Phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Xây dựng một tình huống tranh chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân - Pdf 51

MỞ ĐẦU
Trong thực tế của chúng ta, khi xảy ra tai nạn gây ra thiệt hại cho người khác ta
thường nghĩ ta chỉ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong trường hợp mình có
lỗi. Tuy nhiên, theo quy định của Luật và thực tế cuộc sống, có một số trường hợp ta
vẫn phải bồi thường trong khi cả hai bên đều không có lỗi . Lỗi là một trong các căn
cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hay nói cách khác ta
có lỗi thì ta mới phải bồi thường. Vậy những trường hợp như đã nói ở trên liệu có đi
ngược lại với quy định chung của Luật, liệu không có lỗi nhưng vẫn phải bồi thường
cho người khác có phải là một điều thiệt thòi hay không? Em xin làm rõ vấn đề này
qua sự nghiên cứu và phân tích đề bài số 15 : “Phân tích các điều kiện làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Xây
dựng một tình huống tranh chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan
điểm cá nhân”

NỘI DUNG
I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định “ Người nào có hành vi xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác
của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật
khác có liên quan quy định khác.”. Từ đó ta có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng như sau : trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác về
tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt
hại với người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp
đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng [1].
1 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản,tính mạng vàsức khỏe”, TS. Phùng Trung Tập.


Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao
gồm:

Điều 601 BLDS 2015 quy định “ Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện
giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động,
vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm
cao độ khác do pháp luật quy định.”.
Điều 601 đã liệt kê cho ta một loạt các loại nguồn nguy hiểm cao độ tuy nhiên
khái niệm cụ thể về từng loại nguồn nguy hiểm cao độ lại được quy định trong các
loại văn bản khác nhau. Cụ thể :
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới : Hiện nay chưa có một văn bản pháp
luật nào chính thức đưa ra khái niệm về phương tiện giao thông vận tải cơ giới. Theo
Khoản 18 Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008 thì “ phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ
moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn
máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự ”. Như vậy, ngoài phương tiện giao
thông vận tải cơ giới đường bộ còn có phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường
sắt, đường biển, đường hàng không,….Cụ thể các phương tiện giao thông đường
thông đường thủy như tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác ( Khoản 7 Điều 3 Luật
giao thông đường thủy nội địa năm 2004). Các phương tiện giao thông đường hàng
không bao gồm máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác
( Khoản 1 Điều 13 Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006). Các phương tiện giao
thông đường sắt là đầu máy, toa xe, toa xe động lực, phương tiện chuyên dùng di
chuyển trên đường sắt ( Khoản 20 Điều 3 Luật đường sắt 2005)…


Hệ thống tải điện : được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện...Nhà
máy công nghiệp như công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ.... Cũng giống như phương
tiện vận tải cơ giới chúng chỉ được xem là nguồn nguy hiểm cao độ nếu đang trong
trạng thái hoạt động.
Vũ khí : là những phương tiện được sử dụng với mục đích sát thương nhanh bao
gồm vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn, công cụ hỗ trợ,....[2].
Chất cháy, chất nổ : là các chất rắn, lỏng, khí…dễ xảy ra cháy nổ.[ 3]. Chất cháy

nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm của
chủ sở hữu, người được chủ sở hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trong việc
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần, phải bồi thường
thiệt hại cho người bị thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất
tinh thần cho người bị thiệt hại.[5] Thiệt hại liên quan đến các nguồn nguy hiểm rất
đa dạng và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên chỉ áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn được các điều kiện
sau:
Thứ nhất : vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong tình trạng
vận hành hoạt động, chẳng hạn như phương tiện giao thông vận tải cơ giới đang tham
gia trên đường, chập hệ thống dây tải điện đang hoạt động,…Trường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” – không hoạt động thì không thể coi
là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được.
Thứ hai : thiệt hại phải do chính sự tác động của bản thân nguồn nguy hiểm cao
độ hoặc do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra. Thiệt hại này nằm ngoài sự
kiểm soát, chế ngự của con người, không có sự tác động bởi hành vi của con người
và do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại . Ví dụ xe ô tô đang đi trên đường
5 “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND, 1999


thi bị nổ lốp và đâm vào chiếc xe đạp đi bên cạnh, nó khác với trường hợp ô tô đang
đi trên đường vì tránh khúc gỗ ở trước mặt mà đâm vào xe đạp đang đi bên cạnh, đây
là thiệt hại do hành vi của con người gây ra chứ không thể là xác định là thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Căn cứ vào Điều 601 BLDS 2015 thì khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại
chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường được xác định như sau :
 Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ
phải bồi thường khi gây thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng.
 Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu trái pháp luật gây thiệt hại thì
người người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ

bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra vẫn là một vấn đề còn nhiều
tranh cãi và có nhiều quan điểm khác nhau.Vậy để hiểu rõ hơn về các căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra em xin đi
vào phân tích cụ thể từng căn cứ một như sau.
1. Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Thiệt hại ở đây được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất của một người
được xác định được trên thực tế và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn sẽ xảy ra.
Thiệt hại có thể là trực tiếp cũng có thể là gián tiếp. Thiệt hại trực tiếp là những thiệt
hại đã phát sinh trên thực tế và có thể được xác định bằng tiền. Ví dụ như giá trị của
tài sản bị mất mát, hư hỏng… Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại chưa xảy ra trên
thực tế nhưng chắc chắn sẽ xảy ra trên cơ sở khoa học. Ví dụ như sự sụt giảm giá trị
của tài sản, suy giảm hoặc mất những lợi ích khi sử dụng, khai thác từ tài sản,…..
Nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây thiệt hại cho bất kỳ ai bao gồm cả chủ sở
hữu, người đang chiếm hữu, vận hành, người không liên quan đến nguồn nguy hiểm


cao độ….Tuy nhiên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ
được đặt ra khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho “những người xung quanh”
– là những người không có quan hệ lao động hoặc quan hệ sở hữu hoặc liên quan đến
nguồn nguy hiểm cao độ. Ví dụ như xe tải của anh A đang đi trên đường vì mất phanh
lên lao xuống dốc với tốc độ nhanh và đâm vào ô tô của anh B gây thiệt hại thì khi đó
anh A sẽ phải bồi thường thiệt hại cho anh B do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà
anh A là chủ sở hữu. Còn nếu là chủ sở hữu của tài sản thì họ phải tự chịu mọi rủi ro
do tài sản của mình gây ra. Ví dụ ông A là chủ sở hữu của chiếc ô tô, anh B là lái xe
riêng của ông A, khi đang trên đường chở ông A đi làm thì xe bị nổ lốp trước và mất
lái nên đâm vào cháu C đang đi xe đạp bên đường, cháu C bị gãy mất 1 chân và 1 tay.
Nhưng cháu C lại là con ông A nên ông C cũng không được yêu cầu bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Hoặc với trường hợp người bị thiệt hại trong
khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động thì sẽ được hưởng bồi
thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Anh Ba làm việc tại một nhà máy sản

trường hợp đánh cá bằng mìn, dùng điện để bẫy chuột, nhốt người vào chuồng hổ,
….những hành vi này là hoàn toàn có chủ ý chứ không phải do tự thân nguồn nguy
hiểm cao độ gây thiệt hại. Những trường hợp như xe ô tô đang chạy thì mất phanh,
chập đường dây tải điện, cháy nổ nhà máy do trục trặc kỹ thuật….thì mới được coi là
thiệt hại do chính bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Hoạt động gây thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải có tính trái pháp
luật. Việc gây thiệt hại trái pháp luật tức là những thiệt hại do sự hoạt động của nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật không cho phép. Ví dụ như xe tải nổ lốp đâm đâm
vào xe khách đang đi trên đường gây chết người, dây điện của nhà máy công nghiệp
bị chập làm chết nhiều người,…..Ngoài ra, có những trường hợp nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra thiệt hại nhưng không bị coi là trái pháp luật ví dụ như trường hợp xe
tải của anh A đang đi trên đường thì bị mất phanh nếu đi thẳng anh sẽ đâm phải chiếc
xe khách phía trước đang chở 24 người , vì vậy anh đã rẽ sang bên trái và đâm vào


cổng của một nhà nằm bên đường, trong trường hợp này có thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra nhưng bị coi là trái pháp luật.
3. Mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hại xảy ra.
Quan hệ giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra có
mối quan hệ phổ biến, biện chứng. Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên
nhân tất yếu, có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết quả của
hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ. Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại điểm mấu chốt là phải xác định được thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra.
Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được
áp dụng khi tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại.
Ví dụ như A là chủ của một khu chuồng nuôi hổ. B là nhân viên chăm sóc cho hổ.
Đến một hôm B vào cho hổ ăn như bình thường nhưng bất ngờ bị con hổ tấn công
làm cho B chết. Vậy mối quan hệ nhân quả ở đây chính là hoạt động gây thiệt hại do
con hổ gây ra và thiệt hại là tính mạng của B.

người khác.
Quan điểm thứ hai cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoàn toàn loại trừ
yếu tố lỗi. Nếu thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu thì
áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung. Nếu thiệt hại hòan toàn không có
lỗi thì áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Tuy nhiên trên thực tế cũng rất khó mà có thể xác định được những trường hợp nào
hoàn toàn không do lỗi của con người được.

6 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, T.S Trần Thị Huệ.


Quan điểm thứ ba là sự hòa hợp của hai quan điểm trên. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ áp dụng khi hoạt động gây thiệt hại
của nguồn nguy hiểm cao độ nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người
chiếm hữu, vận hành và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy
ra do hoàn toàn lỗi cố ý của con người trong việc trông giữ bảo quản, vận hành nguồn
nguy hiểm cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này mà sẽ áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra không loại trừ khả năng thiệt hại cũng có một phần lỗi của người quản lý
trông giữ, bảo quản, vận hành, nguồn nguy hiểm cao độ không phải là nguyên nhân
có tính chất quyết định thiệt hại. Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy
hiểm cao độ không được miễn trừ trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp họ
chứng minh được mình không có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản vận hành nguồn
nguy hiểm cao độ. Có thể nói quan điểm này đúng đắn và phù hợp hơn so với hai
quan điểm nêu trên. Dấu hiệu quan trọng ở đây để xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại là nguyên nhân trực tiếp, yếu tố quyết định dẫn đến gây thiệt hại. Thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thể hoàn toàn không có lỗi của con người, cũng
có thể do một phần lỗi của người trực tiếp quản lý, điều khiển,….tuy nhiên lỗi chỉ
đóng vai trò thứ yếu mà thôi.
III - TÌNH HUỐNG:

thiệt hại của gia đình chị Hà Thị Thu với hoạt động gây thiệt hại của tự thân chiếc xe
tải là có mối quan hệ nhân quả với nhau.
*Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 601 BLDS 2015
“Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra


2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người
này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Xét với tình huống đã nêu, thì anh A là chủ sở hữu của chiếc xe tuy nhiên anh
A đã thuê anh Ba lái chiếc xe đó để trở hàng cho mình, do gặp sự cố ngoài ý muốn thì
anh Ba đã gây thiệt hại cả về tinh thần và vật chất cho gia đình chị Thu. Đối với yếu
tố lỗi, trong trường hợp này không ai có lỗi, nguyên nhân là do chiếc xe. Tuy nhiên,
do đây là trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nên anh A là chủ sở
hữu của chiếc xe tải phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình chị Thu.
Sau khi anh A đã bồi thường thiệt hại cho nhà chị Thu thì anh Ba phải hoàn trả lại
một khoản tiền cho anh A. Bởi vì, tuy anh Ba không phải chủ sở hữu chiếc xe tải,
nhưng trước đó anh Ba đã được giao quyền chiếm hữu, sử dụng (Anh A thuê anh Ba
lái chiếc xe tải để trở hàng).

KẾT LUẬN
Qua những gì đã phân tích ở trên có thể thấy rằng trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm dân sự đặc biệt, nó có
thể phát sinh ngay cả khi không cần đến yếu tố lỗi. Nguồn gây thiệt hại thường là
điện, ô tô, xe tải, thú dữ,….vì vậy trên thực tế loại trách nhiệm này xảy ra rất phổ
biến, tuy nhiên Luật cũng chưa có một quy định cụ thể riêng biệt nào để nói đến căn
cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra vì
thế khi áp dụng trên thực tiễn vẫn còn nhiều sai sót đáng kể. Để tránh được những sự
việc xử lý sai trên thực tế thiết nghĩ nhà làm luật cần phải có sự sửa đổi bổ sung và

năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
12.
http://toaanquangnam.gov.vn/ta/news/Trao-doi-nghiep-vu/Mot-so-van-de-vetrach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-do-nguon-nguy-hiem-cao-do-gay-ra-363.html




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status