gà Ri
nuôi đại trà trong nông thôn hộ chỉ đẻ 86,99 quả/mái (Hồ Xuân Tùng, 2009) [13],
trong khi đó ở gà Lương Phượng là 168,73 quả/mái (Trần Công Xuân và cs(2004)
[17].
- Ảnh hưởng của sự thay lông
Sự thay lông của gà là một quá trình sinh lý tự nhiên. Ở gia cầm hoang dã
thì thời gian thay lông vào mùa thu. Thời gian thay lông càng dài, sản lượng
trứng càng thấp. Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi gà rụng lông. Trong thời kỳ
thay lông buồng trứng bị thoái hóa và khối lượng của buồng trứng bị giảm đi
khoảng đi khoảng 5% so với khối lượng lúc trước.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng
trứng. Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua
o

mức độ tiêu thụ thức ăn. Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20 C nhu cầu
về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử
dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá
trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản
lượng trứng sẽ giảm.
- Ảnh hưởng của độ ẩm
Độ ẩm quá cao (>80%) làm cho chất độn chuồng bị ướt, ẩm độ cao tạo
thành một lớp hơi nước bao phủ không gian chuồng nuôi, tạo điều kiện cho mầm
bệnh phát triển, đặc biệt là cầu trùng; tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến
năng suất trứng và mức độ tiêu tốn thức ăn. Độ ẩm quá thấp (
ngoại cảnh. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất,
mùa vụ và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng được đánh giá qua sự phụ thuộc
vào cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ.
Sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu
kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc theo năm,
Fairfull et all, (1990) [20] cho biết: Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt
độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan


13

đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ
tiềm năng di truyền của chúng. Hệ số di truyền về sản lượng trứng của gà là:
0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [15].
* Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng
Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến năng
suấttrứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo. Đồ thị đẻ trứng của gia
cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng cá thể
trong đàn sớm. Gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm
sinh học. Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài.
Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng/năm. Khi gia cầm
đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng giảm 10-20%.
Ảnh hưởng của sự thay lông
Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên. Ở gia cầm hoang thì thời
gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa. Thông thường, chúng thay lông vào
mùa thu. Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp. Sự thay
lông là kết quả hoạt động tương tác phức hợp của các hormon Gonadotropin.
Các hormon khác như thyroxine và prolactin cũng hoạt động tương tác với
hormon gonadotropin. Sức đẻ trứng giảm ngay khi gà rụng lông. Thời gian rụng

hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò
quan trọng. Đối với gia cầm đẻ thì chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng rất lớn đến
tuổi thành thục về tính, ánh sáng ảnh hưởng đến bộ máy sinh dục của gia cầm
theo cơ chế sau: ánh sáng tác động lên mắt, thông qua dây thần kinh lên não bộ
từ đó tác động lên vùng dưới đồi giải phóng hooc môn LH đồng thời kích thích
sự giải phóng hormon gonandotropin. Một mặt các hormon này kích thích sự
phát triển của nang trứng, mặt khác còn điều tiết quá trình rụng trứng. Lợi dụng
ảnh hưởng của ánh sáng, người ta đã áp dụng các chương trình chiếu sáng thích
hợp để nhằm các mục đích sau:
+ Đạt được tuổi thành thục về tính theo yêu cầu (đây là một chỉ tiêu có ý
nghĩa kinh tế lớn).
+ Làm tăng cường độ đẻ trứng
+ Kéo dài thời gian đẻ trứng


15

Quá trình hình thành trứng trong ống dẫn trứng do các hormon điều khiển
trong chu kỳ 24 giờ sáng/tối. Khoảng cách giữa 2 lần rụng trứng thường dài hơn
một chút chính vì vậy nếu gà đẻ vào sáng sớm hôm trước thì hôm sau sẽ đẻ
muộn hơn một chút và cứ như vậy hôm sau lại muộn hơn hôm trước và cuối
cùng sẽ có một ngày gà sẽ không đẻ trứng sau đó lại tiếp tục như vậy. Nếu gà đẻ
hôm sau không muộn hơn hôm trước thì nó sẽ đẻ 365 trứng/năm theo lịch đúng
với tiềm năng di truyền tối đa của chúng. Bằng phương pháp chọn lọc, ngày nay
người ta đã tạo ra được những đàn gà thương phẩm có sản lượng trứng lên đến
300 trứng/năm hoặc có khi còn cao hơn nữa trong những điều kiện nuôi dưỡng
tốt và môi trường thích hợp. Từ những đánh giá trên, người ta thấy có hai khả
năng để làm tăng sản lượng trứng ở gia cầm là kéo dài chu kỳ đẻ trứng thông
thường hoặc sử dụng gà mái qua 2, 3 hoặc 4 chu kỳ đẻ trứng và phá vỡ điểm
giới hạn đẻ 1 trứng/ngày. Kéo dài chu kỳ đẻ trứng hoặc sử dụng gà đẻ nhiều chu

tiếp đến sản lượng trứng.
Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn:Gia cầm đẻ cần năng lượng để
duy trì các hoạt động của cơ thể và tạo trứng, ngoài ra còn cần để phát triển. Nếu
thừa năng lượng sẽ gây nên hiện tượng tích lũy mỡ và gia cầm quá béo dẫn đến
ảnh hưởng đến sản lượng trứng. Còn nếu thiếu năng lượng thì giảm tốc độ phát
triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng đến khối lượng trứng. Nhu cầu về
năng lượng tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá thể và tuỳ thuộc từng
giai đoạn đẻ.
Ảnh hưởng của protein trong thức ăn: Gia cầm đẻ cần protein (axit amin)
để duy trì hoạt động, sản xuất trứng và tăng trọng, đặc biệt là trong việc hình
thành trứng. Khác với nhu cầu về năng lượng, nhu cầu về protein không thay
đổi trong suốt giai đoạn đẻ. Thiếu protein (axit amin) thì gia cầm sẽ huy động
protein của cơ thể để đáp ứng quá trình sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến quá
trình hình thành trứng.
Bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ và hợp lý các nhu cầu về năng lượng và
protein thì việc thiếu các axit béo novà không no cũng có ảnh hưởng đến sản
lượng trứng của gia cầm. Thức ăn quá nhiều xơ, nhiều dầu đều không thích hợp.


17

Thừa hoặc thiếu khoáng đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng. Trong các yếu tố
khoáng thì nhu cầu về P và Ca rất cao để tạo vỏ trứng. Thiếu P và Ca thì gia cầm
sẽ ngừng đẻ và thay lông. Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5 : 1 (Nguyễn
Hiền,2008 [5]).
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau
cũng cho sản lượng trứng khác nhau. Cùng 1 giống, nếu gà nuôi chuồng lồng thì
sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201
trứng/năm, còn gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm.
 Khối lượng trứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status