Hoạt động quản lý thi hành án dân sự ở việt nam hiện nay (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG QUÝ

HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG QUÝ

HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hành chính
Mã số : 60380102

Người hướng dẫn khoa học : TS. TRẦN THỊ HIỀN

HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý thi hành án dân sự

7

1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự

7

1.1.2. Khái niệm hoạt động quản lý thi hành án dân sự

8

1.1.3. Chủ thể và nội dung hoạt động quản lý thi hành án dân sự

16

1.1.4. Vai trò của hoạt động quản lý thi hành án dân sự

26

1.2. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý thi hành án dân sự

29

1.2.1. Nguyên tắc pháp chế trong quản lý thi hành án dân sự

29

1.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, kịp thời, đầy đủ trong
quản lý thi hành án dân sự

cá nhân liên quan

37

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

39

2.1. Khái quát pháp luật về quản lý thi hành án dân sự

39

2.1.1. Pháp luật giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950

39

2.1.2. Pháp luật giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1980

40

2.1.3. Pháp luật giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1993

42

2.1.4. Pháp luật giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2008

43



3.2.1. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
của đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án dân sự

71

3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về thi hành án dân sự

72

3.2.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và phối hợp giữa
các cơ quan, tổ chức liên quan trong hoạt động quản lý thi hành án
dân sự

73

3.2.4. Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động quản lý thi hành án dân sự

74

KẾT LUẬN

77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

80



việc phải thi hành; trình độ, năng lực của một bộ phận Chấp hành viên,
công chức THADS còn chưa đáp ứng yêu cầu; pháp luật về THADS cũng
còn những quy định thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; công tác phối hợp trong
THADS cũng còn những khó khăn, vướng mắc; công tác kiểm tra, thanh tra
trong THADS tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng việc triển khai còn
chậm, chưa thực sự phát huy được vai trò là công cụ đắc lực phục vụ công tác
quản lý, chỉ đạo, điều hành trong hoạt động quản lý THADS...Vì vậy, nghiên
cứu hoạt động quản lý THADS sẽ phân tích, làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực
tiễn của hoạt động quản lý THADS, chỉ ra những nguyên nhân của những
tồn tại, hạn chế để trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp đảm bảo hiệu quả
quản lý THADS ở Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay. Từ đó,
tác giả chọn đề tài luận văn “Hoạt động quản lý thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay” với mong muốn góp phần đưa ra những kiến nghị để nâng
cao hiệu quả quản lý THADS trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến THADS nói chung, quản lý THADS nói riêng đã có
nhiều công trình nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Cụ thể là một số công
trình nghiên cứu sau đây:
- “Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Quang Thái, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, 2003;
- “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án
ở Việt Nam trong giai đoạn mới”, Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tư
pháp chủ trì (2005);


- “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các tiêu chuẩn chức
danh tư pháp”, Đề tài khoa học cấp bộ năm 2005 do Tiến sĩ Dương Thanh
Mai làm chủ nhiệm;
- “Các biện pháp cưỡng chế THADS” của tác giả Nguyễn Công Long,

như: xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm, vai trò của hoạt động quản lý
THADS; các yếu tố bảo đảm hoạt động quản lý THADS; yêu cầu đảm bảo
động quản lý THADS.
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý THADS ở Việt Nam.
- Xác định yêu cầu và kiến nghị một số giải pháp đảm bảo hoạt động
quản lý THADS ở Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động quản lý THADS có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc
độ khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu
thực trạng quản lý THADS ở Việt Nam trên cơ sở pháp luật hiện hành là Luật
THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin theo quan điểm phát


triển, toàn diện, lịch sử, cụ thể; kết hợp các phương pháp như: logic, phân tích,
so sánh, tổng hợp, thống kê, tổng kết thực tiễn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận về
THADS nhằm thống nhất nhận thức về bản chất, nội dung quản lý THADS.
Trên cơ sở đó có cách nhìn nhận, đánh giá khoa học, thấy rõ những mặt được,
những vướng mắc bất cập của hoạt động quản lý THADS ở nước ta để từ đó
có giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý THADS. Luận văn có thể là
tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS, các cơ
quan liên, tổ chức quan trong việc nghiên cứu, chỉ đạo, quản lý, phối hợp
trong hoạt động THADS.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

Đối với hoạt động THADS, các nghĩa vụ phải thi hành liên quan đến
tiền và tài sản - phần “dân sự” trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật. Đó là:
- Bản án, quyết định dân sự;


- Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định
hình sự;
- Phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án;
- Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của
bên phải thi hành, và
- Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại.
Để đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về "dân sự” nhằm đảm bảo
khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, pháp
luật quy định cơ quan THADS là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành và
Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức thi hành án. Trong quá trình
thi hành án, Chấp hành viên và cơ quan THADS phải thực hiện đúng các trình
tự, thủ tục pháp luật quy định và đảm bảo quyền tự định đoạt và thỏa thuận
của các đương sự.
Với cách tiếp cận như trên, có thể khái niệm: THADS là hoạt động của
cơ quan THADS và Chấp hành viên theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định
nhằm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi
hành.
1.1.2. Khái niệm hoạt động quản lý thi hành án dân sự
Sự tồn tại và phát triển của xã hội bao gồm nhiều quá trình đòi hỏi có
sự quản lý để đảm bảo thực hiện những mục tiêu chung. Quản lý là hoạt
động mang tính tất yếu của con người khi có hoạt động chung, là sự tác
động có mục đích của chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý nhằm

2 Học viện Hành chính, tldd chú thích 1, tr 12


quan trọng của pháp luật trong quản lý nhà nước đã được quy định tại Điều
8, Hiến pháp 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp
và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ”33.
Đối với THADS, hoạt động quản lý THADS là một trong những hoạt
động quản lý nhà nước nhằm đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh các bản án,
quyết định về dân sự theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Hoạt
động quản lý THADS có thể được nhận diện là quá trình mà ở đó Nhà
nước với tư cách là chủ thể quản lý thực hiện các nhiệm vụ như: xây dựng,
ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật về THADS; theo dõi, kiểm
tra, kiểm sát và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về THADS. Với
yêu cầu như vậy, nhiệm vụ của Nhà nước là định hướng cho hoạt động
THADS được thực hiện theo trình tự nhất định. Hoạt động THADS với tư
cách là đối tượng quản lý phải được tổ chức và vận động trên cơ sở các quy
định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Pháp luật là cơ sở, là công cụ để Nhà nước quản lý THADS phải
được xây dựng trên cơ sở khoa học, thống nhất, phù hợp với thực tiễn sẽ là
những chuẩn mực để đối tượng quản lý thực hiện và chủ thể quản lý thực hiện
sự kiểm tra, giám sát. Hay nói cách khác, hoạt động quản lý THADS là tạo
môi trường pháp lý minh bạch, ổn định để hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động
THADS được thực hiện theo trật tự pháp luật quy định nhằm nhằm giải
quyết hài hòa các mối quan hệ phát sinh trong quá trình THADS bao gồm:
Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện cho các quan hệ trong THADS được hình
thành theo đúng mục tiêu, định hướng chung của nhà nước; nhà nước xây
dựng môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch, thông thoáng, ổn định; nhà
3 Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.


Ủy ban nhân dân các cấp (có trách nhiệm thực hiện quản lý, phối hợp trong
THADS theo nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định); Tổng cục
THADS và Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Từ những phân tích như trên có thể khái niệm: Hoạt động quản lý
THADS là hoạt động hành chính – tư pháp theo đó các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền sử dụng pháp luật để điều chỉnh và định hướng cho hoạt
động THADS vận động, phát triển theo các mục tiêu đề ra.
Với khái niệm nêu trên và từ thực tiễn công tác THADS ở nước ta, có
thể nhận diện một số đặc điểm của hoạt động quản lý THADS như sau:
- Hoạt động quản lý THADS vừa mang tính chất hành chính, vừa
mang tính chất tố tụng.
Tính chất hành chính trong quản lý THADS được thể hiện qua các quy
định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về
THADS và cơ quan THADS; mối quan hệ phối hợp của các cơ quan, tổ chức
có liên quan với cơ quan THADS trong quá trình THADS; nhiệm vụ, quyền
hạn của Chấp hành viên – người được trao thẩm quyền tổ chức thi hành án (ví
dụ như: việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác THADS; quản lý và bổ nhiệm Chấp
hành viên….). Tính chất tố tụng trong quản lý THADS thể hiện trong việc
đảm bảo cho quá trình thi hành án được thực hiện theo các trình tự, thủ tục
pháp luật như: quy định về yêu cầu thi hành án; hoãn thi hành án; cưỡng chế
thi hành án; kiểm sát, kháng nghị về thi hành án…
Xuất phát từ đặc điểm này, hoạt động quản lý THADS nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân không chỉ là hoạt
động chuyên môn thuần tuý của các cơ quan quản lý THADS, cơ quan
THADS, Chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà
nước các cấp và toàn xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát


huy trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quản lý THADS, cơ
quan THADS, Chấp hành viên và sự chỉ đạo, phối hợp kịp thời của UBND

án; khai thác tài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển
giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không
được thực hiện công việc nhất định).
Như vậy, trên cơ sở các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS và
Chấp hành viên được pháp luật quy định, vấn đề quan trọng trong quản lý
THADS là đảm bảo cho các nhiệm vụ, quyền hạn đó được thực hiện đúng trình
tự, đảm bảo sự công khai, minh bạch để đạt được hiệu quả của công tác
THADS.
- Hoạt động quản lý THADS đảm bảo tôn trọng quyền tự định đoạt của
các đương sự
Hoạt động THADS nhằm thi hành các bản án, quyết định về dân sự có
hiệu lực thi hành liên quan trực tiếp đến các quyền dân sự (quyền tài sản, quyền
nhân thân phi tài sản) của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Do đó, để đảm bảo các quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, nguyên tắc xuyên
suốt trong quá trình THADS là tôn trọng quyền sự định đoạt và thỏa thuận của
các đương sự. Điều này đòi hỏi hoạt động quản lý THADS với nghĩa là hoạt
động quản lý quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án phải bám sát
các quyền của các chủ thể cần được bảo đảm trong từng thủ tục, giai đoạn thi
hành án; đồng thời cơ quan THADS và Chấp hành viên cần thực sự định hướng
cho đương sự thực hiện đúng các quyền tự định đoạt của mình theo quy định
pháp luật. Ví dụ: quyền chủ động yêu cầu thi hành án của đương sự; quyền thỏa
thuận của đương sự về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện các nghĩa vụ
thi hành án miễn là các thỏa thuận đó phù hợp với pháp luật và không trái đạo
đức xã hội; quyền thỏa thuận về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án…


- Hoạt động quản lý THADS liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế,
chính trị và xã hội.
Hoạt động quản lý THADS nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh; góp phần đảm bảo trật tự, an

THADS, cơ quan THADS và Chấp hành viên phải tuân thủ quy phạm pháp
luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Bộ luật Dân sự; Luật THADS; Luật Đất
đai; Luật Doanh nghiệp; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Đầu tư; Luật Nhà ở;
Luật Chứng khoán; Luật Phá sản, Luật Hàng hải; Luật Hàng không dân dụng
Việt Nam; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Lao động.... Với việc
phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
như vậy và pháp luật trong nhiều lĩnh vực cũng chưa thực sự đồng bộ, thống
nhất nên hoạt động quản lý THADS gặp nhiều khó khăn, phức tạp, mất nhiều
thời gian, chi phí tuân thủ pháp luật. Từ đó, yêu cầu đặt ra là cơ quan quản lý
THADS cũng như cơ quan THADS và Chấp hành viên phải thận trọng trong
việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng cũng như đề cao tính trách
nhiệm, độc lập trong quá trình thi hành án, đồng thời không ngừng hoàn thiện
các quy định pháp luật làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả quản lý THADS
cũng như hiệu quả THADS.
1.1.3. Chủ thể và nội dung hoạt động quản lý thi hành án dân sự
1.1.3.1. Chủ thể quản lý hoạt động thi hành án dân sự
Theo quy định pháp luật hiện hành, Bộ Tư pháp được giao chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về THADS;
các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Bộ
Tư pháp trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện pháp luật
về THADS trong công tác THADS. Mặc dù Bộ Tư pháp được giao chịu
trách nhiệm thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về công tác THADS


nhưng việc quản lý, tổ chức hoạt động THADS được giao cho các cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền liên quan trực tiếp đến hoạt động THADS. Cụ thể là:
Ở Trung ương: Tổng cục THADS là cơ quan quản lý THADS trực thuộc
Bộ Tư pháp; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và thi hành án hành chính
trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự

THADS là việc thực hiện các trình tự, thủ tục pháp luật quy định để
thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành và là đối tượng quản lý
trực tiếp của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, vì vậy nội dung
pháp luật quy định về hoạt động quản lý THADS được thể hiện ở những
nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng, ban hành pháp luật về THADS
Pháp luật là cơ sở và là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước, vì
vậy để đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý THADS đòi hỏi pháp luật phải
được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn của công tác THADS. Việc xây
dựng và ban hành pháp luật về THADS chính là việc xây dựng chiến lược,
quy hoạch, chính sách, pháp luật về THADS để trên cơ sở đó các chủ thể
quản lý có định hướng, có cơ sở pháp lý để thực hiện các mục tiêu quản lý
đề ra.
Pháp luật là cơ sở và là công cụ thực hiện quản lý nhà nước đối với
hoạt động THADS, đồng thời cũng là các chuẩn mực pháp lý cho các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý và tổ chức, hoạt động của
các cơ quan này. Trên cơ sở pháp luật, Nhà nước quy định và bảo vệ các
quyền về THADS của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bình đẳng, đồng thời các
chủ thể quản lý có định hướng, có phương pháp thích hợp để thực hiện các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status