Pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nước ở việt nam hiện nay (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Luật Hà
Nội, các thầy cô Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ, nhân
viên Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội- những người đã tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu và viết luận văn tại
Trường.
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn
đến Cô giáo- Tiến sỹ Lưu Ngọc Tố Tâm- người đã tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện công trình nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè- những người đã
luôn ở bên động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2016
Tác giả

Salongxay Mounphoxay


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC
7
1.1. Khái niệm vùng đất ngập nước
7
1.1.1. Khái niệm
7
1.1.2. Chức năng của vùng đất ngập nước ở Việt Nam
10
1.1.3. Vai trò của vùng đất ngập nước

nước
41
2.2.2. Đánh giá các quy định pháp luật về bảo tồn vùng đất ngập
nước
48


2.3. Các quy định pháp luật về phát triển bền vững vùng đất ngập
nước
50
2.3.1. Thực trạng quy định pháp luật về phát triển bền vững vùng
đất ngập nước
50
2.3.2. Đánh giá các quy định pháp luật về phát triển bền vững
vùng đất ngập nước
53
2.4. Các quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý vùng đất
ngập nước
56
2.4.1. Thực trạng quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý
vùng đất ngập nước
56
2.4.2. Đánh giá các quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản
lý vùng đất ngập nước
58
2.5. Các quy định về trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ vùng đất
ngập nước
62
2.5.1. Trách nhiệm hành chính
63

các vùng đất ngập nước
77
3.2.4 Hoàn thiện các quy định về hệ thống cơ quan quản lý vùng đất
ngập nước
79
3.2.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý
trong bảo vệ vùng đất ngập nước
83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3....................................................................84
KẾT LUẬN
85


5

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của loài người gắn liền với các vùng đất ngập nước. Từ
thời nguyên thuỷ, con người đã thường sống tập trung tại nơi đất đai mầu mỡ
thuộc các lưu vực sông hay các vùng ven biển. Ngày nay, các vùng đất ngập
nước đang là nơi cung cấp lúa gạo và thuỷ sản cho hơn một nửa dân số thế
giới. Đất ngập nước còn là nơi có đa dạng sinh học cao và có nhiều chức năng
quan trọng khác đối với sự sống của loài người. Nó duy trì mực nước ngầm,
tích trữ nước nên có tác dụng kiểm soát lụt lội, cải thiện điều kiện vi khí hậu,
và có giá trị du lịch, kinh tế- xã hội,... Đất ngập nước là mắt xích không thể
thiếu của sự sống trên trái đất, song nhiều vùng đất ngập nước đã và đang bị
huỷ hoại trên toàn thế giới.
Các vùng đất ngập nước được xem là có sự đa dạng sinh học cao nhất
trong tất cả các hệ sinh thái. Việt Nam là một trong những quốc gia rất giàu
tiềm năng đất ngập nước cả về diện tích, chức năng và giá trị so với các nước

Với diện tích đất ngập nước lớn, cùng với các giá trị và vai trò quan
trọng của đất ngập nước đối với môi trường và con người Việt Nam, việc bảo
vệ đất ngập nước trong đó có bảo vệ bằng pháp luật có ý nghĩa thiết thực. Với
lý do đó, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nước ở Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vùng đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với môi trường và con người.
Cũng như nhiều quốc gia khác, vùng đất ngập nước thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau ở Việt Nam.
Dưới góc độ khoa học tự nhiên, có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất
ngập nước. Có thể kể đến như: Nguyễn Đình Hòa, Vũ Văn Hiến (2001), Du lịch
bền vững, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Văn Thắng (2005), Đa
dạng sinh học, các chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệ sinh
thái đất ngập nước khu vực Bàu Sấu (Vườn Quốc gia Cát Tiên), Luận án Tiến
sĩ, Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội; Lê Diên Dực- Hoàng Văn
Thắng (2012), Đất ngập nước “các nguyên lý và sử dụng bền vững”, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội;… Các công trình này nghiên cứu một vùng đất ngập


7

nước cụ thể, hoặc nghiên cứu về vai trò của vùng đất ngập nước đối với du
lịch và hoạt động sản xuất kinh tế của con người.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công
trình nào nghiên cứu pháp luật về bảo vệ các vùng đất ngập nước ở Việt Nam, đặc
biệt là nghiên cứu trên cơ sở quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các văn
bản có liên quan. Mà chỉ có các công trình nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi
trường nói chung, bảo vệ các nguồn tài nguyên như nước, rừng, không khí, khoáng
sản,… nói riêng. Có thể kể đến như: Nguyễn Hải Âu (2001), Pháp luật bảo vệ môi
trường rừng ở Việt Nam- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc

vệ vùng đất ngập nước dưới góc độ pháp luật kinh tế, với cách tiếp cận của pháp luật
môi trường. Theo đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm: khái niệm, chức
năng, vai trò của vùng đất ngập nước; Các quy định pháp luật về bảo tồn đất ngập
nước, về điều tra, lập quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập
nước, các quy định pháp luật về phát triển bền vững đất ngập nước, về hệ thống các
cơ quan quản lý đất ngập nước và các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý
trong bảo vệ vùng đất ngập nước và một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt
Nam hiện hành về bảo vệ vùng đất ngập nước.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu mà tác giả hướng tới khi thực hiện luận văn là làm rõ những vấn đề
lí luận chung nhất về bảo vệ vùng đất ngập nước, phân tích những nội dung cơ bản
của pháp luật hiện hành về bảo vệ vùng đất ngập nước trong đó có chỉ ra ưu điểm và
bất cập của các quy định này. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ vùng đất
ngập nước ở Việt Nam hiện nay.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để có thể xây dựng luận văn một cách logic và khoa học thì một hệ thống
câu hỏi đã được xây dựng và trả lời, cụ thể:
- Chương 1: luận văn đã trả lời những câu hỏi như vùng đất ngập nước là gì?
Vùng đất ngập nước có chức năng và vai trò như thế nào đối với môi trường và con
người? Hiện nay vùng đất ngập nước ở Việt Nam được sử dụng và bảo tồn ra sao?
Ngoài những vấn đề chung về vùng đất ngập nước, trong Chương 1, luận văn còn
nghiên cứu những vấn đề chung về pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nước. Với
phần này, tác giả đưa ra những câu hỏi sau: tại sao phải bảo vệ vùng đất ngập nước
bằng pháp luật, hiện nay vùng đất ngập nước được quy định trong những văn bản
pháp luật nào của Việt Nam, và nội dung cơ bản của các quy định về bảo vệ vùng đất
ngập nước trong các văn bản này là gì?


9

luận mới về vùng đất ngập nước trong đó có khái niệm vùng đất ngập nước, chức
năng, vai trò của vùng đất ngập nước; thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về bảo


10

vệ các vùng đất ngập nước, có chỉ ra những điểm tiến bộ, bất cập và một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về vấn đề này.
Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu sau về vùng đất ngập nước
dưới góc độ pháp lý và cũng là tài liệu tham khảo có thể được sử dụng trong học tập
và giảng dạy luật ở Việt Nam.
Luận văn cũng giúp nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam về chức
năng, vai trò của vùng đất ngập nước đối với môi trường và con người. Từ đó, nâng
cao ý thức, và trách nhiệm của họ trong bảo vệ các vùng đất ngập nước.
Đồng thời, những kiến nghị được trình bày tại Chương 3 của luận văn cũng
có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà lập pháp trong việc hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nước ở việt Nam.
Luận văn này là cơ sở quan trọng đánh giá quá trình học tập của học
viên trong chương trình đào tạo Thạc sĩ của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu các vấn đề lí luận về vùng đất ngập nước, thực
trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động bảo vệ đất ngập nước ở Việt Nam, cũng như
những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này là bài học kinh nghiệm
quý giá cho việc bảo vệ vùng đất ngập nước tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương.
Chương 1: Khái quát chung về đất ngập nước và pháp luật về bảo vệ
vùng đất ngập nước
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập

nước;
- Tầng nền đất không khô hoàn toàn;
- Địa tầng đất không bão hòa hoặc không ngập rõ ràng vào thời điểm
nào đó trong mùa sinh trưởng.
Theo Công ước Ramsar (Công ước về các vùng Đất ngập nước có tầm
quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nướcConvention on wetland of intrenational importance, especially as waterfowl


12

habitat) thì đất ngập nước là: "Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự
nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước
chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ
sâu không quá 6m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước" (Điều
1.1. Công ước Ramsar, 1971). Định nghĩa này đã liệt kê các loại đất ngập
nước dựa theo các yêu tố địa mạo, thủy văn, thổ nhưỡng, động vật, thực vật,
hiện trạng sử dụng. Đây là những tiêu chí quan trọng để xác định các vùng đất
ngập nước. Trong các yếu tố đó, chế độ thuỷ văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết
định và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản lý
các vùng đất ngập nước, đặc biệt là các vùng đất ngập nước nước ngọt nội
địa. Trong thực tế, có những vùng đất ngập nước quan trọng chỉ ẩm ướt theo
mùa không ẩm ướt quanh năm.
Là thành viên của Công ước Ramsar nên cách tiếp cận khái niệm đất
ngập nước của pháp luật Việt Nam, về cơ bản là giống với Công ước. Ở Việt
Nam, định nghĩa về đất ngập nước được nêu tại Thông tư 18/2004/TTBTNMT về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23
tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng
đất ngập nước, theo đó:“Đất ngập nước là vùng ngập nước thường xuyên
hoặc tạm thời, nước chảy hoặc nước tù, nước ngọt, nước phèn, nước mặn
hoặc nước lợ. Đất ngập nước được phân thành đất ngập nước ven biển, đất
ngập nước nội địa.”

của Việt Nam.
- Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc
tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm
phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu
trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt.
- Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng
biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xă
rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp
xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc
biệt loài thú biển Dugon.
- Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống
các đảo rất phong phú. Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh
giá có mức độ đa dạng sinh học rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn
san hô, cỏ biển...


14

Ở Việt Nam, khi nói tới các vùng đất ngập nước không thể không
nhắc tới hai vùng đất ngập nước quan trọng là: Đất ngập nước vùng đồng
bằng châu thổ sông Hồng và Đất ngập nước châu thổ sông Cửu Long. Đất
ngập nước ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.
Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động
vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim
nước. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha.
Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn
sông Mê Công. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là
những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở
đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái
rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông.

góp phần thấm lọc, làm cho các tầng nước ngầm trở nên sạch hơn. Ví dụ như,
những vùng đất ngập nước dưới rừng Tràm (U Minh Thượng), đóng vai trò
giữ nước, điều hoà độ ẩm, giữ cho lớp than bùn ẩm ướt. Thêm vào đó, có tác
dụng hạn chế quá trình phèn hoá, cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt quanh
năm cho người dân và động- thực vật.
- Chức năng lắng đọng trầm tích, độc tố: các vùng đất ngập nước (đặc
biệt là hồ, rừng ngập mặn, bãi triều, vũng vịnh ven bờ...) có tác dụng như là
các bể lắng giữ lại trầm tích, các chất ô nhiễm, độc hại và chất thải nói chung,
góp phần làm sạch nước và hạn chế ô nhiễm môi trường nước biển.
- Chức năng tích lũy chất dinh dưỡng: các vùng đất ngập nước giúp
giữ lại các chất dinh dưỡng (nitơ, photpho, các nguyên tố vi lượng...) cho vi
sinh vật, phát triển nguồn lợi thủy sản và lâm nghiệp, hạn chế bớt hiện tượng
phú dưỡng như ở các vùng đất ngập nước đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng
Sông Cửu Long và các thủy vực khác.
- Chức năng điều hòa vi khí hậu: các vùng đất ngập nước, đặc biệt, ở
vùng có cỏ biển, rừng ngập mặn, rạn san hô đã góp phần đáng kể vào việc cân
bằng khí O2 và khí CO2 trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phương (nhiệt
độ, độ ẩm, lượng mưa) và giảm hiệu ứng nhà kính. Theo tính toán của Jim
Enright và Yadfon Association (2000), rừng ngập mặn có khả năng tích luỹ
CO2 ở mức độ cao, rừng ngập mặn 15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ha/năm,
tác dụng lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính2.
- Chức năng hạn chế lũ lụt: đất ngập nước (rừng ngập mặn, hồ tự
2 />

16

nhiên, hồ nhân tạo...) có thể đóng vai trò như bồn chứa lưu giữ, điều hoà
lượng nước mưa và dòng chảy mặt, góp phần giảm lưu lượng dòng chảy lũ và
hạn chế lũ lụt ở các vùng lân cận. Ở Việt Nam, những vùng đất ngập nước có
chức năng chính là hạn chế lũ lụt có thể kể đến như hồ Hòa Bình, hồ Thác Bà,


Đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng có
khoảng hơn 30 sân chim, trong đó phải kể đến các sân chim lớn nhất như: Cà
Mau, Bạc Liêu (40 ha), Đầm Dơi (120 ha), Cái Nước (13 ha), Tràm Chim hơn
5.000 ha; sân chim Chi Lăng Nam - Hải Dương (8,3 ha), sân chim Ngọc Nhị Ba Vì - Hà Nội (4 ha)... Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có ý nghĩa
to lớn về khoa học, văn hóa giáo dục và phục vụ du lịch sinh thái, mang lại lọi
ích về kinh tế và xã hội. Trong các loài chim làm tổ ở rừng tràm thì loài già
đẫy Java có số lượng rất ít, là loài quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà
còn đối với khu vực ASEAN và thế giới. Nhưng hiện nay, Việt Nam chỉ gặp
chúng làm tổ ở Vườn quốc gia U Minh, Cà Mau; Loài sếu đầu đỏ cũng là loài
chim vô cùng quý ở Đông Nam Á đã xuất hiện và thích nghi với môi trường ở
Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp; Vạc hoa chỉ
gặp ở hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - khu Ramsar vừa được công nhận năm 2011;
Cò thìa cũng chỉ có ở khu Ramsar Xuân Thủy, tỉnh Nam Định3... Nhờ sự định
cư và phát triển của các loài sinh vật quý, hiếm, độc đáo này đã là một nguyên
nhân thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế ngày càng đông.
Kết quả của các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong
Việt Nam và quốc tế cho đến nay đã thống kê sơ bộ có khoảng 12.115 loài
thủy sinh vật phân bố ở môi trường biển, môi trường nước lợ và các vùng
nước nội địa cùng với hơn 300 loài động vật có xương sống chuyên sống
trong môi trường nước, hoặc có chu kỳ sống thích nghi liên quan với các hệ
sinh thái đất ngập nước. Chẳng hạn, thú có 47 loài thuộc 11 họ, 4 bộ; chim có
170 - 180 loài thuộc 42 họ nằm trong 20 bộ; bò sát có 35 loài thuộc 6 họ và
hầu hết 162 loài lưỡng cư thường sống và phát triển trong môi trường đất
ngập nước. Trong số này đã ghi nhận 60 loài thuộc diện có nguy cơ bị đe dọa
có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 như rái cá lông mượt, rái cá vuốt
bé, mèo cá, hươu đầm lầy, voọc bạc, voọc mông trắng, voọc đầu vàng, dơi
ngựa lớn, bò biển, cá ông chuông, cá heo, sếu cổ trụi, vạc hoa4... Đây là
nguồn gen tự nhiên có giá trị bảo tồn cao đang hiện hữu trong các hệ sinh thái
3 />4 />

Đất ngập nước có khả năng lọc nước thải, nạp và ổn định nước ngầm, hạn chế
ảnh hưởng lũ lụt, điều hòa khí hậu, chống xói mòn… Cụ thể như sau:

5 />

19

+ Khả năng lọc nước thải: một vùng đất ngập nước có giá trị khoảng
vài chục hecta sẽ có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một
trạm xử lý nước nhiều triệu USD. Một vai trò hết sức quan trọng của đất ngập
nước đó là khả năng xử lý ô nhiễm mà đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ. Ngày nay,
đa phần, nguồn nước thải sinh hoạt đều qua các hệ thống cống rãnh song các
hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa thải trực tiếp
ra môi trường tự nhiên, ao hồ, sông suối hoặc thải ra biển. Hầu như không có
hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt riêng biệt nào. Việc sử
dụng mô hình đất ngập nước nhân tạo để xử lý nước thải sinh hoạt trở nên
ngày càng phổ biến, vừa có thể thay thế và bổ sung những công nghệ hóa học
tuy mang tính công nghệ cao nhưng lại tốn kém.
+ Nạp và ổn định nước ngầm: nước được thấm từ các vùng đất ngập
nước xuống các tầng ngập nước trong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều
tiết thành dòng chảy bề mặt ở vùng đất ngập nước khác cho con người sử
dụng.
+ Hạn chế ảnh hưởng lũ lụt: đất ngập nước hạn chế ảnh hưởng lũ lụt
bằng cách giữ và điều hoà lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải
phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu.
+ Điều hòa khí hậu, chống xói mòn, ổn định bờ biển, chắn gió bão, bồi
tụ đất đai.... Nhiều nghiên cứu cho thấy, đất ngập nước có thể làm giảm
những tác động từ biến đổi khí hậu, mặc dù chúng chỉ chiếm 6-8% diện tích
bề mặt Trái đất. Chính bởi giá trị quan trọng đó, thông điệp cho Ngày Đất
ngập nước Thế giới (02/02 hàng năm) là “Chăm sóc vùng đất ngập nước –

nghề cá thế giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản và
thứ 7 về giá trị xuất khẩu thủy sản6. Hàng chục cảng cá đã được xây dựng và
đưa vào sử dụng tại các địa phương ven biển và nhiều đảo lớn trên các vùng
biển của đất nước... Sự phát triển nhanh, bền vững của kinh tế thủy sản, đặc
biệt là sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản và
các cơ sở hạ tầng nghề cá đã giúp cho đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của bà
con ngư dân được cải thiện rõ rệt; đồng thời, góp phần xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển và các địa bàn ven biển,
hải đảo ngày càng vững chắc.
- Sản xuất nông nghiệp: phần lớn diện tích đất ngập nước của Việt
Nam được sử dụng để trồng lúa, đặc biệt là tại đồng bằng Sông Hồng và đồng
6 />

21

bằng Sông Cửu Long. Lợi thế này đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất
khẩu gạo lớn hàng đầu thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, tính đến năm 2015, trung bình hàng năm Việt Nam sản xuất tới 45 triệu
tấn lúa (tương đương 26-27 triệu tấn gạo), xuất khẩu từ 6-7 triệu tấn gạo7.
Đây là con số rất lớn, đóng góp không nhỏ vào GDP quốc dân;
- Các hoạt động giải trí và du lịch: Doanh thu từ các hoạt động vui
chơi và du lịch trên các vùng đất ngập nước tại các nơi như Vịnh Hạ Long,
đảo Cát Bà, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, các bãi biển đẹp tại Phan Thiết và Vũng
Tàu, động Phong Nha – Kẻ Bàng, công trình kỉ niệm lịch sử tại rừng quốc gia
U Minh Thượng, các khu du lịch sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên đất
ngập nước Xuân Thủy và Vườn quốc gia Ba Bể, …. hiện đã tăng lên trong
những năm gần đây nhờ thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài
nước.
Các vùng đất ngập nước còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá
của loài người. Các hệ sinh thái đất ngập nước có nhiều thuận lợi cho du lịch

Hiện nay, vẫn chưa có quy chế quản lý đất ngập nước riêng phù hợp
với đặc thù của các loại hình đất ngập nước. Các vườn quốc gia và Khu bảo
tồn là các khu đất ngập nước hoặc có một phần diện tích là đất ngập nước vẫn
phải tuân theo Quy chế Quản lý rừng đặc dụng. Ở các khu này chưa có khái
niệm “sử dụng khôn khéo” Đất ngập nước, vì hoạt động chính vẫn là bảo tồn.
Hầu hết, các khu này còn rất khó khăn về vốn đầu tư, hàng năm nhận
được nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách tỉnh là chủ yếu. Ngoài ra, một số
nơi cũng được sự hỗ trợ từ nguồn viện trợ của các chính phủ (gián tiếp hoặc
trực tiếp) thông qua các dự án do các tổ chức quốc tế triển khai thực hiện. Các
khu đất ngập nước hầu như không có kinh phí để tổ chức việc giám sát, thu
thập số liệu, đánh giá diễn biến tài nguyên sinh vật. Do đó, không thể có số
liệu cụ thể thuyết minh diễn biến về đa dạng sinh học.
Trong nhiều năm trở lại đây, việc khai thác và sử dụng nguồn tài
nguyên Đất ngập nước đang diễn ra một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch. Khai
hoang để trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, mở rộng các khu dân cư, đô thị hóa,
khu công nghiệp, phát triển giao thông, …làm cho diện tích đất ngập nước tự
nhiên bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm; xói lở, bồi tụ, môi trường bị ô nhiễm
nghiêm trọng (ô nhiễm dầu, các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm
các vi sinh vật gây bệnh).


23

Thứ hai, thực trạng bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam hiện nay:
Năm 1989, Việt Nam đã chính thức tham gia Công ước Ramsar, là
quốc gia thứ 50 trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á tham
gia Công ước này. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy nay là
vườn quốc gia Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam. Tháng 8
năm 2005, Bàu Sấu và các vùng Đất ngập nước theo mùa thuộc vườn quốc
gia Cát Tiên đã trở thành khu Ramsar thứ 2 của Việt Nam.

Ramsar, Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia thể hiện đầy đủ
nguyên tắc thiện chí khi thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký
kết hoặc gia nhập.
Ở Việt Nam, các hệ sinh thái đất ngập nước đóng vai trò cực kỳ quan
trọng đối với an ninh lương thực, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động
kinh tế của nhiều ngành khác nhau như: nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp,
giao thông đường thuỷ, dịch vụ du lịch, khai thác khoáng sản. Tuy nhiên,
nhiều năm gần đây, diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên bị suy
giảm nghiêm trọng do các hoạt động khai hoang của con người, biến đất ngập
nước thành nơi nuôi trồng thủy sản, khai thác thuỷ - hải sản, sản xuất nông
nghiệp.
Ngoài ra do nhiều hạn chế trong hiểu biết khoa học kỹ thuật, cũng
như áp lực từ xã hội về việc cháy rừng, các khu đất ngập nước tại nhiều khu
vực hiện nay đang được quản lý không đúng phương pháp. Một số khu đất
ngập nước tại đồng bằng sông Cửu Long hiện nay bị xây đê bao vòng quanh
khiến hệ sinh thái bị suy thoái do bị cô lập và giảm kết nối, cách làm sai
hướng này đã khiến những khu vực này ngày càng bị suy kiệt. Đặc biệt, năm
2016 là năm của đất ngập nước tại đồng bằng Sông Cửu Long.
Tình trạng xâm nhập mặn xảy ra phổ biến, gây thiệt hại nghiêm trọng
cho sản xuất, sinh hoạt của người dân cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới
kinh tế- xã hội nói chung của cả vùng và cả Việt Nam. Những năm gần đây
các hiện tượng nhiệt độ tăng cao, ngập lụt, hạn hán, dông lốc, sạt lở bờ sông,
nước biển dâng, xâm nhập mặn xuất hiện không theo chu kỳ và tác động
mạnh đến đời sống người dân đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đợt hạn mặn
lịch sử hiện nay, chứng tỏ tình trạng biến đổi khí hậu đang ngày càng diễn
biến phức tạp và không còn là “kịch bản” nữa.
Nguyên nhân trước hết là phần lớn các tỉnh, thành phố khu vực đồng
bằng sông Cửu Long ó cao độ tự nhiên thấp. Đây là điểm yếu dễ bị tổn
thương nhất do lũ lụt và xâm nhập mặn. Tình trạng xây dựng thủy điện và các


trạng chặt phá rừng, lấn chiếm rừng để nuôi thủy sản đã tác động xấu đến diện
tích rừng ngập mặn ven biển nơi đây. Tổng dân số các xã vùng ven biển
khoảng 898.510 người, gồm 179.546 hộ, chiếm khoảng 5% tổng số dân của
toàn vùng. Trong khi đó, diện tích rừng ngập mặn chỉ chiếm 2% diện tích đất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status