Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại và các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về trọng tài thương mại ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ MAI QUÝ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC THI
CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THỊ MAI QUÝ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC THI
CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM



HĐTT

Hội đồng trọng tài

TANDTC

Tòa án Nhân dân Tối cao

TCTT

Tổ chức trọng tài

TTTM

Trọng tài Thƣơng mại

TTTT

Thỏa thuận trọng tài

TTV

Trọng tài viên


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Giới thiệu khái quát đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............. 1

2.1.1.Các quy định về thẩm quyền của Trọng tài Thương mại ................................ 29
2.1.2.Quy định về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại .... 31
2.1.3.Các quy định về thỏa thuận trọng tài ............................................................... 35
2.1.4. Các quy định về tổ chức và hoạt động của trọng tài vụ việc và của các trung
tâm trọng tài ............................................................................................................ 39
2.1.5. Các quy định về phán quyết của trọng tài thương mại................................... 42
2.1.6.Các quy định về sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án và Tòa án đối với hoạt động
trọng tài thương mại .................................................................................................................. 42
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam ..................46
2.2.1. Những thuận lợi trong thực tiễn thi hành pháp luật về trọng tài thương mại
ở Việt Nam ............................................................................................................... 47
2.2.2. Những hạn chế trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật của Luật
Trọng tài thương mại (2010) tại Việt Nam. ............................................................... 51
2.2.3.Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài ở Việt Nam
hiện nay ........................................................................................................................ 65

CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM ......................................................................................................................72
3.1.Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp
thƣơng mại bằng trọng tài tại Việt Nam ............................................................... 72
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam .... 73
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn Trọng tài viên và điều kiện công
nhận Trọng tài viên ..................................................................................................... 73
3.2.2. Bổ sung quy định về nội dung thỏa thuận trọng tài trong Luật Trọng tài
Thương mại (2010) ...................................................................................................... 74
3.2.3. Bổ sung một số quy định liên quan đến tiến hành tố tụng trọng tài trong Luật
Trọng tài Thương mại (2010) ..................................................................................... 74
3.2.4. Sửa đổi các quy định liên quan đến phán quyết trọng tài .............................. 74


thƣơng nhân thƣờng muốn tìm đến Trọng tài để giải quyết tranh chấp giữa họ trong
hoạt động kinh doanh. Tính ƣu việt của Trọng tài so với Tòa án là: thủ tục trọng tài
đơn giản, nhanh chóng; các bên tranh chấp có quyền lựa chọn đƣợc trọng tài viên
giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc về vấn đề đang tranh chấp, để giải quyết
tranh chấp một cách nhanh chóng, chính xác. Nguyên tắc trọng tài là giải quyết tranh
chấp không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ bí mật kinh doanh, giữ đƣợc uy
tín của mình trên thƣơng trƣờng. Trọng tài không đại diện cho quyền lực tƣ pháp của
Nhà nƣớc nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nƣớc ngoài có giá trị
chung thẩm. Đây là lí do khiến hiện nay càng có nhiều các tổ chức, cá nhân kinh
doanh thƣơng mại lựa chọn phƣơng thức trọng tài khi có tranh chấp phát sinh.
Theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật về trọng tài thƣơng mại
tại Việt Nam đã có những bƣớc tiến trong việc xây dựng một khung pháp lý về hoạt
động trọng tài phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, theo kịp các quốc gia phát triển về
lĩnh vực này trên thế giới. Có thể thấy đến nay, Việt Nam đã có một khung pháp lý về
lĩnh vực trọng tài khá hoàn chỉnh. Cụ thể là ngày 25/02/2003 Ủy ban thƣờng vụ Quốc
hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thƣơng mại. Năm 1995, Việt Nam cũng đã tham
gia Công ƣớc New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài
nƣớc ngoài. Sau một thời gian áp dụng, Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại (2003) đã bộc
lộ những hạn chế và bất cập cho các doanh nghiệp khi sử dụng phƣơng thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trƣớc thực trạng đó, trên cơ sở kế thừa những điểm
tiến bộ và khắc phục những điểm hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại (2003),


2
đồng thời vận dụng những bài học kinh nghiệm từ pháp luật trọng tài thƣơng mại trên
trƣờng quốc tế, Luật Trọng tài Thƣơng mại năm 2010 đã đƣợc ban hành với 13
Chƣơng, 82 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Đây là một bƣớc tiến rõ
rệt trong tiến trình hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về Trọng tài thƣơng mại.
Mặc dù phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ƣu việt,
nhƣng do nhận thức và nhiều nguyên nhân, cho đến nay, trọng tài vẫn chƣa trở thành

số 6 năm 2007.
Ngoài ra, có rất nhiều tác giả đã chọn đề tài này làm đề tài viết luận án tiến sỹ,
luận văn thạc sỹ, nhƣ: năm 2012, Dƣơng Quỳnh Hoa đã bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật
học với đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với
các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay của nước ta” tại Học viện Khoa
học xã hội; năm 2015, Nguyễn Mạnh Linh đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ Luật học với đề
tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - Thực tiễn hoạt động của các
Trung tâm Trọng tài Thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội” tại Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội; năm 2013, Nguyễn Thị Hiền đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ luật học với đề
tài “Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại” tại Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội. Năm 2011, TS. Đỗ Văn Đại và TS. Trần Hoàng Hải đã cho phát
hành cuốn sách “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”, Nxb Chính trị Quốc
gia. Các quy tắc về tố tụng trọng tài của ICC, UNCITRAL cũng đƣợc phổ biến ngày
càng rộng rãi …Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác cũng
liên quan ít nhiều đến đề tài mà tác giả luận văn đã lựa chọn. Những công trình nghiên
cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích và quý báu đối với tác giả luận văn trong
quá trình nghiên cứu đề tài: “Thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại và các
giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam”.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật trọng tài thƣơng mại và thực tiễn áp dụng
pháp luật về trọng tài thƣơng mại vẫn còn chƣa đƣợc các học giả nghiên cứu một cách
đầy đủ và toàn diện. Có thể thấy hầu hết các công trình nghiên cứu về trọng tài
thƣơng mại nói chung, trong đó, việc phân tích về các quy định về trọng tài là một
trong những nội dung mà các công trình đề cập.
Có một số bài báo đã đƣợc công bố trên các tạp chí chuyên ngành Luật, nhƣ: Bài
“Về hình thức thỏa thuận trọng tài” của Trần Hoàng Hải, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp
luật, số 4/2011; Bài “Hoàn thiện Luật Trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế hiện nay” của Th.S Nguyễn Thị Diễm Anh, Khoa Luật Trƣờng Đại học
Công đoàn, Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị tháng 12/2014; Bài “Những điểm tương
đồng giữa pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam và các nước trên thế giới” của
TS. Nguyễn Đình Thơ trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9 (174)-2006… Tuy vậy,

của Việt Nam, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đề đạt đƣợc mục đích trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản
sau đây:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về trọng tài thƣơng mại và pháp luật
về Trọng tài thƣơng mại;


5
- Đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về trọng tài thƣơng mại cũng nhƣ thực
tiễn áp dụng các quy định về Trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam
- Thông qua việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy
định về trọng tài thƣơng mại, đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp
luật về trọng tài thƣơng mại; đồng thời nêu ra các giải pháp khắc phục những nhƣợc
điểm, bất cập trong pháp luật về trọng tài thƣơng mại, chủ động xây dựng những thỏa
thuận trọng tài có tính khả thi cao. Thông qua đó góp phần đƣa trọng tài đến gần hơn
với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian sắp tới.
- Nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thƣơng
mại ở nƣớc ta, tìm ra những vƣớng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp
của các Trung tâm này trong thời gian qua;
- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về Trọng tài
thƣơng mại làm cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này;
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Qua quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam cũng nhƣ pháp luật quốc tế về trọng
tài thƣơng mại, luận văn góp phần làm rõ thêm, làm phong phú thêm một số nội dung
của pháp luật về trọng tài thƣơng mại nhƣ sau:
- Tác giả luận văn đã trình bày một cách khoa học và có hệ thống những vấn đề
lý luận cơ bản về các quy định của pháp luật trọng tài hiện hành: khái niệm, bản chất,
đặc điểm, hệ thống văn bản pháp luật về trọng tài, sự hình thành và phát triển của
pháp luật về trọng tài, pháp luật trọng tài trên thế giới và bài học cho Việt Nam; các

Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật về trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam


7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI

1.1.

Khái niệm, bản chất, đặc điểm của trọng tài thƣơng mại

1.1.1. Định nghĩa trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài thương mại
Trọng tài (Arbitration) và cụ thể hơn là trọng tài thƣơng mại (Commercial
Arbitration) là phƣơng thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, có thể đƣợc
sử dụng thay thế cho phƣơng thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Tòa án.
Tranh chấp ở đây là các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải
quyết bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2, Luật Trọng tài Thƣơng mại (2010).
Trong khoa học pháp lý, trọng tài đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều bình diện khác
nhau và do đó cũng có nhiều định nghĩa về trọng tài:
Theo HĐTT Mỹ (AAA): “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng
cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ
đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”.
Tại Việt Nam, theo quy định của khoản 1, Điều 2, Pháp lệnh Trọng tài Thƣơng
mại năm 2003: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ
tục do Pháp lệnh này quy định”. Còn theo quy định của khoản 1, Điều 3, Luật Trọng tài
Thƣơng mại năm 2010, thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp
do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.
Theo cuốn Đại từ điển Kinh tế Thị trƣờng, thì: “Trọng tài là một phương thức giải

Trọng tài là phƣơng thức giải quyết tranh chấp kết hợp đƣợc nhiều ƣu điểm của
các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác, thí dụ nhƣ: Đảm bảo sự tự do thỏa thuận
ý chí, giữ gìn bí mật kinh doanh và uy tín cho các bên, duy trì đƣợc quan hệ giữa các
bên sau khi giải quyết tranh chấp nhƣ phƣơng thức thƣơng lƣợng, hòa giải; đảm bảo
sự chặt chẽ về thủ tục tố tụng và tính tài phán nhƣ hình thức giải quyết tranh chấp tại
Tòa án. Qua việc phân tích những khái niệm trên, có thể thấy TTTM có những đặc
điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, trọng tài có tính phi nhà nước. Trọng tài là một loại hình tổ chức phi
chính phủ (tổ chức xã hội-nghề nghiệp), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng
tài. Đây là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thƣơng mại và đƣợc pháp luật các nƣớc cũng nhƣ pháp luật Việt Nam


9
quy định. Trọng tài là cơ quan tài phán bởi lẽ tiến hành thủ tục trọng tài là hoạt động
thƣờng xuyên và chủ yếu của các Trung tâm Trọng tài. Đó là các Trung tâm có tƣ
cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng với cơ cấu tổ chức rõ ràng, chặt chẽ.
Cũng nhƣ Tòa án, sau khi tiến hành giải quyết tranh chấp, HĐTT sẽ ban hành phán
quyết trọng tài. Phán quyết này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên và đƣợc đảm bảo
cƣỡng chế thi hành dƣới sự hỗ trợ của Cơ quan Thi hành án (khi có yêu cầu).
Thứ hai, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu
tố thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể
có phán quyết trọng tài thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận. Bởi vậy, về nguyên tắc,
thẩm quyền của Trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật; các đƣơng sự có thể lựa
chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới
để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, một khi đã đƣợc thỏa thuận thì phán quyết của
trọng tài có tính chất cƣỡng chế và bắt buộc các bên phải thi hành.
Thứ ba, đương sự được tự định đoạt. Phƣơng thức trọng tài bảo đảm quyền tự định
đoạt của các đƣơng sự cao hơn so với phƣơng thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Biểu
hiện cơ bản là các đƣơng sự trong tố tụng trọng tài có quyền lựa chọn TTV, địa điểm giải

chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đƣơng sự mà nó còn khiến các bên không thể
chống án hay kháng cáo. Xét xử tại Trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán
quyết xong, HĐTT hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ƣu
điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tƣ, thƣơng mại. Chính những ƣu
điểm đó bảo đảm rằng những tranh chấp trong hoạt động đầu tƣ, kinh doanh sẽ đƣợc
giải quyết nhanh gọn, ít tốn kém, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, khi họ
quyết định đầu tƣ , kinh doanh tại Việt Nam.
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp không công khai. Trọng
tài là một tiến trình GQTC có tính kín đáo, không công khai. Hầu hết pháp luật về
trọng tài của các nƣớc đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín, nếu các bên không
thỏa thuận khác. Tính không công khai thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính
các bên đƣợc giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thƣơng mại. Điều đó có
ý nghĩa lớn trong thực tiễn cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần.
Đây là ƣu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh
chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trƣớc Tòa án (hoặc công chúng), điều mà
các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục và sử dụng được
kinh nghiệm của các chuyên gia. Các bên đƣơng sự đƣợc tự do lựa chọn TTV. Cách


11
thức lựa chọn Trọng tài và HĐTT phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình
tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì HĐTT xét xử vụ kiện đã đƣợc các bên
lựa chọn, hoặc đƣợc chỉ định để giải quyết vụ kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét
xử ở Tòa án, có khả năng thẩm phán đƣợc chỉ định giải quyết vụ việc không có trình
độ chuyên môn cao trong nhiều lĩnh vực, nhƣ: Dầu khí, tài chính, xây dựng, đầu tƣ,
bảo hiểm ... Trong khi đó, trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên
hoàn toàn có thể lựa chọn TTV có trình độ chuyên môn phù hợp với đối tƣợng tranh
chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong GQTC. TTV - ngƣời
chủ trì việc phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội

định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tƣởng tốt hơn trong quan hệ
làm ăn trong tƣơng lai.
Thứ bảy, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi
chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án. Trong quá trình
GQTC, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại thì
có quyền làm đơn yêu cầu của Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm bảo
toàn chứng cứ trong trƣờng hợp chứng cứ bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy; kê
biên tài sản tranh chấp, ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh
chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi
gửi giữ; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng. Ngoài ra, việc đánh giá và sử dụng nguồn
chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều
kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Tòa án áp dụng
các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố
tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết đƣợc nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện
trên các chứng cứ “pháp lý”.
1.3. Hệ thống văn bản pháp luật về trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam
Cũng giống nhƣ các quan hệ xã hội khác, các quan hệ phát sinh trong quá trình
giải quyết tranh chấp bằng phƣơng thức trọng tài đƣợc pháp luật quy định và điều
chỉnh. Bằng công cụ pháp luật, Nhà nƣớc đã tạo cơ sở pháp lý để TTTM đƣợc hình
thành và hoạt động trong thực tiễn. Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật quy định
về TTTM ở Việt Nam ngày càng đƣợc hoàn thiện và có tác dụng rất lớn trong việc
thúc đẩy sự phát triển của hoạt động trọng tài. Ngoài Luật TTTM (2010), các văn bản
pháp luật khác cũng đƣợc quy định cụ thể để hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động trọng tài,
thí dụ nhƣ Bộ luật TTDS (2015), BLDS (2015), Luật Thi hành án dân sự,…


13
Ngoài ra còn có Nghị định số 63/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
28/7/2011 hƣớng dẫn thi hành Luật TTTM, quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành
một số điều của Luật TTTM về quản lý nhà nƣớc về trọng tài, thủ tục đăng ký hoạt

14
Trọng tài thƣơng mại đƣợc thể hiện qua ba giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn sơ khai
(trƣớc năm 2003); Giai đoạn chuyển tiếp (năm 2003 – 2010) và Giai đoạn hội nhập
(từ năm 2010 đến nay).
1.4.1. Giai đoạn sơ khai (trước năm 2003)
Phƣơng thức tố tụng trọng tài đã hình thành và phát triển ở Việt Nam từ lâu,
song chỉ trong thời gian gần đây, Trọng tài Thƣơng mại theo đúng các chuẩn mực trên
thế giới mới đƣợc công nhận rộng rãi và luật hóa.
 Giai đoạn trƣớc những năm 60 của thế kỷ XX: Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX ở nƣớc ta đã có các Tòa án Thƣơng mại và các quy tắc trọng tài trong Luật Tố
tụng Dân sự. Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, trọng tài chƣa đƣợc
biết đến và sử dụng một cách phổ biến.
 Giai đoạn từ những năm 60 của thế kỷ XX đến trƣớc khi ban hành Pháp lệnh
TTTM (2003): Ở Việt Nam thời gian này tồn tại hai loại hình trọng tài, một là Trọng
tài Kinh tế Nhà nƣớc và hai là trọng tài phi nhà nƣớc.
- Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc:
Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc là mô hình trọng tài do Nhà nƣớc thành lập ra, có
chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh
nghiệp nhà nƣớc. Mô hình này đƣợc xác lập bằng Nghị định số 20/TTg ngày
14/4/1960, trƣớc khi đƣợc nâng cấp tại Pháp lệnh Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc năm
1990. Theo đó, Trọng tài đƣợc tổ chức ở ba cấp, đó là: Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc,
Trọng tài Kinh tế Tỉnh và Trọng tài Kinh tế huyện. Nhƣ vậy, thực chất, Trọng tài
Kinh tế Nhà nƣớc là cơ quan của Nhà nƣớc, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế,
vừa thực hiện chức năng xét xử nhằm giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ
chức kinh tế nhà nƣớc, chƣa thể hiện đƣợc vai trò trọng tài.
Trong khi đó Toà án Nhân dân thời kỳ này không có thẩm quyền giải quyết các
loại tranh chấp kinh tế, mà chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự giữa
các cá nhân với nhau, chủ yếu là các vấn đề hôn nhân và gia đình hoặc tranh chấp liên
quan đến hàng hoá có mục đích để sử dụng cá nhân và tiêu dùng. Mô hình Trọng tài
Kinh tế tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống Tòa Kinh tế theo Luật Sửa

Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc, thành lập các Trung tâm trọng tài thƣơng mại độc lập năm
1993, 1994, và tham gia Công ƣớc New York đã đánh dấu một bƣớc ngoặt quan trọng
khi Nhà nƣớc trả TTTM về đúng bản chất và chức năng của nó, đánh dấu sự cải thiện
đáng kể môi trƣờng pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài.


16
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đáng chú ý nêu trên, trong giai đoạn sơ khai
này, ở Việt Nam vẫn không có một đạo luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ
thống trọng tài trong nƣớc và trọng tài quốc tế đƣợc ban hành. Thêm vào đó, quyết
định GQTC của Trọng tài không đƣợc bảo đảm thi hành. Vì thế, mô hình TTTM chƣa
thực sự đạt đƣợc những thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực
của TTTM hiện đại.
1.4.2. Giai đoạn kể từ khi ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (2003)
đến trước khi ban hành Luật Trọng tài Thương mại (2010)
Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thƣơng
mại thay cho hoạt động của các Trọng tài Kinh tế, ngày 25/02/2003, Uỷ ban Thƣờng
vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2003. Sự ra đời của Pháp lệnh là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển
của pháp luật về TTTM của Việt Nam. Đó là nền tảng pháp lý cho TTTM của Việt
Nam tiếp cận, hoà nhập với trọng tài của các nƣớc phát triển. Về cơ bản, Pháp lệnh
phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu
của trọng tài, nhƣ quy định về hiệu lực của TTTT, điều kiện trở thành TTV, quy định
về trọng tài vụ việc, xác định rõ những nguyên tắc quan trọng nhất của tố tụng trọng
tài đó là nguyên tắc tôn trọng sự tự định đoạt và bình đẳng của các bên tranh chấp; mở
rộng thẩm quyền chọn TTV, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng một
loạt các quy định cụ thể, nhƣ: hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định TTV, giải
quyết khiếu nại về thẩm quyền của HĐTT, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải
quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lƣu trữ hồ sơ trọng tài v.v…
Tuy nhiên, qua 6 năm áp dụng cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới nhƣ

hiệu lực cùng ngày. Luật TTTM (2010) đã thể hiện sự đột phá của pháp luật trọng tài
thƣơng mại Việt Nam, nhƣ: Đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm
quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thƣơng mại; Giới hạn các tình huống làm
thỏa thuận trọng tài vô hiệu đồng thời quy định hƣớng giải quyết khi TTTT không rõ
ràng; Lần đầu tiên có điều khoản bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong việc lựa chọn phƣơng
thức giải quyết tranh chấp; Cho phép TTV là ngƣời nƣớc ngoài cũng nhƣ nội luật hoá
các cam kết quốc tế của Việt Nam về dịch vụ trọng tài. Ngoài ra, đạo luật này cũng
xác định rõ mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong quá trình giải quyết tranh
chấp, mở rộng thẩm quyền của HĐTT và tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn
trong tố tụng. Từ đó, Luật TTTM (2010) bảo đảm sự tƣơng thích giữa các văn bản


18
pháp luật hiện hành, nâng cao tính khả thi trong thực tế và tiến đến gần hơn các tiêu
chuẩn quốc tế. Cụ thể, một số điểm mới cơ bản của Luật TTTM (2010) bao gồm:
1.4.3.1. Phạm vi thẩm quyền
Pháp lệnh TTTM (2003) quy định thẩm quyền trọng tài đối với các vụ việc phát
sinh từ hoạt động thƣơng mại theo phƣơng pháp liệt kê nhóm vụ việc. Do tính chất
quá cụ thể nhƣ vậy nên trong quá trình thi hành Pháp lệnh nảy sinh vấn đề là những
tranh chấp phát sinh từ hoạt động không đƣợc liệt kê trong Pháp lệnh thì không thể
lựa chọn giải quyết bằng thủ tục trọng tài, mặc dù hoạt động đó vẫn có tính chất
thƣơng mại. Mặt khác, khái niệm “hoạt động thương mại” trong Pháp lệnh cũng chƣa
hoàn toàn đồng nhất với quy định của Bộ luật TTDS và Luật Thƣơng mại. Không
những thế, quy định của Pháp lệnh còn hạn chế việc áp dụng thủ tục trọng tài với
những tranh chấp mà theo các luật chuyên ngành khác, nhƣ Luật Đầu tƣ, Bộ luật
Hàng hải v.v. có thể áp dụng thủ tục trọng tài.
Khắc phục hạn chế này, Điều 2 của Luật TTTM (2010) quy định Trọng tài có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt
động thƣơng mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thƣơng mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định đƣợc giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status