BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LAN
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102.
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Bích
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, được trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.
Tác giả luận văn
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHỨNG THỰC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY................................................................................ 65
3.1. hương hướng hoàn thiện pháp luật về chứng thực ở việt Nam hiện
nay ..................................................................................................... 66
3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chứng thực ở Việt Nam hiện
nay ..................................................................................................... 69
3.3.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về chứng thực hiện hành ... 69
3.1.2. Xây dựng Luật Chứng thực ............................................................. 71
3.4.
c giải ph p ảo đảm thực hiện c hiệu quả quy định của ph p luật về
chứng thực ở Việt Nam hiện nay ................................................................. 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
hi đất nước chuyển sang mô hình kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với việc các quan hệ, giao dịch và các thủ tục
hành chính mà các cá nhân, tổ chức tham gia không ngừng tăng lên. Để thực
hiện các thủ tục hành chính, tham gia các giao dịch thì các giấy tờ, văn ản,
chữ ký, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân... cần được xác nhận để có
được độ an toàn pháp lý nhất định. Yêu cầu trên đòi hỏi phải có sự điều chỉnh
bằng pháp luật đối với sự xác nhận này mà hình thức thể hiện của nó là công
chứng, chứng thực.
có sự đ nh gi , xem xét, nghiên cứu một c ch đầy đủ, tổng quát pháp luật về
chứng thực nhằm có giải pháp khắc phục thực trạng nêu trên. Vì vậy, việc
chọn đề tài: “Pháp luật về chứng thực ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và
giải pháp” làm đề tài luận văn
ao học Luật là đ p ứng nhu cầu thực tiễn
đang đặt ra hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam việc nghiên cứu pháp luật về
chứng thực đã được các tác giả quan tâm và đã c một số công trình khoa học
được công bố.
Nghiên cứu về pháp luật về chứng thực có một số công trình nghiên
cứu khoa học tiêu biểu như sau: Tuấn Đạo Thanh (2001), “Hoàn thiện
pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam hiện nay”, Luật văn thạc
sĩ (Trường Đại Học Luật Hà Nội); Chu Thị Tuyết Lan, “Quản lý nhà nước
về chứng thực – Thực trạng và phương hướng đổi mới”, Luận văn thạc sĩ,
Đại học quốc gia Hà Nội; Trần Thất (2010), “Hoạt động chứng thực sau
hai năm thực hiện Luật công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP”, Tạp
chí dân chủ và pháp luật; Viện khoa học pháp lý (2011), “Nghiên cứu giải
pháp nâng cao hiệu quả công chứng, chứng thực các giao dịch chuyển
quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình”, Đề tài nghiên cứu khoa học;
Hoàng Thị Hồng (2012), “Sự cần thiết phải ban hành Luật chứng thực”,
Tạp chí dân chủ và pháp luật; Nguyễn Thùy Dung (2014), “Quản lý nhà
3
nước về chứng thực – Qua thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
luật học, Đại học quốc gia Hà Nội; …
Trong thời gian đầu chúng ta chủ yếu chú trọng đến hoạt động công
Luận văn nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi:
Lý luận về chứng thực và pháp luật về chứng thực là như thế nào?
Thực trạng pháp luật về chứng thực ở Việt Nam hiện nay như thế nào
và thực tiễn thực hiện pháp luật về chứng thực ở Việt Nam hiện nay ra sao?
Để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp
luật về chứng thực, cần phải có những phương hướng và giải pháp gì nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động chứng thực ở Việt Nam hiện nay?
6. Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương ph p nghiên cứu cơ ản sau:
- ơ sở phương ph p luận để nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lê nin. Luận văn được
nghiên cứu trên cơ sở gắn liền giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
-
c phương ph p nghiên cứu mà tác giả sử dụng chủ yếu là: phương
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp với thống kê, hồi cứu tài liệu,…
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn g p phần làm phong phú thêm lý luận về chứng thực và
pháp luật về chứng thực ở Việt Nam hiện nay. Luận văn là công trình
nghiên cứu một cách tổng thể, đ nh gi kh i qu t nhất cả về c c phương
diện lý luận, pháp luật và thực tiễn về chứng thực kể từ sau năm 2006, với
việc Quốc hội thông qua Luật Công chứng và Chính phủ ban hành Nghị
định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ
bản chính, chứng thực chữ ký (nay được thay thế bằng Nghị định số
23/2015/NĐ-
). Đồng thời, luận văn chỉ rõ những kết quả đạt được cũng
“ hứng thực” là một thuật ngữ khá phức tạp, cần được tìm hiểu dưới
g c độ ngôn ngữ học và dưới g c độ khoa học pháp lý và quản lý.
Về khía cạnh ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ,
Nxb. Đà Nẵng năm 1997 c một số định nghĩa c liên quan đến chứng thực,
xác nhận được giải thích: “Xác nhận thừa nhận đúng sự thật chữ kí, xác nhận
lời khai”, về chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự
thật. Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng. Thực tiễn đã chứng thực điều
đó”. Như vậy, nghĩa của từ “chứng thực” xét về g c độ ngôn ngữ có nhiều
định nghĩa kh c nhau nhưng về cơ ản nhất là xác nhận tính có thực.
Theo quan niệm của khoa học ph p lý nước ngoài, qua tham khảo một
số tài liệu ph p lý nước ngoài có thể thấy, trong khoa học pháp lý một số nước
cũng c những khái niệm tương đương với khái niệm “chứng thực” trong
tiếng Việt.
Tại Thụy Sĩ c quy định về hoạt động công chứng và chứng thực. Theo
quy định Luật công chứng và chứng thực ngày 30.08.2011 của bang Aargau,
Thụy Sĩ điều chỉnh việc công chứng và chứng thực trong phạm vi của bang
Aargau, tại Điều 2 khoản 3 quy định “Việc chứng thực áp dụng đối với chữ
ký, bản sao chụp, trích lục, sao chép hoặc bản dịch”. Mặc dù Luật của Thụy
Sĩ chưa t ch riêng thành Luật công chứng, Luật chứng thực nhưng cũng đã c
quy định điều chỉnh về chứng thực.
Tại
hương III Luật công chứng Cộng hoà liên
ang Đức ngày
28/9/1969 c quy định các việc công chứng kh c, điều chỉnh về chứng thực.
Cụ thể tại khoản 1 Điều 42 Luật này quy định về chứng thực bản sao, theo đ
“Khi chứng thực bản sao một văn bản cần xác định đó là bản chính”. Tại
của người lập ra chúng. Khi chứng nhận chữ ký, công chứng viên không phải
8
kiểm tra, xác nhận nội dung của việc trong đơn từ, giấy tờ, mà chỉ cần xem
nội dung các văn bản đó có trái pháp luật và các quy định hiện hành hay
không. Nếu thấy nội dung và các sự việc nêu trong đơn từ, giấy tờ có thể có
hại cho người ký, thì công chứng viên giải thích cho đương sự hiểu hậu quả
pháp lý của nó. Sau khi đã kiểm tra chữ ký của đương sự, công chứng viên
phải yêu cầu đương sự ký vào đơn từ, giấy tờ và ghi chứng thực theo mẫu.”
Theo quy định trên đây, thì phạm vi chứng thực được mở rộng ra đối với việc
chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn ản.
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt
động công chứng nhà nước đã giao cho Ủy ban nhân dân thực hiện việc
chứng thực. Đ là, “Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng
thực các việc do pháp luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản
chính, trừ các việc được quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định này.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản,
chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định” (Điều 19).
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công
chứng, chứng thực là văn ản đầu tiên đưa ra kh i niệm “chứng thực” là gì.
Theo đ , “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận
sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ
phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định
này” (khoản 2, Điều 2)
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không có khái niệm chung về “chứng
thực” mà chỉ đưa ra kh i niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký tại
Điều 2 của Nghị định, cụ thể: “Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn
cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính”; “Chứng
các thông tin cá nhân nhằm phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và bảo vệ các
quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính của cá nhân, tổ chức có liên quan cũng
như phục vụ hoạt động quản lý của Nhà nước.
1.1.2. Ý nghĩa của chứng thực
Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hành chính nói riêng ở
nước ta hiện nay, có thể coi chứng thực là một trong những hoạt động hành
10
chính tư ph p do cơ quan nhà nước hoặc do cá nhân ủy quyền nhà nước thực
hiện. Chứng thực là xác nhận tính chính xác, tính có thực của giấy tờ, văn
bản; đảm bảo tính xác thực của bản sao từ bản chính, chữ ký của cá nhân (bao
gồm chữ ký người dịch và các cá nhân nói chung).
Trên thực tế, những giấy tờ, văn ản đã được chứng thực (sau đây
gọi chung là văn ản chứng thực) luôn được sử dụng để phục vụ việc thực
hiện một mục đích cụ thể nào đ . Ví dụ, bản sao giấy tờ, văn ản được
chứng thực từ bản chính để thực hiện các thủ tục kh c như nộp hồ sơ tuyển
sinh, tuyển dụng; hợp đồng, giao dịch được chứng thực là thủ tục chuyển
quyền sở hữu tài sản. Nói cách khác, hoạt động chứng thực đã cung cấp
dịch vụ nhằm tạo giá trị chứng minh điều kiện pháp lý cho các giấy tờ, văn
bản phục vụ cho việc thực hiện các thủ tục khác theo mục đích của các chủ
thể yêu cầu chứng thực.
1.1.2.1. Chứng thực là phương thức hỗ trợ thực hiện quyền con người
Trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển, con người cần c c c phương
tiện thiết yếu như lương thực, thực phẩm, các vật dụng, phương tiện, nhà ở…,
và ở xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người về cả vật chất và tinh
thần ngày càng cao và trở nên phong phú, đa dạng. Để đ p ứng nhu cầu trên,
con người cần phải tham gia các mối quan hệ xã hội thông qua các hoạt động
như học tập, lao động, tham gia các giao dịch dân sự…. Hiến pháp của các
quốc gia nói chung và Hiến pháp Việt Nam n i riêng đều ghi nhận những
luật yêu cầu phải công chứng, chứng thực) đồng nghĩa với việc giao dịch
dân sự đ ph t sinh hiệu lực trên thực tế.
Hơn nữa, khi các quan hệ và giao dịch của mỗi cá nhân, tô chức mở
rộng, trong trường hợp mà các bên giao dịch, quan hệ không biết rõ thông tin
về nhau thì phát sinh nhu cầu chứng thực tức là nhờ cơ quan nhà nước hoặc tổ
chức chứng nhận tính chính xác và có thực. Như vậy, thông qua việc chứng
thực của c c cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực thì c c thông tin đ
đã c độ tin cậy nhất định, đảm bảo cho việc tham gia các quan hệ và giao
dịch của cá nhân tổ chức.
12
1.1.2.2. Chứng thực là công cụ hỗ trợ hoạt động hành chính có hiệu
quả, giảm phiền hà cho tổ chức, cá nhân
Thứ nhất, đối với bản sao được chứng thực từ bản chính giấy tờ văn
bản, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-
c quy định về “Giá
trị pháp lý bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản
chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thực” thì
“Bản sao được chứng thực từ bản chính theo quy định tại Nghị định này có
giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các
giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Theo quy định này thì khi thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính,
cơ quan, tổ chức thực hiện chứng thực đã căn cứ vào bản chính để chứng thực
bản sao là đúng với bản chính. Như vậy, thông qua việc đối chiếu bản sao với
bản chính, có chữ ký của người có thẩm quyền và đ ng dấu xác nhận, cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền đã đảm bảo rằng bản sao đúng với bản chính.
Do đ , c c cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính
chữ ký người dịch có thể yên tâm, tin tưởng vào nội dung giấy tờ, văn ản
được dịch. Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta hội nhập ngày càng sâu với
c c nước trong khu vực và trên thế giới thì nhu cầu dịch giấy tờ, văn ản ngày
càng trở nên phổ biến. Để đ p ứng nhu cầu này, đội ngũ dịch thuật đã được
hình thành và ngày càng phát triển. ho đến nay, hầu hết c c hòng Tư ph p
trong cả nước đã xây dựng cho mình một đội ngũ cộng tác viên dịch thuật vừa
đ p ứng tính đầy đủ, chính xác của nội dung của giấy tờ văn ản cần dịch,
vừa đảm bảo tiến độ của thời gian trả kết quả chứng thực chữ ký người dịch.
Hiện nay, c c hòng Tư ph p đang rà so t, sắp xếp lại đội ngũ cộng tác viên
của các phòng sau khi có ý kiến phê duyệt của Sở Tư ph p để đảm bảo tính
chuyên nghiệp trong hoạt động dịch thuật, đ p ứng kịp thời nhu cầu dịch thuật
của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Thứ tư, đối với các hợp đồng, giao dịch được chứng thực, theo quy
định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Hợp đồng, giao dịch được chứng
thực theo quy định của Nghị định này có giá trị chứng cứ chứng minh về thời
gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân
14
sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng,
giao dịch.” (khoản 4 Điều 3). Như vậy, bên cạnh hoạt động công chứng hợp
đồng, giao dịch do các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện thì hoạt động
chứng thực hợp đồng, giao dịch do c c cơ quan nhà nước thực hiện (trước đây
theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thì thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao
dịch được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã,
nay theo Nghị định số 23/2015/NĐ-
và cũng để phù hợp với Luật nhà ở
năm 2014 thì thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch được giao cho Ủy
ngữ nghĩa, thì hai từ “chứng nhận” và “x c nhận” c kh c nhau về mức độ cao
thấp trong mối liên hệ với thực tế và khác nhau về quy trình thao t c. “X c
nhận” c nghĩa là thừa nhận là đúng sự thật. Thông thường, “x c nhận” chỉ
mang tính chất bàn giấy (ví dụ: xác nhận chữ ký, xác nhận lời khai…). òn
“chứng nhận” c nghĩa là nhận cho để làm bằng là c , là đúng sự thật2. Để
chứng nhận một sự việc, thông thường người chứng nhận phải qua một loạt
thao tác kiểm tra, x c minh, đối chiếu.v.v… (ví dụ: chứng nhận hợp đồng…).
Tóm lại, có thể hiểu là hành vi xác nhận có tính chất đơn giản hơn, ít phức tạp
hơn hành vi chứng nhận. Nếu để thực hiện hành vi công chứng, công chứng
viên phải thực hiện một chuỗi c c thao t c như: x c định tư c ch chủ thể của
các bên trong hợp đồng, giao dịch; x c định đúng đối tượng, mục đích của
hợp đồng, giao dịch; giúp các bên trong hợp đồng, giao dịch thể hiện ý chí của
mình một c ch rõ ràng, chính x c, đúng ph p luật; chứng nhận tính xác thực,
tính hợp pháp về nội dung của hợp đồng, giao dịch. òn đối với công chứng
bản dịch thì thông qua trách nhiệm liên đới giữa công chứng viên và người
dịch thì công chứng viên phải chứng nhận và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ,
chính xác của bản dịch trước kh ch hàng. Nhưng khi thực hiện hành vi chứng
thực, trong chứng thực bản sao từ bản chính, người thực hiện chứng thực chỉ
đơn thuần tiếp nhận, kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính; khi thực hiện
chứng thực chữ ký, người thực hiện chứng thực chỉ xác nhận đ là chữ ký của
người yêu cầu chứng thực mà không chứng nhận về nội dung giấy tờ, văn ản
mà người yêu cầu chứng thực ký vào. ũng tương tự như vậy, khi chứng thực
1
2
Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014
Viện ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, năm 1997
16
Khoản 1 Điều 77 Luật công chứng năm 2014; hoản 4 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP
17
Thứ tư, về giá trị pháp lý, theo quy định hiện hành thì hợp đồng, giao
dịch, bản dịch được công chứng có giá trị chứng minh về cả hình thức và nội
dung. òn văn ản, hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá tri chứng
minh về hình thức. Sự khác biệt này phái sinh từ sự khác biệt giữa bản chất và
quá trình thực hiện hai loại thủ tục công chứng và chứng thực như đã phân
tích ở trên.
1.2. Pháp luật về chứng thực ở Việt Nam
1.2.1. Khái niệm
Hiện nay, trong c c văn ản pháp luật (như Bộ Luật dân sự, Luật Đất
đai, Luật Nhà ở…) và c c tài liệu, sách báo pháp lý, thuật ngữ “ph p luật về
chứng thực” được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ
này trong các nghiên cứu chưa được x c định rõ ràng. Về phương diện lý
luận, có thể hiểu Pháp luật về chứng thực là tổng hợp các quy phạm pháp luật
do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của Nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động chứng thực.
Pháp luật về chứng thực có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật về chứng thực là pháp luật về hình thức (pháp luật
về thủ tục) và có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật về nội dung thuộc các
chuyên ngành khác.
Pháp luật về chứng thực là pháp luật về thủ tục, do đ phụ thuộc sâu
sắc vào pháp luật nội dung thuộc c c chuyên ngành kh c như ph p luật về đất
đai, nhà ở... Pháp luật về chứng thực là pháp luật về thủ tục, vì vậy pháp luật
về chứng thực phải
m s t c c quy định mang tính “nội dung” của pháp luật
trình chuyển quyền sở hữu tài sản. Vì vậy, có thể n i trong đời sống dân sự có
ao nhiêu lĩnh vực con người phải tiếp cận tới thì gần như c
ấy nhiêu lĩnh
vực hoạt động chứng thực phải tiếp cận tới.
Việc thực hiện các thủ tục hành chính, đặc biệt việc thực hiện các giao
dịch về dân sự, đất đai, nhà ở … cần tới công cụ không thể thiếu – đ là lòng
tin – là sự xác nhận. Vì vậy, pháp luật chứng thực là pháp luật tạo ra “lòng
tin”. Sự tin tưởng lẫn nhau và không lừa dối, đ là sự cần thiết, điều kiện
kông thể thiếu để tạo lập các giao dịch hoặc giải quyết các thủ tục. Vì vậy,
pháp luật về chứng thực chính là công cụ ph p lý để đảm bảo lòng tin. Có thể
19
n i, đây là một công cụ rất cần thiết và hết sức quan trọng. Công cụ này một
mặt đảm bảo được lòng tin, ngăn ngừa sự lừa dối giữa các bên, mặt khác
phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, góp phần ổn định xã hội. Xã hội
càng phát triển, con người càng có những công cụ hiện đại, khoa học để tạo ra
lòng tin trong thực hiện các giao dịch. Vì vậy, pháp luật về chứng thực cũng
đang từng ước chuyển mình để tạo ra những công cụ hữu ích hơn, thuận tiện
hơn. Những phương tiện hiện đại như chứng thực điện tử, chứng thực chữ ký
điện tử (tuy những hoạt động này hiện nay chưa thuộc đối tượng điều chỉnh
của pháp luật về chứng thực mà chúng ta đang đề cập đến) cũng ắt đầu được
nghiên cứu, khai thác và sử dụng, ngày càng làm phong phú hơn hoạt động
chứng thực nói chung - hoạt động tạo ra lòng tin.
Chính vì những lẽ đ , ph p luật về chứng thực đã trở thành công cụ rất
quan trọng trong việc thực hiện c c văn ản quy phạm pháp luật trong hệ
thống pháp luật nói chung. Vì vậy, yêu cầu đối với công tác xây dựng văn ản
quy phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng thực cũng rất cao, đ là đòi hỏi văn
cửa, ruộng đất. Theo Sắc lệnh này, thẩm quyền thị thực các giấy tờ liên quan
đến chuyển dịch bất động sản, đất đai giao cho Uỷ ban kháng chiến hành
chính các cấp thực hiện. Theo đ , thì trước khi đem trước bạ văn tự các việc
mua
n, cho và đổi nhà cửa, ruộng đất phải Ủy ban kháng chiến hành chính
xã hay thị xã nhận thực chữ ký của c c người mua, bán, cho, nhận đổi và nhận
thực những người
n, cho hay đổi là chủ những nhà cửa, ruộng đất đem
n,
cho hay đổi. Việc nhận thực này không phải trả một khoản tiền nào.
Ngày 29/11/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã ký an hành Dụ số 43
về Quy chế Công chứng. Đây là một văn ản về tổ chức và hoạt động công
chứng mang tính kế thừa c c quy định về công chứng tại miền Nam trước đ
và bị ảnh hưởng rất nhiều công chứng của h p. Sau năm 1954 ở miền Nam,
chính quyền Sài Gòn vẫn duy trì mô hình công chứng của Pháp tại Việt Nam
và tổ chức lại từ 3 Phòng Công chứng cũ của người Pháp thành một Phòng
Công chứng và bổ nhiệm các công chứng viên là người Việt Nam thay các
công chứng viên là người Pháp. Phòng Công chứng này hoạt động cho đến
trước ngày miền Nam được giải phóng (30/4/1975). Phòng Công chứng được
đặt dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Tư ph p của Việt Nam Cộng Hoà.
21
1.2.2.2. Giai đoạn 1975-1986
Trong khi chờ ban hành Bộ luật dân sự và c c văn ản về tổ chức, kiện toàn
hệ thống c c cơ quan hành chính, tư ph p trong đ c luật sư, công chứng, thì
các việc công chứng, thị thực cũng vẫn được giao phân tán cho nhiều cơ quan
khác nhau thực hiện như Uỷ ban nhân dân cấp xã, Uỷ ban nhân dân cấp
huyện, Toà n, công an, cơ quan địa chính, cơ quan nhà đất.