BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁC BIỆN PHÁP CẢI CÁCH QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
LÊ THỊ THU HÀ
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁC BIỆN PHÁP CẢI CÁCH QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM
Ngành: Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201
Họ và tên học viên: Lê Thị Thu Hà
Người hướng dẫn: PGS. TS. Mai Thu Hiền
Hà Nội - 2018
Lê Thị Thu Hà
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................ ii
MỤC LỤC ........................................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................................... vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ................................................................................. vii
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI CHÍNH CÔNG VÀ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG ....................................................................................... 7
1.1. Lý luận cơ bản về tài chính công ............................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm, chủ thể và đặc điểm tài chính công ............................................ 7
1.1.2. Các bộ phận cấu thành tài chính công ........................................................ 10
1.1.3. Nguồn hình thành thu nhập của tài chính công ........................................ 10
1.1.4. Chức năng của tài chính công ...................................................................... 11
1.1.5. Phạm vi hoạt động của tài chính công ......................................................... 14
1.1.6. Phân loại tài chính công ................................................................................ 15
1.1.7. Các nguyên tắc tài chính công ...................................................................... 17
1.1.8. Vai trò của tài chính công.............................................................................. 19
1.2. Quản lý tài chính công ............................................................................................... 22
1.2.1. Khái niệm quản lý tài chính công ................................................................. 22
1.2.2. Mục tiêu quản lý tài chính công ................................................................... 22
1.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý tài chính công ....................................................... 23
1.2.4. Phương pháp quản lý tài chính công ........................................................... 27
1.2.5. Công cụ quản lý tài chính công .................................................................... 27
3.3.1. Cải cách hệ thống thuế .................................................................................. 95
3.3.2. Cải cách quản lý NSNN ............................................................................... 103
3.3.3. Cải cách quản lý nợ công ............................................................................ 109
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 115
v
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thuế suất một số sắc thuế chủ yếu qua các năm .................................................. 39
Bảng 2: Thuế suất một số sắc thuế chủ yếu của các nước trên thế giới ............................ 43
Bảng 3: Tình hình thu ngân sách qua các năm ................................................................... 58
Bảng 4: Chi ngân sách nhà nước qua các năm ................................................................... 61
Bảng 5: Thâm hụt ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 -2017 .......................................... 66
Bảng 6: Gánh nặng nợ công Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 ......................................... 72
Bảng 7: Nợ công trên đầu người của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực ........ 72
Bảng 8: Mức ngưỡng nợ trong nước theo WB .................................................................. 81
Hình 1: Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý thuế hiện hành .................................................... 47
Hình 2: Hiện trạng tổng thời gian DN đang thực hiện nghĩa vụ thuế ............................... 52
Hình 3: Cơ cấu thu NSNN 6 tháng đầu năm 2015 - 2017 ........................... .................. .. 60
Hình 4: Tỷ trọng chi đầu tư phát triển giai đoạn 2011 - 2017 ........................................... 62
Hình 5: Tỷ lệ chi đầu tư cho KH&CN của Việt Nam ........................................................ 63
Hình 6: Cơ cấu nợ công ở Việt Nam năm 2017 ................................................................. 73
Hình 7: ICOR của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 ...................................... 75
Hình 8: Tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP giai đoạn 2011 - 2017 ...................................... 77
Hình 9: Tỷ lệ nợ công của một số nước cao nhất trên thế giới .......................................... 84
vi
Ngân sách Nhà nước
TNDN
Thu nhập DN
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
TTHC
Thủ tục hành chính
UBTVQH
WB
Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ngân hàng thế giới
vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và
Nhà nước ta coi cải cách quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan
trọng hàng đầu. Hiện nay Nhà nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng tái cơ cấu kinh tế được Nhà nước
thực hiện theo hướng “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo lập hệ thống đòn bẩy
thống thuế và quản lý thuế, quản lý ngân sách nhà nước, nợ công và quản lý nợ công và
những biện pháp cải cách quản lý tài chính công đã được thực hiện. Từ đó đưa ra những
nhận xét đánh giá về những kết quả đã đạt được và những tồn tại hạn chế, đồng thời tìm
hiểu nguyên nhân do đâu dẫn đến những kết quả đó.
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp cải cách quản lý tài chính công ở Việt
Nam trong thời gian tới
Căn cứ vào những thực trạng đã phân tích ở chương 2 cùng với những nhận xét về
tồn tại, hạn chế của quá trình quản lý tài chính công ở Việt Nam vừa qua, luận văn đề
xuất một số biện pháp nhằm tiếp tục cải cách quản lý tài chính công ở Việt Nam thời
gian tới, bao gồm:
Mục tiêu và biện pháp cải cách hệ thống thuế.
Mục tiêu và biện pháp cải cách quản lý ngân sách nhà nước.
Mục tiêu và biện pháp cải cách quản lý nợ công.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài chính công là yếu tố then chốt gắn liền với các hoạt động của Nhà nước. Nó
vừa là nguồn lực để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình, vừa là công cụ để
thực hiện các dịch vụ công, chi phối, điều chỉnh các mặt hoạt động của đất nước. Trong
tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và Nhà nước ta
coi cải cách quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu.
Hiện nay Nhà nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, định hướng tái cơ cấu kinh tế được Nhà nước thực hiện theo hướng
“Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo lập hệ thống đòn bẩy khuyến khích hợp lý,
ổn định và dài hạn. Từng bước củng cố nội lực của nền kinh tế, chủ động hội nhập
quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Tiếp tục đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước. Nâng cao năng
tính quốc tế, đó là: “Public Finance” của tác giả Harvey S. Rosen. (1999). Theo
Harvey, tài chính công là một lĩnh vực của kinh tế học phân tích việc đánh thuế và các
chính sách chi tiêu của Chính phủ. Theo ông tài chính công đồng nghĩa với kinh tế học
công cộng và kinh tế học khu vực công, thuật ngữ tài chính công tập trung vào các hoạt
động đánh thuế và chi tiêu của Chính phủ và ảnh hưởng của nó đến sự phân bổ các
nguồn lực và phân phối thu nhập, vấn đề then chốt của các hoạt động này gắn với việc
sử dụng các nguồn lực thực tế có nghĩa là nó tập trung vào các chức năng kinh tế vi mô
của Chính phủ, cách thức mà Chính phủ tác động đến việc phân bổ các nguồn lực và
phân phối thu nhập, do đó tài chính công còn được gọi là kinh tế học về khu vực công
hay kinh tế học công cộng.
Cuốn sách “Public Finance and Public Policy” của tác giả Jonathan Gruber.
(2005), là cuốn sách đầu tiên phản ánh chính sách công được sáng tạo, thực hiện và
nghiên cứu như thế nào. Nó đã tích hợp các nghiên cứu thực tế trên thế giới bằng cách
tăng cường tiếp cận các nền tài chính trên thế giới.
Thêm một cuốn nữa đó là “Public Finance And Public Choice” của hai tác giả
James M. Buchanan và Richard A. Musgrave. (1999). Hai học giả hàng đầu về tài
chính công đã đưa ra những lập luận về những quan điểm khác nhau về vai trò của
Chính phủ và các chức năng tài chính của họ. James M. Buchanan người có ảnh hưởng
trong việc phát triển chương trình nghiên cứu trong sự lựa chọn công, tập trung vào sự
không hoàn hảo của quá trình chính trị và nhấn mạnh sự cần thiết phải có các quy tắc
để kiềm chế can thiệp của Chính phủ. Richard A. Musgrave, người sáng lập tài chính
3
công hiện đại, chỉ ra những thất bại của thị trường và bất bình đẳng trong việc kêu gọi
sửa đổi chính sách công. Họ áp dụng các triết lý kinh tế và chính trị khác nhau của họ
cho nhiều vấn đề tài chính Chính phủ.
Các công trình trên đã làm rõ chủ thế của các quan hệ thuộc phạm vi của tài chính
công và Chính phủ, với công cụ mà nhà nước phải sử dụng là tài chính công, quản lý
định mức chi tiêu; Tăng cường tính chủ động về tài chính của các đơn vị hành chính sự
nghiệp; Mở rộng và hoàn thiện kiểm toán ngân sách; Tăng cường sử dụng ngân sách có
hiệu quả…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát được thực trạng tài chính công
cũng như vấn đề quản lý tài chính công trên thế giới nói chung cũng như của Việt Nam
nói riêng, các công trình trên đã đưa ra những nhận định, đánh giá, và giải pháp nhưng
chủ yếu mang tính khuyến nghị và chưa bao quát, chỉ dựa trên những đặc điểm của tài
chính công, Tuy nhiên chưa lột tả được bản chất của tài chính công để làm căn cứ cho
việc tiếp tục nghiên cứu, triển khai, đánh giá kết quả quản lý tài chính công trong thực
tiễn, bên cạnh đó còn chưa kể đến những diễn biến thay đổi của thực tiễn. Giáo trình
quản lý tài chính công cũng mới đề cập đến hệ thống nguyên tắc, đặc điểm và nội dung
quản lý tài chính công nói chung chứ chưa chi tiết từng nội dung cụ thể, đồng thời
những công trình nghiên cứu trên đưa ra những luận điểm chỉ phù hợp với Việt Nam
trong giai đoạn trước cho đến nay đã có nhiều bất cập và không còn phù hợp với sự
phát triển của đất nước. Trong khi đó thời gian qua, nền tài chính công phải đối mặt với
một số thách thức, rủi ro như: Quy mô chi tiêu công tăng nhanh, bội chi ngân sách cao
dẫn đến tình trạng mất cân bằng ngân sách, mặc dù nợ công vẫn nằm trong ngưỡng cho
phép nhưng hiện đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, cơ cấu chi ngân sách còn nhiều bất
cập, hiệu quả đầu tư của khu vực công kém hơn khu vực tư... Do đó đề tài đề xuất một
số giải pháp như: Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến tài chính công
hiện đại, khoa học và phù hợp với thông lệ quốc tế; xây dựng công tác kế hoạch hóa
trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước; xây dựng hệ thống chính sách thu - chi
NSNN sao cho kích thích, mở rộng khai thác nguồn thu đồng thời đảm bảo nguồn chi
được thực hiện một cách hiệu quả, tiết kiệm; đề xuất biện pháp tổ chức hệ thống bộ
máy quản lý tài chính công chặt chẽ, gọn gàng, năng lực quản lý tiên tiến…để tiếp tục
cải cách quản lý tài chính công nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
5
6
Phương pháp nghiên cứu thông qua thu thập dữ liệu: Dữ liệu được thu thập từ
các báo cáo, từ các bài phân tích và đánh giá trên các phương tiện truyền thông từ đó
rút ra được những bài học, kế thừa những thành tựu cũng như cải cách, khắc phục
những hạn chế còn tồn tại.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái khái
quát, tổng thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những yếu tố cấu thành
giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố,
từng bộ phận nhằm giúp hiểu đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc, rõ nét hơn.
Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra cái chung, thông qua hiện
tượng để tìm ra bản chất.
Kế tiếp của bước phân tích đó là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược lại với
phân tích nhưng nó hỗ trợ cho quá tình phân tích để tìm ra cái chung, với ý nghĩa bao
quát.
Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp để thực hiện phân tích các nội dung
sau:
- Phân tích các nguồn tài liệu từ tạp chí, báo cáo thống kê, tác phẩm khoa học…
- Phân tích chức năng, vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận cấu thành nên hệ thống
tài chính công và các biện pháp cải cách quản lý tài chính công ở Việt Nam thời gian
vừa qua.
Từ kết quả phân tích các nội dung trên, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp
đưa ra những nhận xét, đánh giá về hệ thống tài chính công cũng như quản lý tài chính
công ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp cho thời gian tới.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tài chính công và quản lý tài chính công.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam thời gian vừa qua.
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp cải cách quản lý tài chính công ở Việt Nam
trong thời gian tới.
Xét trên giác độ chủ thể của tài chính, có thể thấy khái niệm tài chính công được
đặc trưng: các chủ thể của tài chính công và giữa các pháp nhân là chủ thể của tài chính
công phải bảo đảm theo chuẩn mực của kế toán quốc gia.
8
Xét theo tính pháp lý trong quan hệ tài chính công:
Xét từ giác độ luật pháp, tài chính công hoạt động dựa trên các luật mà Nhà nước
quy định và chịu sự chi phối của các luật công pháp và tư pháp nằm trong các lĩnh vực
có liên quan đến tài chính công. Do đó việc tuân thủ luật pháp và các hoạt động của tài
chính công diễn ra trong khuôn khổ hành lang pháp lý mà luật pháp đã quy định là yêu
cầu cần thiết.
Xét theo tính chất kinh tế:
Tài chính công tác động tới các hoạt động không chỉ của kinh tế vĩ mô mà cả
kinh tế vi mô thông qua thuế và các khoản chi tiêu công nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Xét theo tính chất về tài chính và kế toán:
Tài chính công phải thực hiện việc quản lý, giám sát các khoản thu, chi của Nhà
nước; phải thực hiện các chương trình, các mục tiêu cụ thể; kế hoạch hóa thu, chi và
phải có hệ thống tài khoản đáp ứng cho yêu cầu quản lý. Tài chính công là công cụ
quan trọng cung cấp thông tin cho các chủ thể lập pháp và quản lý.
Xét theo tính chất về hành chính và tổ chức:
Tài chính công duy trì sự hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị
cung ứng dịch vụ công cộng (Ở Việt Nam hiện nay là các đơn vị sự nghiệp công lập).
Xét theo biểu hiện bên ngoài của tài chính công:
Là các hoạt động thu, chi của Nhà nước, của các chủ thể công quyền thể hiện
dưới hình thức tiền tệ và gắn với các quỹ tiền tệ. Trong nền kinh tế quốc dân tồn tại các
quỹ tiền tệ khác nhau, các quỹ này được hình thành và sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu
hoạt động của các chủ thể trong các lĩnh vực kinh tế xã hội. Các quỹ tiền tệ của Nhà
- Chủ thể thực hiện phân phối nguồn lực tài chính quốc gia.
- Tài chính công phản ánh hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị.
- Tài chính công phản ánh quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của
Nhà nước.
- Tài chính công cung cấp hàng hóa công, dịch vụ công phục vụ cho lợi ích cộng
đồng và xã hội không vì mục đích lợi nhuận.
10
- Tài chính công là công cụ quan trọng cung cấp thông tin cho các chủ thể lập
pháp và quản lý.
1.1.2. Các bộ phận cấu thành tài chính công
Gắn với chủ thể là Nhà nước, các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công có tính đặc thù
là việc tạo lập và sử dụng chúng luôn gắn liền với quyền lực về kinh tế và chính trị của
Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, còn các chức năng của Nhà
nước lại được thực hiện thông qua các bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước theo
một cơ cấu tổ chức thích hợp với từng thời kỳ lịch sử của sự phát triển xã hội.
Từ đó có thể cho rằng, xét về mặt cơ cấu, tài chính công được xem là một hệ
thống bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái
niệm về hệ thống tài chính công như sau:
“Hệ thống tài chính công là tổng thể các hoạt động tài chính gắn liền với việc tạo
lập hoặc sử dụng các quỹ công và cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước nhằm phục vụ
và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận”.
(Trần Văn Giao, 2011)
Tài chính công gồm các bộ phận cấu thành là:
- Ngân sách nhà nước.
- Tín dụng Nhà nước.
- Các quỹ tài chính Nhà nước ngoài NSNN.
- Tài chính các cơ quan Nhà nước.
lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng các nguồn lực đó đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của
chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính công vào đời sống thực
tiễn, con người tổ chức quá trình động viên các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi
phối của các chủ thể công để tạo lập các quỹ công và tổ chức quá trình phân phối, sử
dụng các quỹ tiền tệ đó cho các mục đích đã định, trong đó:
- Các chủ thể công là chủ thể phân bố với tư cách là người có quyền lực chính trị,
hoặc là người có quyền sở hữu, hoặc là người có quyền sử dụng các nguồn tài chính và
các nguồn tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể công chính là đối tượng phân
bổ.
12
- Kết quả trực tiếp của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực qua tài chính
công là các quỹ công được tạo lập, được phân phối và được sử dụng. Đến lượt nó, việc
tạo lập, phân phối và sử dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ tiền tệ đó, tức là sự
phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể
công lại có tác động mạnh mẽ tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính,
thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế - xã hội bằng việc tính toán, sắp xếp
các tỷ lệ cân đối quan trọng trong phân bổ các nguồn tài chính. Một sự phân bổ như thế
sẽ là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển vững chắc và ổn định của nền
kinh tế.
- Chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính công là chức năng được đề cập với
sự quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh kinh tế của sự phân phối. Phân bổ nguồn lực tài
chính qua tài chính công mà Nhà nước là chủ thể phải nhằm đạt tới các mục tiêu của
kinh tế vĩ mô là hiệu quả, ổn định và phát triển. Để đạt những mục tiêu kể trên, phân bổ
nguồn lực tài chính của tài chính công phải chú ý xử lý mối quan hệ giữa khu vực công
cộng và khu vực tư nhân. Những tỷ lệ hợp lý trong phân bổ nguồn lực tài chính sẽ đảm
1.1.4.3. Chức năng điều chỉnh và kiểm soát
Chức năng điều chỉnh và kiểm soát của tài chính công là khả năng khách quan
của tài chính công để có thể thực hiện việc điều chỉnh lại quá trình phân phối các nguồn
lực tài chính và xem xét lại tính đúng đắn, tính hợp lý của các quá trình phân phối đó
trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của tài chính công trước hết là quá trình phân
bổ các nguồn lực thuộc quyền chi phối của các chủ thể công. Nói khác đi, đó là quá
trình tạo lập và sử dụng các quỹ công. Tuy nhiên cần nhận rõ rằng, việc tạo lập, phân
phối và sử dụng các quỹ công lại luôn có mối liên hệ hữu cơ với việc tạo lập, phân phối
và sử dụng các quỹ tiền tệ của mọi chủ thể kinh tế - xã hội khác và được tiến hành trên
cơ sở các chính sách, chế độ do Nhà nước quy định.
Do đó, đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của tài chính công không chỉ là bản
thân quá trình phân phối của tài chính công mà còn là các quá trình phân phối các
nguồn tài chính ở mọi chủ thể kinh tế xã hội theo các yêu cầu đặt ra của các chính sách
thu, chi tài chính. Với đối tượng điều chỉnh và kiểm soát như vậy, có thể nhận thấy
rằng, phạm vi điều chỉnh và kiểm soát của tài chính công là rất rộng rãi, nó bao trùm
mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội trong suốt quá trình diễn ra các hoạt động phân phối các
nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Điều chỉnh và kiểm soát có cùng
đối tượng quản lý và tác động, đó là quá trình phân bổ các nguồn lực tài chính, quá
14
trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau về nội
dung và cách thức quản lý, tác động.
Nội dung của kiểm soát - kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính là:
kiểm tra việc khai thác, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính. Kiểm tra tính cân đối,
tính hợp lý cửa việc phân bổ và kiểm tra tính tiết kiệm, tính hiệu quả của việc sử dụng
chúng. Còn nội dung của điều chỉnh quá trình vận động của các nguồn tài chính là:
điều chỉnh về mặt tổng lượng của nguồn tài chính nhằm đạt tới cân đối về mặt tổng
các cách phân loại khác nhau về hệ thống tài chính công.
1.1.6.1. Căn cứ theo chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý tài chính là Nhà nước. Tài chính chung của Nhà nước gồm các
bộ phận cấu thành như: NSNN, tín dụng Nhà nước, dự trữ Nhà nước. Các bộ phận của
tài chính chung hoạt động gắn liền với chủ thể là Nhà nước, gắn liền với sự hình thành
và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước, NSNN là khâu giữ vị trí quan trọng nhất
trong hoạt động của tài chính công.
Về mặt luật pháp, NSNN có tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của
Nhà nước và khi được Quốc hội thông qua, NSNN được coi là văn bản pháp quy có
hiệu lực thi hành.
Về mặt kế hoạch, NSNN là kế hoạch tài chính quan trọng và cơ bản của Chính
phủ. Về mặt công cụ, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước tác động mạnh mẽ đến
kinh tế vĩ mô.
NSNN được cấu trúc thành hai phần: thu NSNN và chi NSNN. Các khoản thu
chủ yếu của NSNN là thuế. Khoản thu này mang tính cưỡng chế và tạo ra nguồn lực tài
chính với quy mô lớn cho Nhà nước. Các khoản chi chủ yếu của NSNN hướng vào chi
đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi thường xuyên. NSNN phải duy trì sự cân đối nhằm đạt
hiệu quả cao trong hoạt động của tài chính công và sự phát triển bền vững của nền kinh
tế quốc dân. Tín dụng Nhà nước là một hình thức tín dụng được Nhà nước sử dụng để
huy động vốn cho NSNN nhằm giải quyết yêu cầu cân đối NSNN và yêu cầu ĐTPT.
Tín dụng Nhà nước do chủ thể là Nhà nước thực hiện trên hai phương diện: một
mặt, vừa huy động, thu hút các nguồn lực tài chính ở trong và ngoài nước thông qua
việc Nhà nước phát hành các giấy tờ có giá của Nhà nước và vay nợ. Mặt khác, Nhà
nước sử dụng nguồn lực tài chính đã huy động được này để cho vay và đầu tư tái phát
triển kinh tế theo chính sách, theo các chương trình, dự án đã được hoạch định. Các