BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THƠM
PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THƠM
PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
Giải thích từ viết tắt
ĐVSNCL
: Đơn vị sự nghiệp công lập
VBQPPL
: Văn bản quy phạm pháp luật
UBND
: Ủy ban nhân dân
HĐLĐ
: Hợp đồng lao động
THPT
: Trung học phổ thông
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1
NAM HIỆN NAY
32
2.1. Thực trạng pháp luật về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện
nay
32
2.1.1. Các văn bản pháp luật quy định về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam
hiện nay
32
2.1.2. Nội dung của tuyển dụng viên chức theo quy định pháp luật hiện
hành
35
2.1.2.1. Căn cứ tuyển dụng viên chức
36
2.1.2.2. Về nguyên tắc tuyển dụng viên chức
37
2.1.2.3. Điều kiện dự tuyển viên chức
42
2.1.2.4. Thẩm quyền tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức
44
2.1.2.5. Phương thức tuyển dụng
45
2.1.2.6. Thủ tục tuyển dụng viên chức
49
2.1.2.7. Chế độ tập sự
50
2.2. Thực tiễn việc tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
ở Việt Nam trong những năm trở lại đây
50
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC SỐ 01
PHỤ LỤC SỐ 02
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo đã trải qua 30 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(1986) của Đảng. Một trong những nhiệm vụ trong tâm được nêu trong Nghị quyết
Đại hội lần thứ 12 của Đảng là “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí
tuệ và năng lực làm việc…”. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và
đang từng bước đổi mới toàn diện, trong đó có sự đổi mới việc cung cấp các dịch vụ
công. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với
quá trình xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công, vai trò cung cấp các dịch vụ công
của viên chức trong các ĐVSNCL ngày càng được khẳng định, đáp ứng yêu cầu
phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội ở các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học,
công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch,… Đội ngũ viên chức phải đảm bảo
đầy đủ các yếu tố về phẩm chất, năng lực, trình độ mới có thể đáp ứng được các yêu
cầu đòi hỏi trong thời kỳ mới. Muốn vậy, công tác tuyển dụng viên chức phải thực
sự có hiệu quả. Hoạt động tuyển dụng viên chức tốt có vai trò quan trọng đối với cả
Nhà nước, ĐVSNCL cũng như viên chức, đặc biệt là giúp cho ĐVSNCL tìm được
người đủ điều kiện, tiêu chuẩn đảm bảo tuyển chọn người xứng đáng nhất vào làm
việc cho Nhà nước, qua đó có được sản phẩm dịch vụ công chất lượng cao, đáp ứng
tác giả quan tâm và đã có một số công trình khoa học được công bố.
Nghiên cứu về pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức có một số công trình
nghiên cứu khoa học tiêu biểu như sau: GS.TS. Phạm Hồng Thái (2004), Cán bộ,
công chức, Nxb.Tư pháp, Hà Nội; ThS.Bùi Thị Đào (2006), “Cán bộ, công chức,
viên chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức”, Tạp chí Luật học; Lương Thanh
Cường (2008), “Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam
hiện nay”, Luận án tiến sỹ luật học; TS.Trần Anh Tuấn (2010), Tiếp tục đổi mới cơ
chế quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, Tạp chí Tổ chức nhà
nước; TS.Hoàng Quốc Hồng (2011), Pháp luật viên chức qua các thời kỳ, Hội thảo
11
khoa học; “Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức”, chuyên đề tạp chí Tổ chức
Nhà nước Số 1/2009; Lê Thị Quỳnh Nga (2011), “Pháp luật về viên chức ở Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập”, Luận văn Thạc sĩ .v.v..
Nghiên cứu về tuyển dụng viên chức và pháp luật về tuyển dụng viên chức có
một số công trình nghiên cứu khoa học như sau: Nguyễn Huy Hoàng (2011),
“Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta hiện nay”, Luận
văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội), năm 2011; TS.Nguyễn Mạnh Hùng
(2011) “Tuyển dụng viên chức theo quy định của Luật viên chức năm 2010”
Chuyên đề Hội thảo (Trường Đại học Luật Hà Nội).
Các công trình khoa học trên chủ yếu đề cập đến các nội dung về công chức,
viên chức, pháp luật về công chức, viên chức nói chung và tuyển dụng viên chức
Cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về pháp
luật tuyển dụng viên chức ở Việt Nam một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ. Với
mong muốn nghiên cứu một cách tổng quát pháp luật về tuyển dụng viên chức và
thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện
nay, luận văn hy vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người
nghiên cứu.
pháp luật về tuyển dụng viên chức, cần phải có những phương hướng và giải pháp
gì nhằm nâng cao hiệu quả tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện nay?
6. Phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu,
luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lê nin. Luận văn được nghiên cứu
trên cơ sở gắn liền giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Các phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng chủ yếu là: phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp, bình luận, kết hợp với thống kê, hồi cứu tài liệu,…
13
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về tuyển dụng viên chức ở
Việt Nam hiện nay. Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tổng thể, đánh giá
khái quát nhất cả về các phương diện lý luận, pháp luật và thực tiễn kể từ khi Luật
viên chức năm 2010 có hiệu lực thi hành. Đồng thời chỉ rõ những kết quả đạt được
cũng như những vướng mắc, bất cập trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp
luật về tuyển dụng viên chức. Từ đó, đưa ra phương hướng và các giải pháp hoàn
thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tuyển dụng viên chức ở Việt
Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần nâng cao nhận thức, cung cấp thêm cơ
sở lý luận và thực tiễn cho người sử dụng lao động tại các ĐVSNCL trong việc
tuyển dụng viên chức cho đơn vị mình.
Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người làm công
tác nghiên cứu, công tác giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp
chuyên nghiệp.
8. Bố cục của luận văn
Đến năm 2003, sự phân định giữa các đối tượng công chức, viên chức được
quy định trong Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003) và bước
đầu đã được thể hiện rõ hơn tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP quy định về việc
tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước (sau đây gọi là Nghị định số 116/2003/NĐ-CP). Lần đầu tiên định nghĩa về
viên chức được quy định trong văn bản pháp luật: “là công dân Việt Nam, trong
biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một
nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm
15
2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy
định của pháp luật” (Điều 2 Nghị định số 116/2003/NĐ-CP).
Có thể thấy, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP đã phân biệt cán bộ, công chức
trong cơ quan nhà nước với cán bộ, công chức trong các ĐVSNCL, thực chất là
phân biệt công chức nhà nước với viên chức nhà nước. Đây là điểm mốc quan trọng
có sự thay đổi trong nhận thức, tư duy, đánh dấu xu hướng điều chỉnh có tính
chuyên biệt giữa đối tượng phục vụ trong các cơ quan nhà nước (công chức) và các
đối tượng làm việc tại các ĐVSNCL (viên chức). Mặc dù vậy thì thời điểm này,
Nhà nước vẫn chưa xây dựng được một khái niệm thật sự khoa học về viên chức,
chưa phản ánh được đặc thù chuyên môn nghề nghiệp của viên chức.
Năm 2006, trong Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp Viện Khoa học pháp lý
cũng đưa ra định nghĩa về viên chức là: “Người làm việc trong cơ quan nhà nước
hoặc tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một
ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, được hưởng lương từ ngân
sách nhà nước và các nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật”.
lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong ĐVSNCL.1 Tính nghề nghiệp thể hiện ở
việc viên chức thực hiện thường xuyên một dịch vụ công theo nghiệp vụ chuyên
môn mà viên chức đó đảm nhiệm. Dịch vụ công mà viên chức cung cấp đó là các
dịch vụ về giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, sản phẩm khoa học công nghệ, các công
trình nghiên cứu,… không thu tiền hoặc có thu tiền một phần nhưng không vì mục
tiêu lợi nhuận. Trong khi đó, đối với những người làm công việc có tính chất giống
như viên chức như giáo viên trường tư, bác sỹ, y tá bệnh viện tư… cung cấp các
dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế nhằm mục đích vì lợi nhuận.
Đồng thời, hoạt động dịch vụ công cũng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, tính
trách nhiệm, sự tận tụy và được thực hiện đáp ứng nhu cầu của người dân mà Nhà
nước phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cung cấp. Các hoạt động này được điều chỉnh
không chỉ bằng pháp luật mà còn thông qua các quy chế hay điều lệ của chính nơi
họ phục vụ. Nói cách khác, hoạt động của viên chức mang tính phục vụ, cung ứng
các dịch vụ công, không gắn với công quyền mà theo nhu cầu của xã hội.
1
Điều 4 Luật Viên chức năm 2010
17
Hai là, viên chức là người phục vụ, làm việc cho Nhà nước.
Giống như cán bộ, công chức thì viên chức cũng là người làm việc cho Nhà
nước. Tuy nhiên hiện nay chức năng của Nhà nước được tách ra thành quản lý nhà
nước và cung cấp dịch vụ công. Trong đó, quản lý nhà nước được thực hiện chủ yếu
bởi đội ngũ cán bộ, công chức còn cung cấp dịch vụ công tại các ĐVSNCL được
thực hiện bởi viên chức. Dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp
nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội mà Nhà nước có vai trò và trách nhiệm cung
cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ
kết quả hoạt động của chính ĐVSNCL đó.
Các đặc điểm nêu trên của viên chức có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với
nhau. Viên chức làm việc cho Nhà nước (tại các ĐVSNCL) thực hiện hoạt động
nghề nghiệp tính chất đặc thù thông qua hợp đồng làm việc. Nếu viên chức không
có khả năng thực hiện được hoạt động dịch vụ công thì giữa viên chức với
ĐVSNCL của Nhà nước hoàn toàn có thể chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy
định pháp luật.
1.1.2. Khái quát về tuyển dụng viên chức
1.1.2.1. Tuyển dụng nhân sự
Tuyển dụng viên chức là một dạng của hoạt động tuyển dụng nhân sự nói
chung, do đó trước khi đi tìm hiểu về tuyển dụng viên chức cần phải tìm hiểu khái
niệm về tuyển dụng nhân sự. Tuyển dụng nhân sự là một hoạt động diễn ra trong
thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng lâu dài tới sự tồn tại và phát triển của một đơn
vị. Nếu tuyển dụng được thực hiện có hiệu quả sẽ là cơ sở để xây dựng đội ngũ
nhân sự có trình độ, năng lực và sự phát triển của đơn vị. Ngược lại, nếu tuyển dụng
không được tiến hành một cách nghiêm túc sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động chung.
Theo Từ điển Luật học, Bộ Tư pháp Viện Khoa học pháp lý, NXB.Từ điển
Bách khoa, NXB.Tư pháp năm 2012 thì tuyển dụng được hiểu là “lựa chọn và thu
nhận người vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.”.
Như vậy, tuyển dụng chính là quá trình sàng lọc trong số những ứng cử viên và lựa
chọn trong số họ những ứng cử viên phù hợp với vị trí công việc cần tuyển nhằm
đạt được mục đích, kế hoạch đặt ra.
Hiện nay, tuyển dụng nhân sự được hiểu dưới góc độ cả nghĩa rộng và nghĩa
hẹp: Theo nghĩa rộng, tuyển dụng được hiểu là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn
19
và sử dụng người lao động. Nếu hiểu theo nghĩa này thì quá trình tuyển dụng bắt
đầu từ khi thu hút ứng viên đến khi chấm dứt hợp đồng lao động. Theo nghĩa hẹp,
thể tách rời, luôn bổ sung cho nhau phải làm tốt công tác tuyển mộ thì công tác
tuyển dụng mới đạt hiệu quả cao.
1.1.2.2. Tuyển dụng viên chức
Trước năm 2003, mặc dù đã có những quy định về phương thức tuyển dụng
song định nghĩa về tuyển dụng đối với các đối tượng cán bộ, công chức nói chung
chưa được đề cập đến. Đến Nghị định số 116/2003/NĐ-CP, định nghĩa về tuyển
dụng lần đầu tiên được quy định, đó là: “tuyển dụng là việc tuyển người theo hình
thức hợp đồng làm việc trong biên chế ở đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thông qua
thi hoặc xét tuyển” (khoản 6 Điều 3). Điều này cho thấy phần nào phản ánh công tác
tuyển dụng viên chức (khi đó là những người làm việc trong ĐVSNCL) được Nhà
nước chú trọng, quan tâm. Mặc dù vậy thì định nghĩa này vẫn chưa khái quát được
tính chất đặc thù của hoạt động tuyển dụng viên chức.
Năm 2010, Luật Viên chức cũng đưa ra định nghĩa về tuyển dụng: “là việc lựa
chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong ĐVSNCL”
(khoản 3 Điều 2). Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả thì định nghĩa này vẫn chưa
thật sự đầy đủ, trọn vẹn. Bởi lẽ định nghĩa theo Khoản 6 Điều 3 Luật Viên chức
chưa nêu được chủ thể tuyển dụng và cách thức tuyển dụng viên chức để có thể
phân biệt được với tuyển dụng với các đối tượng không phải là viên chức. Nhằm
đưa ra định nghĩa về tuyển dụng viên chức một cách đầy đú, tác giả có thể đưa ra
định nghĩa về tuyển dụng viên chức như sau: Tuyển dụng viên chức là việc cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền hoặc được trao quyền lựa chọn người có đủ phẩm
chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong ĐVSNCL theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định.
Tuyển dụng viên chức là một dạng của tuyển dụng nhân sự, do đó tuyển dụng
viên chức có những đặc điểm chung giống với tuyển dụng nhân sự và có một số đặc
điểm riêng như sau:
Một là, chủ thể tuyển dụng viên chức phải là cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền hoặc được trao quyền tuyển dụng viên chức theo quy định của pháp luật
về tuyển dụng viên chức. Theo đó, tùy từng ĐVSNCL giao quyền tự chủ hay chưa
công), hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL nên quy trình tuyển dụng những
người vào làm việc dịch vụ công cần trải qua trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định
22
pháp luật. Trong khi đó, tuyển dụng nhân sự tại khu vực ngoài công lập không nhất
thiết phải theo một khuôn phép được quy định sẵn, đơn vị tuyển dụng có thể tự đặt
ra tiêu chuẩn đối với ứng viên dự tuyển, kết quả cuối cùng mà họ mong muốn là lựa
chọn được người phù hợp nhất cho công việc. Đây cũng là mục đích trong tuyển
dụng viên chức trong ĐVSNCL, tuy nhiên việc tuyển dụng phải tuân theo những
quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức; điều kiện, hình thức, thủ tục tuyển
dụng có sự chặt chẽ hơn. Không chỉ vậy, tuyển dụng viên chức còn dựa trên cơ sở
các quy định của pháp luật lao động. Xét cho cùng, viên chức cũng là người lao
động, làm việc cho đối tượng sử dụng lao động đặc biệt. Vì vậy, những quy định về
độ tuổi tuyển dụng, hợp đồng làm việc cũng phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc
của pháp luật lao động.
1.1.3. Vai trò của tuyển dụng viên chức
Thứ nhất, tuyển dụng viên chức là cơ sở hình thành và duy trì một lực lượng
lao động phù hợp cho ĐVSNCL
Tuyển dụng viên chức là khâu đầu tiên trong quá trình thực hiện có hiệu quả
các hoạt động tuyển dụng, quản lý, sử dụng viên chức…và cũng là một điều kiện
để phát triển văn hoá của đơn vị sự nghiệp ngày càng lành mạnh. Một trong những
điều kiện để thành lập ĐVSNCL đó là phải có nguồn nhân sự2. Do đó, đối với
ĐVSNCL mới thành lập, tuyển dụng viên chức là yếu tố quan trọng hình thành một
đơn vị. Nói cách khác, có nhân tố con người, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng
thì một đơn vị sự nghiệp mới hình thành và phát triển.
Đối với ĐVSNCL đã thành lập từ sớm, số lượng viên chức đã ổn định tuy
nhiên có những viên chức đã nghỉ hưu và để bù đắp đối với lực lượng này đồng thời
duy trì lực lượng lao động của toàn đơn vị thì việc tuyển dụng viên chức mới bổ
lượng sản phẩm dịch vụ công trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.
Thứ ba, tuyển dụng viên chức giúp viên chức có vị trí việc làm phù hợp với khả
năng của mình.
Trong điều kiện xã hội như hiện nay, các ngành nghề đào tạo tại các cơ sở đào
tạo đa dạng, số lượng sinh viên ra trường đăng ký tuyển dụng viên chức tại các vị trí
việc làm không đồng đều. Tuy nhiên, căn cứ vào bản nhu cầu công việc, vị trí việc
làm, tiêu chuẩn chức danh mà ĐVSNCL thông báo, người dự tuyển hoàn toàn biết
được ngành đào tạo của mình học có đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn tuyển dụng hay
không. Trên cơ sở đó, người dự tuyển định hướng nghề nghiệp phù hợp với khả
năng của mình, biết được sau khi được tuyển dụng mình sẽ đảm nhiệm vị trí công
việc nào trong đơn vị.
24
Tuyển dụng đúng người, đúng việc là yếu tố tạo tâm lý thoải mái cho người dự
tuyển, phần nào giúp người dân tin tưởng vào Nhà nước. Qua quá trình tuyển dụng
viên chức, ứng viên dự tuyển được bố trí làm đúng với công việc mình yêu thích,
đúng khả năng là động lực lớn khích lệ tinh thần làm việc hăng say, tận tâm, tận tụy
với công việc, là yếu tố mang lại sự thành công cho ĐVSNCL.
1.2. Pháp luật về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam
Mối quan hệ trong tuyển dụng viên chức chính là mối quan hệ giữa chủ thể sử
dụng lao động với ứng viên đăng ký dự tuyển. Đây là mối quan hệ tất yếu xảy ra
trong đời sống xã hội, do đó khi tham gia vào mối quan hệ này, các bên có cách xử
sự khác nhau và đều mong muốn đạt được lợi ích riêng của mình. Do tính tổ chức
trong quản lý hành chính nhà nước cũng như trong quan hệ lao động nên đòi hỏi các
bên (ĐVSNCL – người dự tuyển viên chức) phải phát triển theo hướng nhất định,
tức là xử sự của con người trong mối quan hệ này phải theo một trật tự, cách thức
nhất định được đề ra từ trước. Vì vậy, sự tác động của quy phạm pháp luật ở mối
quan hệ giữa ĐVSNCL với người dự tuyển viên chức là cần thiết.
pháp luật, cùng với xu hướng là “người lái thuyền”, việc điều chỉnh pháp luật về
tuyển dụng viên chức của Nhà nước là sự cần thiết giúp Nhà nước tuyển chọn được
người làm việc cho mình một cách tốt nhất, tiết kiệm một cách đáng kể cho ngân
sách nhà nước, thông qua đó sử dụng, quản lý đội ngũ viên chức thống nhất, đồng
bộ trên cả nước, đáp ứng với những thay đổi của các quan hệ tuyển dụng viên chức
trong thời kỳ mới.
Đối với ĐVSNCL, với tư cách là chủ thể sử dụng, quản lý trực tiếp đội ngũ
viên chức, ĐVSNCL luôn phải tìm cách lựa chọn những ứng viên đáp ứng được yêu
cầu vị trí việc làm cần tuyển dụng, tuy nhiên không thể dùng “mọi thủ đoạn” để
tuyển dụng. Vì vậy pháp luật về tuyển dụng viên chức là cơ sở pháp lý định hướng
cho các ĐVSNCL biết phải làm gì và làm như thế nào để có thể tuyển được người
làm việc tốt nhất. Hiện nay, các ĐVSNCL phải tự chủ dần trong hoạt động của
mình, khi không còn sự bao bọc từ phía nhà nước, các ĐVSNCL luôn tự mình có
những tính toán cụ thể, căn cứ vào nhu cầu công việc, nguồn tài chính, quỹ tiền
lương để tuyển dụng viên chức. Sự thay đổi trong cơ chế quản lý nhà nước đối với
các ĐVSNCL, đồng thời nâng cao tính cạnh tranh trong tuyển dụng viên chức đòi
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb.CAND, tr.227-231