ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI VĂN TÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
SINH VẬT HỌC MỘT SỐ LOÀI RAU RỪNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI VĂN TÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
SINH VẬT HỌC MỘT SỐ LOÀI RAU RỪNG VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG
Chuyên ngành: Lâm nghiệp
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Kim Vui
Thái Nguyên, 2010
Bùi Văn Tân
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
NN: Nông nghiệp
PTNT: Phát triển nông thôn
PTNNNT: Phát triển nông nghiệp nông thôn
VQG:Vườn quốc gia
OTC: Ô tiêu chuẩn
NXB: Nhà xuất bản
USD: Đô la Mỹ
Stt ÔDB: Số thứ tự ô dạng bản
TB Trung bình
VH: Văn hóa
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ẢNH
Danh mục
Trang
Bảng 4.1: Phân bố rau Sắng với các các loài rau tại khu vực nghiên
cứu
48
Ảnh: Rau Dớn
41
Ảnh: Rau Sắng tại khu bảo tồn Thần Sa, Võ Nhai, Thái Nguyên và
VQG Ba Bể, Bắc Kạn
42
Ảnh: Cây rau Bò Khai ở vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn và ở khu bảo
tồn Thần Sa, Võ Nhai, Thái Nguyên
43
Ảnh: Cây rau Dớn ở vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn và ở khu bảo tồn
Thần Sa, Võ Nhai, Thái Nguyên
44
Ảnh: Rau Sắng tái sinh tại vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn
47
MỤC LỤC
1
dưỡng không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của cơ thể [5].
3
Rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động
bình thường của các chức phận sinh lý và sự chuyển hoá của các chất trong cơ
thể. Lịch sử còn ghi lại 100 người trong số 160 thủy thủ của đoàn thám hiểm
Vasco de Gama đi tìm đường sang phương Đông đã bị chết về bệnh scorbut, do
chế độ ăn dài ngày trên biển thiếu Vitamin C. Lịch sử cũng ghi lại nhiều cuộc
chiến tranh đã phải nhanh chóng kết thúc vì hàng vạn quân số của 2 bên đều bị
bệnh thiếu vitamin, không còn sức chiến đấu [5].
Giá trị dinh dưỡng của rau cũng rất cao, nếu ăn mỗi ngày khoảng 300g rau
rừng sẽ cung cấp cho cơ thể khoảng 70 - 80 calo và trên 10g protein đồng thời
có thêm lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể [5].
Ngày nay tuy là thời bình, thực phẩm đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều người
thiếu kiến thức về ăn uống hợp lý dẫn đến xảy ra một số bệnh như khô mắt do
thiếu Vitamin A, tê phù do thiếu Vitamin B1... Thiếu Vitamin sẽ gây rất nhiều
bệnh tật, ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, thường xuyên gây cho người
ta cảm giác mệt mỏi, thiếu sức bền bỉ, năng suất lao động và công tác sút kém.
[5].
Về khẩu vị: ngoài các loại rau quen thuộc thì cây rau Sắng ở nước ta là loại
rau rất ngon được dân ta quen gọi là rau “mì chính”, nhiều loại rau còn có tác
dụng chữa bệnh như rau Bò Khai (Erythropalum scandens Blume) có tác dụng
lợi tiểu, chữa các bệnh viêm gan do virut…
Để duy trì được lâu dài nguồn rau rừng tự nhiên, trong khai thác thu hái sử
dụng cần phải được đảm bảo về điều kiện sinh tồn và phát triển của chúng,
nếu không chỉ sau một thời gian ngắn nữa nguồn rau rừng của chúng ta
không còn có khả năng phục hồi. Vì vậy khi khai thác thu hái rau rừng cần chú ý
thực hiện nguyên tắc “Ăn cây nào lấy cây đó, sử dụng bộ phận nào lấy bộ phận
cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Một dự án thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua
sự cộng tác” thực hiện tại Phu kheio Wildife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền
Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài
nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải
bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động thu nhập của
họ”.
2.1.2. Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau
Theo Farmsworth et al., 1985 thì vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất
hóa học chiết xuất từ thực vật bậc cao được sử dụng vào sản xuất thuốc
trên toàn thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính là có 80% người dân ở
các nước đang phát triển của thế giới hiện đang phụ thuộc vào các loại thuốc
truyền thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống
đó có sử dụng các chiết xuất từ thực vật.
Rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu tìm các hợp chất
mới từ thực vật như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Đức, Ấn Độ... Trong thực tế
các nghiên cứu như vậy chỉ được bắt đầu từ thế kỷ 19 và công nghệ cũng phát
7
triển rất mạnh mẽ từ đó. Tại trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã kiểm tra rất
nhiều loài thực vật để tìm kiếm chất ung thư, rất nhiều loài đã chứng tỏ có
hoạt
8
chất chống ung thư, một số hoạt chất đã được chiết xuất và nghiên cứu về
cấu trúc để thử nghiệm chữa trị cho con người.
10
đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn được, thời gian thu
hái và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây ăn
được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và
được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn
được thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp
theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae
(3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài).
Ở Thái Lan đã và đang phát triển các mô hình trồng cây rau Sắng
(Melientha suavis) dưới tán các vườn cây ăn quả hay trong các mô hình nông
lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp.
2.1.3. Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây, thị trường rau tươi ở châu Âu giảm về khối
lượng nhưng tăng về giá trị. Ở nhiều nước phía Đông châu Âu, mức tiêu dùng
sản phẩm rau tươi vẫn tiếp tục tăng và người tiêu dùng đang chuyển dần từ
tiêu dùng một số loại rau cơ bản sang những sản phẩm đa dạng hơn bao gồm
cả các loại nhập khẩu. Bên cạnh đó, sự tồn tại sẵn có của nhiều đồ ăn khác như
thức ăn nhẹ, đồ ăn nhanh đã trở thành sản phẩm cạnh tranh gay gắt đối với sản
phẩm rau tươi. Các nước như Đức, Tây Ban Nha, Ý, Pháp là những thị trường
lớn nhưng đã gần như bão hòa. Chỉ có một số thị trường ngách và một số
nhóm sản phẩm nhất định còn có cơ hội tăng trưởng. Đây cũng là cơ hội cho
các nước đang phát triển đẩy mạnh việc xuất khẩu rau xanh và thị trường châu
Âu [40]
Tại các cửa hàng bán đồ châu Á và các khu chợ buôn bán ở một số thành phố
lớn như Moscow, Berlin, Praha, Warsaw, London, Paris… những mớ rau
muống, mùng tơi, cải xanh, rau bí, mướp, bầu, cùng rau thơm đủ loại: rau mùi,
khoai tây đỏ và khoai tây trắng giảm xuống lần lượt là 24 Rupi, 20 Rupi và 14
Rupi/kg từ các mức giá 26 Rupi, 22 Rupi và 16 Rupi/kg ghi nhận được trước
đây hai tuần. Tương tự như vậy đối với một số loại rau khác như hành, súp lơ
thường và súp lơ Tarai cũng được bán với giá lần lượt là 33 Rupi, 18 Rupi và 10
Rupi/kg, giảm từ 36 Rupi, 22 Rupi và 18 Rupi/kg tương ứng. Giá của tỏi
Trung Quốc cũng giảm xuống còn 120 Rupi/kg từ 124 Rupi/kg trong khoảng
thời gian này. Tuy nhiên, giá của dưa chuột lại tăng từ 20 Rupi/kg lên 24 Rupi/kg
[41]
2.2. Ở trong nước
13
2.2.1. Cơ sở của việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài rau rừng
Trước đây khi nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là cây rau còn phong phú,
người ta ít chú ý đến việc bảo tồn nguồn gen của chúng. Đến cuối thế kỷ XX khi
14
nhận ra rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đã trở lên khan hiếm, một số loài đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng nên chúng ta mới bắt đầu chú ý bảo tồn nguồn gen.
Ở Việt Nam hiện nay quan điểm bảo tồn nguồn gen thường kết hợp với bảo tồn
đa dạng sinh học vì bếu bảo vệ được hệ sinh thái, bảo vệ được các loài động
thực vật thì cũng bảo vệ được nguồn gen của chúng. Hiện nay có 2 hình thức
để bảo tồn nguồn gen lâm sản ngoài gỗ là: Bảo tồn nội vi (In situ) và bảo tồn
ngoại vi (Ex situ) [2].
- Bảo tồn nội vi (Bảo tồn In situ): Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và
những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn
tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng. Trong trường hợp các loài được
nhau. Trong đó có 52 loài tảo biển, 22 loài nấm, bốn loài rêu và 3.870 loài
thực vật bậc cao. Mỗi loài lại có bộ gien đa dạng riêng của mình. Ðiều này làm
cho kho tàng nguồn gien cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh
thái đến cấp loài và phân tử.
Phần lớn số loài cây thuốc ở nước ta được ghi nhận dựa trên tri thức
và kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên
toàn quốc. Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở nước ta tồn tại ở nền y học
chính là y học cổ truyền chính thống, với các hệ thống lý luận và thực hành
được tư liệu hóa trong sách vở như các học thuyết Âm - Dương, Ngũ hành,
v.v. Các nền y học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc, thường được gọi là
thuốc Nam. Ðiều này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của
các dân tộc ở nước ta rất phong phú.
Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm
sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các
dân tộc, nước ta đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như
Công ước Ða dạng sinh học (1992), Kế hoạch và Hành động đa dạng sinh học
(1994) và ban hành nhiều luật và chính sách gắn liền việc chăm sóc sức khỏe
nhân dân, phát triển ngành dược và bảo tồn cây thuốc. Một trong số đó là việc
16
triển khai nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc của Bộ Khoa học
và Công
17
nghệ và Môi trường từ năm 1988, trước khi có hướng dẫn bảo tồn cây thuốc
của Tổ chức Y tế thế giới và chuyển thành Ðề án bảo tồn nguồn gien và giống