Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

VŨ NGỌC HUY

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH
CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI -2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

VŨ NGỌC HUY

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH
CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: Bộ Luật Tố tụng dân sự

BLHS

: Bộ Luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ Luật Tố tụng hình sự

HN & GĐ

: Hôn nhân và gia đình

ICSI

: Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương ứng

IUI

: Cấy tinh trùng vào tử cung

IVF

: Thụ tinh trong ống nghiệm

TAND

: Tòa án nhân dân


trợ sinh sản................................................................................................. 25
1.4.1. Ý nghĩa về mặt xã hội................................................................. 25
1.4.2. Ý nghĩa về mặt pháp lý .............................................................. 28
1.5. Căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trƣờng hợp sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản ................................................................................. 30
1.5.1. Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh ........ 30


1.5.2. Căn cứ vào sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh hoặc ngƣời
phụ nữ độc thân, của ngƣời cho và nhận noãn, cho và nhận tinh
trùng, cho và nhận phôi ........................................................................ 31
1.5.3. Căn cứ vào sự kiện sinh đẻ ........................................................ 33
CHƢƠNG 2.................................................................................................... 36
NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XÁC ĐỊNH
CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ
THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ...................................................................... 36
2.1. Xác định cha, mẹ, con trong trƣờng hợp ngƣời vợ trong cặp vợ
chồng vô sinh và ngƣời phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản. ...................................................................................................... 36
2.1.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh ....................................................... 36
2.1.2. Đối với người phụ nữ độc thân ..................................................... 40
2.2. Xác định cha, mẹ, con trong trƣờng hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo ..................................................................................................... 43
2.3. Xác định cha, mẹ, con trong trƣờng hợp vợ chồng vô sinh sinh
con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh
trùng ........................................................................................................... 44
2.3.1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng ........................................... 44
2.3.2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản với tinh trùng của người hiến .................................................... 45

KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Luật Hôn nhân và gia đình là một văn bản luật quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, quy định về chế độ hôn nhân và gia đình, đó là
toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ
giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia
đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định về chuẩn mực pháp lý cho
cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, trách nhiệm của cá nhân, tổ
chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và
gia đình Việt Nam.
Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ pháp lý hôn nhân thì quan hệ
giữa cha, mẹ và con cái là quan hệ tràn đầy tình cảm yêu thương chăm sóc
như một lẽ tự nhiên nhưng đầy ý thức trách nhiệm. Tuy nhiên, có một thực tế
đó là tỷ lệ vô sinh ở các cặp vợ chồng đang có xu hướng tăng cao làm ảnh
hưởng đến quyền được làm cha làm mẹ một cách bình thường của các cặp vợ
chồng. Do đó, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang ngày càng phổ biến
và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Có thể thấy, sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản là vấn đề khá phức tạp, nhất là việc xác định cha, mẹ, con bởi nó
làm thay đổi những quan niệm truyền thống về mặt huyết thống giữa cha mẹ
và con. Quan hệ cha, mẹ, con xác lập sẽ được pháp luật và cộng đồng thừa
nhận, là cơ sở để thực hiện tốt những quy định về nghĩa vụ và quyền nhân
thân giữa cha, mẹ và con, nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha, mẹ và con,
về thừa kế tài sản…Bên cạnh đó quan hệ cha, mẹ, con là điều kiện phát sinh


3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản không phải là một vấn đề mới. Với sự ra đời của ba em bé thụ tinh
trong ống nghiệm ở Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ năm 1998, pháp luật Việt Nam
lần đầu tiên đề cập đến vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại
khoản 2 Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 với thuật ngữ sinh con theo phương
pháp khoa học. Kể từ năm 2000 đến nay, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau: Nghị định số
12/2003/NĐ-CP,

Nghị

định

số

10/2015/NĐ-CP,

Thông



số

07/2003/TTBYT, Thông tư số 12/2012/TT-BYT, Thông tư số 57/2015/TTBYT, Luật Hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006,
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuy nhiên số lượng bài viết, công trình
nghiên cứu dưới góc độ pháp luật có liên quan đến xác định cha, mẹ, con
trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là không nhiều. Bài

- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật về vấn đề xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
- Thực trạng ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề có thể phát sinh trong
thực tiễn.
4. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về xác định
cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo
pháp luật Việt Nam, thực trạng của vấn đề, những bất cập và thách thức đặt
ra.
- Phạm vi nghiên cứu:


5
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 và một số văn bản khác hướng dẫn có liên quan về xác định
cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, liệt kê, tổng
hợp dựa trên nền tảng là phương pháp luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử và
phép biện chứng duy vật để làm rõ đối tượng nghiên cứu đã đặt ra.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xác định cha, mẹ cho con trong trường
hợp sinh con theo phương pháp hỗ trợ sinh sản.
Chương 2: Nội dung quy định pháp luật hiện hành về xác định cha mẹ cho
con trong trường hợp sinh con theo phương pháp hỗ trợ sinh sản.
Chương 3: Thực trạng và kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả việc xác định cha,
mẹ cho con trong trường hợp sinh con theo phương pháp hỗ trợ sinh sản.

nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Con đẻ, trong mối quan hệ với cha


7
mẹ, là ngƣời đƣợc cha, mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “con” còn được nghiên cứu với tư
cách là con trong giá thú, con ngoài giá thú, con chung, con riêng. Từ đó, là
cơ sở cho việc xác định cha, mẹ, con1.
1.1.2. Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, trước hết cần xem xét một số khái niệm
được quy định tại Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh con
bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục
đích nhân đạo:
-Noãn là giao tử của nữ.
-Tinh trùng là giao tử của nam.
-Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng.
-Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống
nghiệm để tạo thành phôi.
Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được xem xét
dưới hai góc độ:
-Dưới góc độ y học:
Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các
phòng Y tế Hỗ trợ sinh sản (Hoa Kỳ), từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh:
Assisted Reproductive Technology A.R.T) bao gồm tất cả các phương pháp
chữa trị chứng vô sinh trong đó có cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng2.
Bên cạnh đó, còn có một số định nghĩa khác về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
như:

1

“Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ
tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.
Có thể thấy, thông qua việc sử dụng phương pháp liệt kê, quy định này
chưa làm rõ được thế nào là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” cũng

3

Drtuong.wordpress.com/2009/11/21/art/


9
như không thể hiện được đặc trưng của phương pháp này, đồng thời có thể
dẫn đến những thiếu sót trong tương lai.
Thực chất, khi nói đến sinh con theo phương pháp khoa học thì cũng
được hiểu là sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Vì thế, khái niệm trên về
cơ bản đã làm rõ được thế nào là sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có
thể được định nghĩa như sau:
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sự can thiệp
của các kỹ thuật y sinh học công nghệ cao trong trường hợp quá trình mang
thai tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau,
được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
1.1.3. Khái niệm xác định cha, mẹ, con
Khái niệm xác định cha, mẹ cho con theo từ điển Luật học được hiểu
là: “Định rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các
quy định của pháp luật”, ngoài ra còn có khái niệm xác định con cho cha, mẹ
là “Định rõ một người là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định
của pháp luật. Tuy vậy, mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai
chiều và không thể tách rời, xác định cha, mẹ cho con cũng chính là xác định

ngoài sự kiểm soát của người mẹ, vì vậy, sự kiện sinh đẻ là sự biến pháp lý
tương đối. Tuy nhiên, sự kiện sinh đẻ chỉ là một trong những sự kiện để xác
định tư cách cha, mẹ, con. Sự kiện sinh đẻ phải đi liền với một loạt các hành
vi pháp lý khác mới đủ cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa cha mẹ con
hành vi đăng ký khai sinh, một quyết định hay một bản án có hiệu lực của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc xác định tư cách cha, mẹ, con.
+ Với tư cách là một quan hệ pháp luật: Xác định cha, mẹ, con là các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tƣ cách cha, mẹ,
con về mặt huyết thống của các chủ thể đƣợc các quy phạm pháp luật
điều chỉnh6. Căn cứ vào tính chất của quan hệ pháp luật, việc xác định cha,
4

Nguyễn Thị Lan (2010), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr.20.
Nguyễn Thị Lan (2010), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr.23.
6
Nguyễn Thị Lan (2008), Luận án tiến sĩ “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”, tr.26.
5


11
mẹ, con bao gồm quan hệ vật chất và quan hệ hình thức; căn cứ vào ý chí của
các chủ thể, việc xác định cha, mẹ, con bao gồm quan hệ tự nguyện nhận cha,
mẹ, con được tiến hành tại cơ quan hành chính nhà nước (UBND) và quan hệ
tranh chấp xác định cha, mẹ, con được tiến hành tại cơ quan tư pháp (TAND);
căn cứ vào hôn nhân của cha, mẹ việc xác định cha, mẹ, con bao gồm quan hệ
xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và quan hệ xác định
cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Ở mỗi cách phân loại,
mối quan hệ về xác định cha, mẹ, con đều có những điểm tương đồng và khác
biệt nhất định. Mỗi chủ thể, tùy theo tư cách của mình trong mối quan hệ, có
quyền và nghĩa vụ nhất định để nhận diện đúng tư cách cha, mẹ, con.

từ những năm 1978 và 1992, cho tới nay đã có hơn một triệu em bé ra đời từ
những kỹ thuật trên.
Năm 1978, em bé đầu tiên từ thụ tinh trong ống nghiệm, Louis Brown
ra đời đánh dấu bước đầu cho sự phát triển của thụ tinh trong ống nghiệm.
Sau đó, hai trường hợp khác từ TTTON cũng đã được báo cáo tại Anh. Sau
đó, chương trình này tại Anh bị gián đoạn trong 2 năm.
Năm 1980, em bé TTTON thứ tư trên thế giwosi được sinh ra tại Úc.
Trung tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện
thành công TTTON. Trung tâm này sau đó liên tục báo cáo các trường hợp
sinh sau TTTON. Do trung tâm TTTON đầu tiền ở Anh tạm ngừng hoạt động
sau 3 trường hợp sinh đầu tiên, người ta ghi nhận rằng 12 trong số 15 em bé
TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung tâm Monash ở Úc.
Năm 1981, em bé TTTON đầu tiên ở Mỹ ra đời. Đây cũng là trường
hợp TTTON đầu tiên sử dụng phương pháp kích thích buồng trứng.
Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất mạnh
và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới, kể cả Châu
Á. Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện thành công TTTON


13
đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983 bởi nhóm nghiên cứu của SC Ng và cộng
sự.
Năm 1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) được báo cáo
thành công tại Mỹ.
Năm 1984, em bé đầu tiên ra đời từ trường hợp một phụ nữ không còn
buồng trứng, thực hiện xin trứng TTTON tại Úc.
Năm 1984, có báo cáo trường hợp có thai từ trứng người sau đông lạnh
và rã đông tại Úc. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công được báo cáo rất thấp.
Năm 1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt
(SUZI) được báo cáo thành công lần đầu tiên tại Singapore.

hiện số chu kỳ hỗ trợ sinh sản nhiều nhất khu vực Đông Nam Á. Với Phương
pháp này, các cặp vợ chồng hiếm muộn càng có thêm nhiều hy vọng để có
con8.
Sự kiện
Thực hiện thành công trữ lạnh
tinh trùng người
Thực hiện thành công kỹ thuật
IUI với tinh trùng lọc rửa
Thực hiện thành công kỹ thuật
TTTON đầu tiên
Các trường hợp TTTON đầu tiên
ra đời

8

Theo VnExpress Sức khỏe

Năm

Nơi thực
hiện

Thế giới

1995

BV Từ Dũ

1964


Thực hiện thành công trữ lạnh
phôi người
Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật
MESA – ICSI
Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật
PESA – ICSI
Em bé đầu tiên ra đời từ phôi
đông lạnh
Em bé TTTON thứ 1000 tại BV
Từ Dũ

1999

BV Từ Dũ

1993

2000

BV Từ Dũ

1995

2000

BV Từ Dũ

1984

2001


BV Từ Dũ

1984

2003

BV Từ Dũ

1984

2003

BV Từ Dũ

2001

Thai lâm sàng đầu tiên từ cả
trứng và tinh trùng người đông
lạnh
1.2. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiêu biểu
1.2.1. Thụ tinh nhân tạo (IUI)


16
Thụ tinh nhân tạo là phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung
được tiến hành bằng cách chọn lọc tinh trùng khỏe nhất của người chồng, sau
đó bơm vào buồng tử cung của người vợ ở thời điểm rụng trứng. Phương
pháp này nhằm giúp tăng khả năng đậu thai cho những cặp vợ chồng bị hiếm
muộn do tinh trùng yếu, ít; cổ tử cung yếu; lạc nội mạc tử cung nhẹ… hoặc vô

Theo đó, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con có
quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện, gồm: Giấy xác nhận
của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh
con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có
con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Luật được thông qua dựa
trên nguyên tắc “người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng để
ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa việc mang thai hộ”. Theo đó, người
được nhờ mang thai hộ phải có đủ 5 điều kiện: Là người thân thích cùng hàng
của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; đã từng sinh con và chỉ được
mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có
thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ
có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng và đã được tư
vấn về y tế, pháp lý, tâm lý9.
1.3. Điều kiện áp dụng phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Cặp vợ chồng
vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có
quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”.
1.3.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh

9

http://moh.gov.vn/province/Pages/CheDoChinhSachYTe.aspx?ItemID=30


18
Khái niệm “vô sinh” được hiểu theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị
định số 10/2015/NĐ-CP, là “tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có
quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh
thai mà người vợ vẫn không có thai”. Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status