Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại trại bùi huy hạnh, xã tái sơn huyện tứ kỳ tỉnh hải dương - Pdf 51

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

ĐOÀN CÔNG TUYỂN
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ BIỆN PHÁP
ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN
NUÔI TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH XÃ TÁI SƠN, HUYỆN TỨ KỲ,
TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Thú y

Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học

: 2013 - 2017

THÁI NGUYÊN - 2017


Khóa học:

2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Quang Tính

THÁI NGUYÊN - 2017


i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
- Đại học Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã
nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình. Qua 6 tháng thực tập
tốt nghiệp tại trang trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn huyện Tứ Kì tỉnh Hải
Dương, đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, lĩnh hội thêm
được nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như đức tính cần có của một người
làm cán bộ khoa học kỹ thuật và đã hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp. Để
có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban
chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Quang Tính người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong
suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, toàn thể
cán bộ và công nhân trong trại lợn Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kì,
tỉnh Hải Dương, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện

Cộng sự

CP:

Charoen Pokphand

LMLM:

Lở mồm long móng

MMA:

Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú, viêm tử
cung và mất sữa

Nxb:

Nhà xuất bản

PRRS:

Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

TT:

Thể trọng


4



3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 28
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu nghiên cứu ..................................... 28
3.3.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 28
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 29
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin ......................................... 29
3.4.1.1. Điều tra gián tiếp ................................................................................ 29
3.4.1.2. Điều tra trực tiếp ................................................................................ 29
3.4.2. Phương pháp điều trị ............................................................................. 29
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ......................................................... 30
4.1. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh................................. 30
4.1.1. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y ................................. 30
4.1.1.2. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng .......................................................... 31
4.1.2. Công tác phòng bệnh............................................................................. 34
4.2. Chẩn đoán và điều trị bệnh....................................................................... 36
4.2.1. Công tac chân đoan ............................................................................... 36
4.2.2. Công tac điêu tri bênh ........................................................................... 37
4.3. Công tác khác ........................................................................................... 41
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................. 45
5.1. Kết luận .................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 46
PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG ĐỀ TÀI


1


2

chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn
lợn
nái sinh sản tại trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương"
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Nắm được tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái
nuôi tại trại.
- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi
tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái
nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đánh giá được thực trạng viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi
Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một
vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, được thành lập và đi vào sản xuất
năm 2007 địa điểm xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.
- Quy mô, cơ sở vật chất :
Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha khu chăn nuôi

với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ
cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻ
được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng
sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra.
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát
trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng kỹ sư. Mỗi phòng sát trùng
được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1
khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm,
chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội. Hệ thống sát trùng
khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun
sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi.
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30 cm để chứa
thức ăn trong chăn nuôi.
Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas
trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau
quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi.
Các công trình phụ trợ khác: khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi
gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh. Cổng trại,
tường rào đảm bảo an ninh. Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi
bột, bể tôi vôi nước.


5

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ
thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống
chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi.
2.1.2. Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy
trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con. Lợn được tiêm vắc xin
ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các
bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn
dịch tốt nhất cho đàn lợn. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%.
* Công tác trị bệnh
Cán bộ kỹ thuật của trang trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn
thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật
viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt
hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại
lớn về số lượng đàn gia súc.
2.1.3. Đối tượng và kết quả sản xuất cơ sở thực tập
Bảng 2.1 Cơ cấu sản xuất của trại lợn Bùi Huy Hạnh (2015 - 2017)
Loại lợn
Nái hậu bị

Số lượng lợn qua các năm (con)
Năm 2017
Năm 2015
Năm 2016
( 5 tháng đầu năm)
140

190

97

Nái được phối

2.057


10.929

Số lợn con chết và loại sau
sinh
Số lợn con cai sữa/ nái/
năm (số nái sinh sản)


7

Số liệu bảng 2.1 cho thấy: số lượng lợn nái hậu bị của trại tăng lên
không đáng kể qua các năm. Năm 2016 tăng so với năm 2015 cụ thể là 50
con. Số lượng lợn con tăng so với năm trước khá nhiều. Năm 2016 tăng so
với năm 2015 là 13.921con. Số lượng lợn con chết và loại sau sinh giảm
không đáng kể. Năm 2016 giảm 63 con so với năm 2015. Tính đến tháng 5
năm 2017, tổng đàn giảm đáng kể so với năm 2016. Tổng số lượng con sinh
sống của năm 2016 là 36.010 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt
14.839 con. Cũng như thế, đối với lượng con cai sữa/ nái/ năm của năm 2016
là 30.033 con, trong khi đó 5 tháng của năm 2017 chỉ đạt mức 10.929 con.
2.1.4. Đánh giá chung
2.1.4.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã đã tạo điều kiện cho sự phát
triển của trang trại.
Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện
đường giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt
tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.

miền là miền vỏ và miền tủy. Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết
dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ. Miền vỏ đảm bảo quá trình
phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng. Miền vỏ gồm ba thành phần:
Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt. Tế bào trứng nguyên
thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng
của buồng trứng. Khi noãn bào noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
(Khuất Văn Dũng, 2005) [6], các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân
chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum). Noãn bao


9

ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng
bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum).
* Ống dẫn trứng (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp
gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào chức
năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm.
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung.
Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng)
và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp
dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn
trong việc thụ tinh (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002) [16].
* Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu. Tử cung được giữ lại tại
chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng.

chất dịch từ tử cung.(Trần Tiến Dũng và cs. 2002) [25]
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài.
- Lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm

đạo liên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung.
- Lớp niêm mạc âm đạo: Theo Đặng Đình Tín (1986) [1], âm đạo lợn

dài 10 - 12cm.
* Âm môn
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn. Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudendi). Hai môi được nối với nhau bằng hai mép
(rima vulvae).


11

Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như
tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi).
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn. Âm vật giống như
dương vật con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng
như cấu tạo dương vật của con đực. Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật,
giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới.
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo,

phía sau thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2
lá niêm mạc gấp lại thành một nếp.

giống
2 lần/ngày, 20 - 25 phút/lần.
Còn Nguyễn Văn Trí (2008) [16] cho rằng, tuổi động dục đầu tiên ở lợn
nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng
65 -70 kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55
kg. Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn nái hậu bị được sinh
vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân.
- Tuổi phối giống lần đầu:
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [17] cho rằng: không nên
phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển
đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một
cách hoàn chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền
cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng
đạt 40 - 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg,
nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi.


13

Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn
mẹ. Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến
sinh sản của lợn.
- Tuổi đẻ lứa đầu: theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2004) [5], Lợn
Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12
tháng tuổi, không nên để quá 14 tháng tuổi.
- Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ.
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày. Thời gian
động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn
ngoại) (Nguyễn Văn Thiện, 2002) .

phát triển đầy đủ dưới tác động của thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện
những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra
ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút
niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài. Trước
khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm
môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa
bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời
gian gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong.
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu.
- Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm. Tuy
nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất


15

sinh sản của lợn. Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ
tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm...
2.2.3. Một số hiểu biết về bệnh viêm tử cung
* Nguyên nhân
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường xảy ra ở lợn nái sau đẻ, có thể xảy
ra ở lợn nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị, thời gian hay xảy
ra nhất là sau khi đẻ 1 - 10 ngày. Bệnh xảy ra ở lợn mẹ do nguyên nhân sau:
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [12], lợn nái sinh sản đều mang vi

+ Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai
có ảnh hưởng đến viêm tử cung.
+ Lợn mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột gây khó đẻ, gây ra viêm tử cung
do xây xát. Ngược lại, thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề
kháng giảm không có khả năng chống lại mầm bệnh xâm nhập, gây viêm tử
cung.
+ Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A
gây sừng hóa niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận, 2006) [12].
- Do chăm sóc quản lý
+ Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước
khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh.
+ Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm
cho lợn nái bị viêm tử cung. Vì vậy, chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp
với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
Theo Lê Minh và cs. (2017) [7], bênh viêm tư cung ơ lơn nai thương do
các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái
gây viêm.


17

+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm

Trong trường hợp thai chết lưu, âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu
vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối. Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết
niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại
khó khăn.
Bệnh được chia làm 3 thể viêm chính gồm: viêm nội mạc tử cung (thể
nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể nặng)
với các biểu hiện cụ thể được trình bày trong bảng 2.2.
Bảng 2.2: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Thể viêm
Viêm nội
mạc tử cung

Viêm cơ
tử cung

Viêm tương
mạc tử cung

Sốt nhẹ

Sốt nhẹ

Sốt cao

Màu

Trắng, trắng xám

Hồng, nâu đỏ


Dịch
viêm

(Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [25] )
* Hậu quả của bệnh
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh
dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm
mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển.
Lê Thị Tài và cs. (2002) [8] cho rằng, đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status