BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------
TĂNG MINH BẮC
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
GIAO THÔNG I THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS - TS ĐỖ VĂN PHỨC
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 1-
T¨ng Minh B¾c
LỜI NÓI ĐẦU
Mục đích của mọi hoạt động là mang lại hiệu quả, hiệu quả càng cao
thì hoạt động càng có ý nghĩa và mục đích của hoạt động là đúng đắn phù
hợp. Hiệu quả hoạt động nói chung mà trọng tâm là hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, là nhân tố quyết định sự phát triển lâu dài bền vững của một
quốc gia, của các nhà đầu tư, của các doanh nghiệp, là yếu tố cạnh tranh quan
trọng nhất trong sự tồn tại và phát triển.
Tất cả các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đều phải
bỏ ra một lượng vốn nhất định, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu
đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng
giao thông 1 Thái Nguyên”.
Hy vọng sự thành công của đề tài sẽ là tiền đề cho sự thành công các
mục tiêu chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1
Thái Nguyên và là cơ sở cho các doanh nghiệp khác tham khảo, xây dựng
phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
mình.
1. Những nội dung của đề tài.
- Đánh giá thực trạng tình hình đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh
doanh của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên hiện nay.
- Xác định nhu cầu tài chính đảm bảo cho chiến lược phát triển của
Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 giai đoạn năm 2006 – 2010.
- Hoạch định hệ thống chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược
phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 giai đoạn năm 2006 –
2010.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp đánh giá
- Phương pháp so sánh, số tuyệt đối, số tương đối.
- Phương pháp biểu đồ, mô hình toán học
- Phương pháp dự báo và các phương pháp nghiên cứu khác
3. Kết cấu của luận văn
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 3-
T¨ng Minh B¾c
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 phần:
các luồng tiền tệ xuất ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động các luồng
tài chính của doanh nghiệp.
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế hợp thành các quan hệ tài chính doanh
nghiệp chủ yếu sau:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước: Quan hệ này được thể hiện
trong việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp thực hiện các
nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí ...
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: Quan hệ này
được biểu hiện cụ thể trong các quan hệ:
+ Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác
phát sinh trong việc mua bán tài sản, vật tư, hàng hóa dịch vụ.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 5-
T¨ng Minh B¾c
+ Quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế
khác trong việc vay hoặc cho vay vốn hay đầu tư vốn ...
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với công nhân viên trong doanh nghiệp:
quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương,
thưởng , phạt ... với công nhân viên của doanh nghiệp.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: được thể hiện trong việc quan hệ
thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi
nhuận sau thuế của doanh nghiệp ...
Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra:
- Tài chính doanh nghiệp là một quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng
- Các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp càng trở nên hết sức
quan trọng và cần thiết cho người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp
để kiểm soát và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ
những vai trò chủ yếu sau:
- Huy động đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu
cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của
doanh nghiệp cũng như nhu cầu đầu tư phát triển. Vai trò tài chính doanh
nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động
của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn phương pháp và
hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời
các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay cùng với sự phát
triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh
nghiệp huy động các nguồn vốn từ bên ngoài. Do vậy vai trò của tài chính
doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn
các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt
động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp.
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 7-
T¨ng Minh B¾c
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
việc tổ chức sử dụng vốn. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào
T¨ng Minh B¾c
Việc xây dựng đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận
trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ
yếu là phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân
nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lời khi thực
hiện dự án. Việc đánh giá phân tích bằng thước đo tài chính nhằm lựa chọn
các dự án có mức sinh lời cao. Vấn đề quan trọng ở đây là tài chính cần xem
xét sử dụng vốn như thế nào? Trên cơ sở tham gia đánh giá và lựa chọn dự án
đầu tư, tài chính doanh nghiệp tham gia định hướng phát triển doanh nghiệp.
Trong đó khi xem xét việc bỏ vốn đầu tư thực hiện dự án cần chú ý tới việc
tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao trước mắt cũng như lâu dài.
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo
đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn. Tài chính
doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của
doanh nghiệp ở trong kỳ hay nói cách khác phải trả lời câu hỏi cần bao nhiêu
vốn? Bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn. Và điều cực kỳ quan trong đối
với tài chính doanh nghiệp là tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo kịp
thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa
là phải trả lời câu hỏi lấy vốn từ đâu? Việc tổ chức huy động các nguồn vốn
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. để đi đến
việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp
cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt. Trong đó cần chú ý đến một số vấn đề
chủ yếu như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình
thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn ...
- Tổ chức sử dụng tốt vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường. Quá trình
thực hiện kế hoạnh tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính
thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 10-
T¨ng Minh B¾c
Nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi
nhiều nhân tố, sau đây ta xem xét một số nhân tố chủ yếu dưới đây.
a) Đặc điểm kinh tế của ngành.
Mỗi ngành kinh tế có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh không
giống nhau. Sự không giống nhau đó được phản ánh qua những dấu ấn khác
nhau về mặt tài chính và cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp trong
mỗi ngành.
- Doanh nghiệp ngành công nghiệp.
Đặc điểm tài chính của doanh nghiệp ngành công nghiệp là: Toàn bộ có
thể chia thành nghiệu xí nghiệp đồng thời có thể hạch toán kết quả kinh doanh
trong phạm vi từng xí nghiệp. Vì là ngành có năng suất lao động cao, không
những có thể trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, nên nói chung các
doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật hiện đại. Chu kỳ sản xuất của hầu hết
các doanh nghiệp công nghiệp đều ngắn (trừ ngành đóng tàu và một vài ngành
cơ khí khác ra). Do đó vốn sản phẩm dở dang không nhiều. Việc sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm được tiến hành thường xuyên. Bởi vậy doanh nghiệp có
mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hóa và thị trường vốn.
- Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng.
thường rất ngắn. Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận
vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn kinh doanh,
chủ yếu là vốn hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, vì thế vốn vay ngắn hạn của
doanh nghiệp thường cao hơn các ngành khác.
b) Chính sách của Nhà nước.
Các chính sách kinh tế của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính
của các doanh nghiệp như chính sách thuế, khấu hao, lãi vay.
- Thuế: Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp phải nộp nhiều
khoản thuế cho Nhà nước. Các chính sách thuế của nhà nước đều ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hầu hết các quyết định trong quản
lý tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập
doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến đảm bảo tài chính cho hoạt động của
doanh nghiệp.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 12-
T¨ng Minh B¾c
- Khấu hao tài sản cố định: Khấu hao được xem như là một khoản chi
phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế doanh nghiệp, do đó nó được xem
như là một yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế. Chính sách khấu hao tài
sản cố định của nhà nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của doanh
nghiệp.
- Lãi vay: Về nguyên tắc, các doanh nghiệp chỉ vay khi hoạt động có
hiệu quả cao, số lãi đạt được do sử dụng vốn vay phải lớn hơn lãi tiền vay
phải trả. Tuy nhiên theo quy định của nhà nước, cho phép các doanh nghiệp
được tính khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, đầy đủ, có tính thực thi ta
phải dựa trên các căn cứ, cơ sở phù hợp đáng tin cậy, và có phương pháp tiên
tiến tuân thủ theo quy trình.
Vấn đề đầu tiên được đặt ra trong xây dựng chính sách đảm bảo tài
chính là phải xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trên cở sở nhu cầu tài chính ta xây dựng phương án để đáp ứng nhu
cầu.
Xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp tức là xác
định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động doanh nghiệp và các nguồn vốn
đảm bảo theo một cơ cấu hợp lý.
1.2.1. Xác định nhu cầu vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp .
1.2.1.1. Vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư
liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào
hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Các đặc trưng của vốn kinh doanh bao gồm:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn
được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh
nghiệp.
- Vốn phải vận động để sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 14-
T¨ng Minh B¾c
- 15-
T¨ng Minh B¾c
b) Vốn lưu động.
Để tiến hành kinh doanh thì doanh nghiệp ngoài tư liệu lao động càn
phải có đối tượng lao động.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận là vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục; một bộ
phận khác là vật tư trong quá trình chế biến. Mặt khác trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp luôn gắn với lưu thông tiêu thụ sản phẩm hình thành
nên một số khoản hàng hóa, tiền tệ, vốn trong thanh toán.
Trước khi bước vào kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần một số vốn
để đầu tư vào các tài sản trên, số tiền ứng trước về các tài sản đó được gọi là
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư - hành hóa và quay lại hình thái tiền
tệ. Vì trong quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục cho nên vốn lưu
động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển
của tiền vốn.
Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các
bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong kinh doanh.
Tóm lại: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản
lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được
thực hiện thường xuyên, liên tục.
- Căn cứ vào công dụng của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp
thì vốn lưu động bao gồm các khoản vốn sau:
+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ.
+ Vốn lưu động nằm trực tiếp trong quá trình sản xuất – kinh doanh.
Chỉ số nhanh (khả
năng thanh toán nhanh)
=
=
+ Các chỉ số quản lý tài sản.
Tài sản lưu động
Tổng nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
- 17-
LuËn V¨n Th¹c sÜ
Vòng quay
Hàng tồn kho
Kỳ
thu nợ
Vòng quay
tài sản cố định
Vòng quay
tổng tài sản
=
+ Các chỉ số khả năng sinh lợi.
Lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu
Lợi nhuận trước
thuế trên tài sản
Lợi nhuận sau
thuế trên tài sản
Lợi nhuận sau
=
=
=
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Lợi nhuận trước thuế
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
T¨ng Minh B¾c
- 18-
Doanh thu
Tổng tài sản (Tổng nhu cầu vốn)
(1.1)
Căn cứ vào chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ trước , so sánh chỉ số
này với chỉ tiêu trung bình tiên tiến ngành của từng loại sản phẩm để xây
dựng các chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ kế hoạch của từng loại sản phẩm
ở mức độ tin cậy nhất.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 19-
T¨ng Minh B¾c
Bước 3. Tính toán sự gia tăng của các khoản phải thu của kỳ kế hoạnh
so với kỳ trước của từng loại sản phẩm.
Căn cứ vào các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ trước , tính toán và dự báo khả
năng thu nợ của từng loại sản phẩm để xây dựng các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ kế
hoạch.
Sự gia tăng
Kỳ thu nợ Kỳ thu nợ
Doanh thu
khoản phải = kỳ kế hoạnh - kỳ trước x kỳ kế hoạch
thu (GTKPT)
(KTN KH) (KTN KT)
(DT KH)
Doanh thu
dự kiến của :
kỳ kế hoạch
Vòng quay
vốn cố định
kỳ kế hoạch
(1.4)
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 20-
T¨ng Minh B¾c
Ta biết nhu cầu vốn cố định năm kế hoạch do phần vốn cố định còn lại
sau khi đã thanh lý một số tài sản và một phần vốn cố định mới đầu tư tài sản
đáp ứng do đó:
Phần vốn cố định
đầu tư mới đáp ứng
cho nhu cầu vốn cố định
kỳ kế hoạch (VCĐBS)
Nhu cầu
Phần vốn cố định
= vốn cố định - kỳ trước còn lại sau (1.5)
kỳ kế hoạch khi đã thanh lý tài sản
- 21-
T¨ng Minh B¾c
Phương pháp bảng cân đối dự toán được thực hiện qua các bước như
sau:
* Lập báo cáo thu nhập cho kỳ kế hoạch.
Mục đích của việc lập báo cáo thu nhập là để xác định phần lợi nhuận
giữ lại mà doanh nghiệp có thể có trong kỳ hoạt động tới.
- Ta biết khi doanh thu tăng lên thì cần được hỗ trợ bởi mức tài sản cao
hơn, hoặc nói cách khác khi doanh thu tăng thì tài sản của doanh nghiệp nhất
thiết phải tăng lên. Doanh nghiệp cần nhiều tiền mặt hơn cho các nghiệp vụ,
doanh thu tăng dẫn tới mở rộng diện và quy mô bán chịu làm khoản phải thu
tăng lên, đồng thời hàng lưu kho sẽ tăng.
- Mặt khác một khi tài sản tăng lên thi phần tài sản gia tăng cũng phải
được cung cấp tài chính tương ứng, tức nguồn vốn của doanh nghiệp phải
được đáp ứng.
+ Trước hết ta dự kiến tỷ lệ tăng giá thành, khấu hao, thuế, tăng cùng
với tỷ lệ tăng doanh thu.
+ Tỷ lệ cổ tức được xác định theo mục tiêu kế hoạch.
+ Vì chưa biết vốn vay cần bổ xung, nên ta giả định lãi vay không tăng.
Trên cơ sở các dự kiến trên ta xác định được khoản lợi nhuận giữ lại để
bổ sung vốn (chưa tính đến yếu tố tăng lãi vay).
* Lập bảng cân đối dự toán cho kỳ kế hoạch.
Theo đẳng thức kế toán:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi doanh thu tăng lên thì các tài sản của doanh nghiệp như: tiền mặt,
khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định cũng phải tăng lên; do đó phần
nguồn vốn của doanh nghiệp cũng phải tăng tương ứng. Ta xác định mức tăng
của các nguồn vốn này.
hình thức nào, Mỗi hình thức là bao nhiêu phải căn cứ dựa trên:
- Cơ cấu vốn mục tiêu.
- Tỷ số lưu động của doanh nghiệp.
- Thực trạng thị trường vốn vay.
- Các quy chế vay nợ hiện hành.
LuËn V¨n Th¹c sÜ
- 23-
T¨ng Minh B¾c
Vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp vay thêm vốn, lãi vay sẽ tăng, đồng
thời nếu phát hành thêm cổ phiếu, tổng cổ tức sẽ tăng. Điều này phải được
phản ánh vào báo cáo thu nhập trong quá trình kế hoạch.
* Điều chỉnh phản hồi.
Từ các bước trên ta nhận thấy:
+ Tăng doanh thu dẫn tới tài sản tăng.
+ Tăng tài sản dẫn tới cần thiết huy động vốn bổ sung.
+ Huy động vốn bổ sung làm tăng thêm chi phí.
+ Các chi phí tăng dẫn đến gia số lợi nhuận giữ lại giảm.
Để giải quyết các vấn đề trên được gọi là quá trình điều chỉnh phản hồi.
Quá trình được tiến hành như sau:
- Tính lãi vay cho phần vốn bổ sung. Khi lãi vay tăng lên sẽ làm thuế
thu nhập giảm xuống.
- Tính cổ tức bổ sung của phần vốn huy động thêm.
- Phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng.
+ Các thay đổi sẽ dẫn tới gia số lợi nhuận giảm bao nhiêu và dẫn đến
lợi nhuận giữ lại mới giảm bao nhiêu?
Gia số lợi nhuận giữ lại: Phần lợi nhuận hàng năm doanh nghiệp giữ
lại nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất.
* Phân tích kết quả dự báo.
Từ kết quả của việc lập báo cáo thu nhập, báo cáo kế toán, ta tiến hành
phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu như:
+ Chỉ số lưu động.
+ Vòng quay hàng tồn kho.
+ kì thu nợ.
+ Vòng quy tổng tài sản.
+ Chỉ số nợ.
+ Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu.
+ Lợi nhuận sau thuế trên tài sản.
+ Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu.
- So sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp với các chỉ số năm
trước, chỉ số trung bình ngành, chỉ số mục tiêu. Từ đó nhận định về vị thế tài
chính của doanh nghiệp và cần phải có biện pháp, phương hướng, chính sách
quản lý để thay đổi các chỉ số tài chính không tốt, không phù hợp mục tiêu.