LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu,
trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực. Các kết luận khoa học trong
luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình nghiên cứu khác. Tôi xin
chịu trách nhiệm hoàn toàn về công trình nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Hải Yến
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS. Vương
Thanh Thúy, người đã tận tính giúp đỡ, chỉ bảo, đôn đốc em trong suốt thời gian
em thực hiện Luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy, cô
giáo của Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy cho chúng em trong
suốt thời gian qua. Đồng thời, em xin được cảm ơn gia đình, người thân, và các
bạn bè đã luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, triển khai và hoàn thành luận văn nhưng
chắc chắn công trình này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy, cô giáo và người đọc để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Học viên
thiệt hại ngoài hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra
23
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1995
23
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
27
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI MẤT NĂNG
LỰC HÀNH VI DÂN SỰ GÂY RA
30
2.1. Quy định về trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người
mất năng lực hành vi dân sự gây ra
30
2.1.1. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất
năng lực hành vi dân sự gây ra
30
2.1.2. Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân
sự gây ra
50
DO NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ GÂY RA
72
3.1. Một số vụ án liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất
năng lực hành vi dân sự gây ra
72
3.2. Những hạn chế của quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra
75
3.3. Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra
KẾT LUẬN
80
85
5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định có
lịch sử phát triển lâu dài trong pháp luật thế giới nói chung cũng như pháp luật của
Việt Nam nói riêng. Đây là một trong những chế định đóng vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể trong xã hội, đồng
thời tạo cơ chế cho việc giải quyết các tranh chấp về bồi thường một cách thuận lợi
và hiệu quả.
dân sự năm 2005 trong Phần Quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, những nội dung
pháp lý khác liên quan đến vấn đề này nằm rải rác trong tất cả các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Việc nghiên cứu một
cách toàn diện những nội dung pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người mất năng lực hành vi dân sự gây ra giúp nhận thức một cách cụ thể những
vấn đề lý luận riêng biệt liên quan đến trường hợp này. Đồng thời, việc nghiên cứu
thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thông qua các bản án cụ thể giúp đánh giá
một cách chân thực hơn tính hợp lý của các quy định pháp luật, qua đó có những
kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này phù hợp với đòi hỏi của thực tế đời
sống xã hội. Từ những lý do trên, việc lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy
định của pháp luật Việt Nam” là hoàn toàn cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận
và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy trước đây đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
chung, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: luận văn thạc sĩ luật học của
Lê Mai Anh “Nhữngvấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong Bộ luật dân sự”; luận văn thạc sĩ luật học của Lê Thị Bích Lan “Một số
vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm và uy tín”; đề tài nghiên cứu khoa học của PGS.TS. Phùng
Trung Tập “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân thân
của cá nhân”. Ngoài ra, còn có thể kể tới rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí
7
chuyên ngành luật về những nội dung liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, có thể kể đến như: bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hợi “Điều
ngoài hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của
pháp luật Việt Nam” là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn
đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với mong muốn nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện vấn đề, qua đó
tìm ra được những điểm hạn chế trong quy định của pháp luật khi áp dụng giải
quyết các tình huống phát sinh trong thực tiễn đời sống, luận văn tập trung nghiên
cứu quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất
năng lực hành vi dân sự gây ra trên cơ sở có sự so sánh, đối chiếu với quy định tại
Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành 01/01/2017). Qua đó có cái nhìn
vấn đề một cách tổng quát về những nội dung cần nghiên cứu, giúp đưa ra những
định hướng hoàn thiện pháp luật một cách cụ thể và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, với thực tế đã ban hành và chưa có hiệu lực của Bộ luật Dân sự
năm 2015, cùng với những bất cập về cả lý luận và thực tiễn đối với vấn đề nghiên
cứu, luận văn tập trung vào phân tích và nêu lên các vấn đề bất cập, gây vướng
mắc trong thực tiễn, từ các quy định của pháp luật hiện hành, trong sự so sánh, đối
chiếu với BLDS mới. Do đó, sau khi BLDS năm 2015 đi vào đời sống, tác giả hy
vọng sẽ có điều kiện tiếp tục nghiên cứu những vấn đề phát sinh mới trong các
công trình nghiên cứu trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời sử dụng và kết hợp một
cách hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích,
phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, suy luận logic, phương pháp so
sánh... nhằm chứng minh các luận điểm đưa ra trong luận văn. Bên cạnh đó, tác giả
còn sử dụng một số vụ án, vụ việc trên thực tế nhằm minh họa cho những nhận
định, đánh giá được đưa ra trong luận văn.
năng lực hành vi dân sự gây ra
10
- Phân tích được một cách hệ thống những quy định pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra, qua đó
thấy được những điểm đặc thù của trách nhiệm này so với trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.
- Trong bối cảnh Bộ luật dân sự năm 2015 đã được ban hành và có hiệu lực
ngày 01/01/2017, luận văn đã đưa ra được những đánh giá nhất định về sự sửa đổi
những quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng
lực hành vi dân sự gây ra
- Đưa ra được các bản án, vụ việc cụ thể về nội dung nghiên cứu, chỉ ra được
những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành, và đề xuất một số định hướng
hoàn thiện vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người mất
năng lực hành vi dân sự gây ra.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 phần:
Phần 1: Lời nói đầu
Phần 2: Phần nội dung, bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra
Chương II: Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra
Chương III: Thực tiễn áp dụng và định hướng hoàn thiện quy định pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự
gây ra
Phần 3: Kết luận
quan của mỗi cá nhân bằng hành vi của chính mình để xác lập, thực hiện những
quyền và nghĩa vụ cụ thể. Mỗi cá nhân lớn lên trong những môi trường sống, được
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong những điều kiện vật chất và tinh thần khác
nhau, do đó những suy nghĩ, mong muốn bên trong (ý chí) và sự nhận thức chủ
quan bên ngoài (lý trí) cũng khác nhau. Khi chủ thể có lý trí để có thể kiểm soát
12
hành vi của mình thì khi đó chủ thể được xem là đã có năng lực hành vi dân sự.
Dưới góc độ khách quan, sự nhận thức này của cá nhân sẽ phát triển ở những mức
độ nhất định căn cứ vào độ tuổi và sự phát triển bình thường về mặt thể chất của
họ. Nói cách khác, khi đạt đến một độ tuổi nhất định (với sự phát triển bình thường
về mặt thể chất và tinh thần), cá nhân sẽ dần hoàn thiện về mặt nhận thức và có thể
làm chủ, kiểm soát được mọi hành vi của mình. Tóm lại, năng lực hành vi dân sự
của mỗi cá nhân khác nhau là khác nhau và việc xác định các mức độ năng lực
hành vi dân sự của cá nhân được căn cứ trên cở sở: độ tuổi và khả năng nhận thức,
làm chủ hành vi của cá nhân đó.
Mất năng lực hành vi dân sự là một tình trạng năng lực hành vi dân sự của
cá nhân, bởi lẽ việc xác định một cá nhân rơi vào tình trạng này không căn cứ trên
cơ sở sự nhận thức tương ứng với độ tuổi của cá nhân đó mà căn cứ trên những
tiêu chí khác. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “mất” được hiểu là “không tồn tại nữa”,
“không còn là của mình, thuộc về mình nữa” [25]. Như vậy, rõ ràng tình trạng mất
năng lực hành vi dân sự đặt ra với những cá nhân đã có năng lực hành vi dân sự,
nhưng vì những nguyên nhân nhất định mà được xác định là không còn khả năng
tự mình xác lập các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự nữa. Nguyên nhân này
liên quan trực tiếp đến sự phát triển về mặt thể chất của cá nhân - cụ thể là khi cá
nhân bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức và
làm chủ hành vi của mình.
Bệnh tâm thần được hiểu là bệnh do rối loạn hoạt động não bộ gây nên
nhất định dẫn đến sự khiếm khuyết về mặt thể chất, tuy nhiên điều đó không có
nghĩa cá nhân đó mất đi hoàn toàn sự nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi
mà mình thực hiện. Như đã phân tích ở trên, kết luận về khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi của cá nhân khi cá nhân mắc phải một số rối loạn về tâm thần
cần có sự tham gia của tổ chức giám định pháp y tâm thần. Trên cơ sở kết luận của
tổ chức này, cùng với đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan (người có
mối quan hệ về nhân thân hoặc tài sản với người bị mắc bệnh), Tòa án có thẩm
quyền sẽ ra quyết định tuyên bố cá nhân đó rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi
dân sự. Khi đó, cá nhân không còn tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ
pháp luật nói chung, cũng như quan hệ pháp luật dân sự nói riêng.
14
Tóm lại, mất năng lực hành vi dân sự là một tình trạng năng lực hành vi dân
sự của cá nhân. Các điều kiện để xác định một cá nhân rơi vào tình trạng này bao
gồm: (i) cá nhân mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến mất khả năng
nhận thức và làm chủ hành vi của mình; (ii) có kết luận của tổ chức giám định
pháp y tâm thần về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân đó; (iii)
có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan về việc tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự đối với cá nhân; (iv) có quyết định có hiệu lực pháp luật của
Tòa án có thẩm quyền về việc tuyên bố cá nhân mất năng lực hành vi dân sự. Khi
cá nhân rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân đó được xác định
là mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, không có tư cách tham
gia các quan hệ pháp luật. Việc xác lập quyền cũng như thực hiện nghĩa vụ của cá
nhân này sẽ do người giám hộ của họ thực hiện. Tuy nhiên, khi không còn căn cứ
để xác định cá nhân rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự (cụ thể là khi
người đó chữa khỏi bệnh) thì họ lại có thể “trở lại” mức độ năng lực hành vi dân
sự phù hợp với độ tuổi và khả năng nhận thức của họ.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
hậu quả pháp lý bất lợi được nhắc đến ở phần trên được hiểu chính là việc bù đắp
những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Và hậu quả pháp lý này được
hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
chính là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó, khi một người vi phạm những
nghĩa vụ pháp lý của mình, gây tổn hại về mặt vật chất cũng như mặt tinh thần cho
chủ thể khác thì phải thực hiện việc bồi thường để bù đắp những tổn thất mà mình
đã gây ra.
Khác với những loại trách nhiệm pháp lý khác (như trách nhiệm hành
chính, trách nhiệm hình sự), trách nhiệm dân sự không chỉ phát sinh trên cơ sở do
pháp luật quy định mà còn có thể phát sinh trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên.
Do đó, tiếp cận dưới góc độ nguồn gốc phát sinh trách nhiệm thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại được phân thành hai loại: trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo
hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Có thể nói đây là
cách phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại cơ bản nhất, bởi lẽ khi cơ sở phát
sinh trách nhiệm khác nhau thì những vấn đề thuộc về cách thức giải quyết bồi
thường cũng sẽ rất khác nhau. Khi nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo
hợp đồng thì cơ sở phát sinh trách nhiệm phải căn cứ trên một hợp đồng đã được
xác lập từ trước và căn cứ trên hành vi vi phạm (không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng) nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ
16
hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phải do vi phạm hợp đồng thì trách
nhiệm phát sinh sẽ không thể là trách nhiệm theo hợp đồng được. Trái lại, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy
định, theo đó không có một hợp đồng nào được giao kết từ trước hoặc giữa các bên
có quan hệ hợp đồng nhưng việc bồi thường thiệt hại phát sinh không căn cứ trên
thỏa thuận trong hợp đồng. Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là loại trách nhiệm dân sự áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa
chấp nhận.” [1; tr. 237]. Điều này hoàn toàn dễ hiểu,bởi lẽ suy cho cùng, ý nghĩa
của việc quy định trách nhiệm bồi thiệt hại ngoài hợp đồng là để nhằm khắc phục
và bù đắp những tổn thất nhất định về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần cho
người bị thiệt hại.Dưới góc độ khoa học pháp lý, thiệt hại được giải thích là “tổn
thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích
hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể
khác được pháp luật bảo vệ” [7; tr.713]. Pháp luật Việt Nam ghi nhận hai loại thiệt
hại mà người bị thiệt hại có thể được bồi thường, đó là: thiệt hại về vật chất và
thiệt hại về tinh thần.
Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại được hiểu là những xử sự của con người
dưới dạng hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
Cần phân biệt giữa hành vi trái pháp luật với hành vi vi phạm điều cấm của pháp
luật. Ở đây, điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luật
không cho phép chủ thể được thực hiện những hành vi nhất định. Khi chủ thể thực
hiện những hành vi mà theo quy định của pháp luật là những hành vi không được
thực hiện thì khi đó được coi là chủ thể đó có hành vi vi phạm điều cấm của pháp
luật. Nhưng đối với trường hợp có hành vi trái pháp luật thì không cần phải có một
quy phạm cấm nào của pháp luật, mà chỉ cần chủ thể thực hiện những hành vi
không đúng, không phù hợp với nội dung mà quy phạm pháp luật đề cập tới thì đã
được coi là có hành vi trái pháp luật. Ví dụ: pháp luật ghi nhận và bảo vệ quyền sở
hữu tài sản của chủ sở hữu, khi đó không cần phải có quy phạm pháp luật quy định
những hành vi nào chủ thể không được làm gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu này
(điều cấm) mà chỉ cần chủ thể có một hành vi bất kỳ xâm phạm đến quyền sở hữu
(lấy cắp tài sản, hủy hoại tài sản...) thì hành vi của chủ thể đó được xác định là
hành vi trái pháp luật. Phạm vi của hành vi trái pháp luật ở đây không chỉ là trái
18
pháp luật dân sự mà có thể là trái với quy định pháp luật của những ngành luật
19
nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi
chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để tự do lựa chọn và quyết định
một xử sự khác phù hợp với lợi ích của xã hội, Nhà nước, và các chủ thể khác. [10;
tr.69]. Như vậy, vấn đề lỗi chỉ được đặt ra đối với những cá nhân có nhận thức và
có khả năng đánh giá được hành vi của mình.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi
dân sự gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây
ra là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực
hành vi dân sự gây ra về cơ bản giống với các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Bên cạnh đó, vì là một trường hợp cụ
thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên những “yếu tố cần
thiết” này cũng có những điểm đặc trưng nhất định.
Điều kiện về thiệt hại xảy ra: Thiệt hại vẫn là điều kiện đầu tiên cần phải có
để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự
gây ra. Về cơ bản, những thiệt hạinày được xác định bao gồm: thiệt hại về vật chất
và thiệt hại về tinh thần.Trong đó, thiệt hại về vật chất được hiểu là những tổn thất
thực tế mà người bị thiệt hại phải gánh chịu, làm cho những lợi ích vật chất nhất
định của người bị thiệt hại bị giảm sút theo những cách thức khác nhau.Thiệt hại
về vật chất có thể tính toán được thành một khoản tiền cụ thể, bao gồm: (i) thiệt
hại do tài sản bị mất mát, hư hỏng, hủy hoại; lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử
dụng tài sản; chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; (ii) khi sức khỏe
bị xâm phạm thì những thiệt hại vật chất được xác định bao gồm: chi phí hợp lý
cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị
giảm sút...; (iii) khi tính mạng bị xâm phạm thì những thiệt hại về vật chất được
xác định gồm: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị
thiệt hại trước khi chết; chi phí cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho người mà
này được xác định là không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình
nhưng việc xâm phạm đến những giá trị đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ như
tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân; tài sản, danh
dự, uy tín của pháp nhân, tổ chức khác thì những hành vi đó vẫn được xác định là
21
hành vi trái pháp luật, và sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường nếu việc xâm phạm
đó gây ra thiệt hại. Một điểm đặc biệt trong trường hợp trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người mất năng lực hành vi gây ralà: trong những hoàn cảnh, điều kiện
cụ thể, ngoài hành vi của người mất năng lực hành vi dân sự trực tiếp gây ra thiệt
hại thìhành vi quản lý không tốt của những người có trách nhiệm quản lý người
mất năng lực hành vi dân sự, để người này có điều kiện gây thiệt hại cho chủ thể
khác, cũng là một trong những điều kiện, căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại, xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường. Bởi trong nhiều
trường hợp, việc quản lý người mất năng lực hành vi dân sự hợp lý và hiệu quả sẽ
làm cho người này không có điều kiện để có những xử sự trái với quy định của
pháp luật.
Điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại
trái pháp luật: mối quan hệ nhân quả được hiểu là mối quan hệ giữa các sự vật,
hiện tượng sản sinh ra nhau -trong đó một hiện tượng đóng vai trò là nguyên nhân,
và một hiện tượng đóng vai trò là kết quả tất yếu được tạo ra từ nguyên nhân đó.
Nguyên nhân là cái luôn có trước kết quả. Khi nói đến nguyên nhân của một thiệt
hại thì nguyên nhân đó được hiểu là cái mà trong điều kiện bình thường tất yếu sẽ
sinh ra kết quả (thiêt hại ấy).Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người mất
năng lực hành vi dân sự gây ra, yếu tố nguyên nhân ở đây trước tiên được hiểu là
hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự.Như đã
phân tích các yếu tố liên quan đến người mất năng lực hành vi dân sự, rõ ràng
người này về mặt nhận thức là không còn có thể nhận thức và làm chủ được hành
hành vi dân sự có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì người nàykhông bị
coi là có lỗi khi gây ra thiệt hại.
Như đã phân tích, người mất năng lực hành vi dân sự vì không có khả năng
nhận thức và làm chủ hành vi của mình nên việc chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho người này thuộc trách nhiệm của người giám hộ của người đó.Ngoài
ra, người mất năng lực hành vi dân sự còn có thể được đặt dưới sự quản lý của
bệnh viện hoặc tổ chức khác trong thời gian chữa bệnh để khôi phục lại khả năng
nhận thức và làm chủ hành vi ban đầu của họ. Người giám hộ, bệnh viện, tổ chức
khác chữa bệnh cho người này cần phải có trách nhiệm thực hiện việc quản lý đối
với chủ thể không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Trách nhiệm quản lý
23
này hướng tới mục đích đảm bảo sức khỏe, đời sống của chính những người mất
năng lực hành vi dân sự; đồng thời, cũng hướng tới việc đảm bảo an toàn đối với
các chủ thể khác có khả năng bị ảnh hưởng bởi hành vi của người không có khả
năng nhận thức tác động lên. Chính vì yếu tố này, khi người mất năng lực hành vi
dân sự gây thiệt hại, xét về nguyên tắc, các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với họ là không đầy đủ, họ không phải thực hiện việc bồi
thường. Tuy nhiên, trách nhiệm này phát sinh đối với người giám hộ, bệnh viện, tổ
chức chữa bệnh. Bởi vì, những người này được xác định là có lỗi do không làm tốt
nghĩa vụ quản lý người mất năng lực hành vi dân sự, để người này gây thiệt hại
cho chủ thể khác. Tương ứng, nếu các chủ thể quản lý chứng minh được việc quản
lý của mình là tốt, phù hợp, không có lỗi liên quan đến việc gây thiệt hại của người
mất năng lực hành vi dân sự thì họ cũng không đương nhiên phải thực hiện trách
nhiệm bồi thường.
Từ sự phân tích trên về điều kiện lỗi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thấy sự khác biệt rất rõ giữa yếu tố lỗi trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra nói chung so với yếu
mất năng lực hành vi dân sự gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người mất năng lực
hành vi dân sự gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó nó mang đầy đủ đặc
điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như: (i) do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng; (ii) luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng; (iii) được
đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế của Nhà nước. Bên cạnh đó, với tư cách là một
loại trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người
mất năng lực hành vi dân sự gây ra cũng mang tính chất tài sản. Điều này thể hiện
ở chỗ, nó luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người có trách nhiệm
bồi thường. Bởi lẽ, khi có hành vi trái pháp luật gây tổn thất cho người khác thì tổn
thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại
lượng vật chất nhất định, nếu không, sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường.
Do đó, những thiệt hại liên quan đến yếu tố tinh thần dù không thể tính toán được
một cách ngang giá thành tiền nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của
pháp luât với mục đích bù đắp một phần nào những tổn thất mà người bị thiệt hại
hay thân nhân của người bị thiệt hại phải gánh chịu [4; tr.9].
Bên cạnh những đặc điểm chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra còn có đặc điểm riêng thể
hiện ở nội dung chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Thông thường, đối với
25
những trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra thì chủ thể
có trách nhiệm phải bồi thường chính là chủ thể có hành vi gây thiệt hại. Tuy
nhiên, trong trường hợp người gây ra thiệt hại được xác định là người đã bị Tòa án
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì không thể áp dụng giống trường hợp
chung. Người này xét về mặt tư cách pháp lý là không có tư cách chủ thể để tham
gia các quan hệ pháp luật dân sự một cách độc lập, đồng thời về mặt tố tụng cũng