“ Một số biện pháp sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ 45 tuổi khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số hiện tượng tự nhiên. - Pdf 51

Lêi CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo khoa
Giáo dục mầm non; Ban chủ nhiệm khoa - Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho em suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – PGS.TS. Lã
Thị Bắc Lý – Người đã trực tiếp giảng dạy và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thành bài tập tốt
nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớp
mẫu giáo 4 tuổi trường mầm non Hà An đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn
thành bài tập tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân và tập thể lớp Mầm Non
K9E đã quan tâm, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Quảng Yên , ngµy 1 th¸ng 9 n¨m 2014
Tác giả

Phùng Thị Phượng

1


MỤC LỤC

A. Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu

B. Phần nội dung

phải chăng mỗi chúng ta phải đặt ra câu hỏi: làm thế nào để phát huy nhận thức
đúng đắn cho trẻ? Giáo dục mầm non sẽ làm được điều ấy. Đó chính là ngành
học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị trí quan trọng trong giáo
dục mầm non, có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng vững
chắc có tầm đặc biệt quan trọng cho sự lớn lên trong nhân cách trẻ hình thành
đầy đủ trong 5 năm đầu của cuộc đời.
Mục tiêu của giáo dục học mầm non có tác dụng giáo dục toàn diện đặc
biệt giáo dục tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách trẻ một cách toàn diện.
Hệ thống giáo dục mầm non có vai trò đặc biệt quan trọng đó là nền tảng,
là cơ sở giáo dục các bậc học, là lớp học đầu tiên trong cuộc đời đi học của trẻ
đòi hỏi phải công phu để trẻ có tâm thế vững vàng. Chính vì vậy mục đích của
giáo viên mầm non nhằm hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách
3


con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như sự khỏe mạnh nhanh nhẹn, cơ
thể phát triển hài hòa cân đối, giáo dục trẻ lòng yêu thương, biết quan tâm
nhường nhịn những người gần gũi xung quanh mình, thật thà, lễ phép, mạnh dạn
tự tin, hồn nhiên, trẻ biết yêu cái đẹp trong cuộc sống. Từ đó giáo dục trẻ lòng
nhân ái, tính vị tha, giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn.
- Do vậy nhiệm vụ của trường mầm non là chăm sóc giáo dục trẻ phát
triển toàn diện để trẻ có đủ thể lực, đủ trí tuệ trong học trường phổ thông, phát
triển nhân cách toàn diện về mọi mặt dặt nền móng cho sự phát triển trí tuệ,
năng lực phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
- Có nhiều phương tiện để giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh.
Một trong những phương tiện đó chính là tác phẩm văn học. Chính vì vậy mà
em chọn đề tài “ Một số biện pháp sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ 4-5 tuổi
khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số hiện tượng tự nhiên. ”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

non
3. Phương pháp quan sát
- Mục đích: quan sát sự hứng thú của trẻ, quan sát hoạt động của giáo viên
đối với trẻ 4-5 tuổi nhằm tìm hiểu những biện pháp sư dụng tác phẩm văn học
cho trẻ 4- 5 tuổi khám phá môi trường xung quanh.
4. Phương pháp đàm thoại
- Mục đích: đàm thoại với giáo viên về sự nhận thức của trẻ, những thuận
lợi, khó khăn khi thực hiện.
5. Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phân tích, đánh giá thực tiễn biện pháp sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ
mầu giáo 4-5 tuổi khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số hiện tượng tự
nhiên từ đó rút ra những kết luận.

5


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : Cơ sở lí luận của đề tài
I. Cơ sở tâm lí học.
1. Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
- Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu,
nhưng do biểu tượng cong nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện
bên ngoài vào bìn diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán đơn
giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện hoạt động
vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác như kể chuyện, đi chơi, dạo chơi,...
vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm rất nhiều, chức năng kí
hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú tăng lên rõ rệt. Đó là điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng, đây cũng là thời
điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất.
- Trẻ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải

- Bên cạnh trí nhớ không chủ định, vào tuổi mẫu giáo nhỡ ghi nhớ có chủ
định bắt đầu hình thành. Có những thay đổi đó là vì điều kiện hoạt động phức
tạp hơn, người lớn yêu cầu cao hơn, buộc trẻ không những định hướng vào hiện
tại mà cả vào quá khứ và tương lai nữa.
II. Cơ sở giáo dục học
1. Nói về quan điểm giáo dục hiện đại
- Quan điểm giáo dục hiện đại hướng tới quan điểm “ Lấy trẻ làm trung
tâm ” hay còn gọi là xu hướng giáo dục “ hướng vào đứa trẻ ”, “ vì lợi ích của
chính bản thân đứa trẻ ”.
Trẻ em vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của hoạt động. Những kinh
nghiệm, tri thức của trẻ phải là sản phẩm của chính hành động trực tiếp của trẻ
với môi trường xung quanh. Tính tích cực là một phẩm chất quan trọng của nhân
cách, có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của con người nói chung và
trẻ mẫu giáo nói riêng.
Hứng thú và nhu cầu là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lực
thúc đẩy con người hoạt động. Trong quá trình giáo dục, người lớn phải chú ý
đến trẻ, hướng vào đứa trẻ, phải lấy trẻ làm trung tâm, vì sự phát triển của chính
đứa trẻ, tạo điều kiện cho chúng tích cực hoạt động.
Mọi tác động giáo dục muốn có hiệu quả cần phải chú ý đến biện pháp
giáo dục phù hợp với từng đứa trẻ, giúp cho mỗi đứa trẻ trở thành chính nó,
7


tránh lối giáo dục đồng loạt. Trẻ em chính là một chủ thể tích cực trong hoạt
động nhưng chúng rất cần đến sự giúp đỡ và hợp tác của cô giáo, của bạn bè.
` Khi tổ chức cho trẻ hoạt động, nhà giáo dục không áp đặt trẻ theo ý muốn
chủ quan của họ mà luôn luôn cho trẻ tự do chọn góc chơi, tự do hoạt động theo
nhu cầu hứng thú của mình. Tạo cơ hội, điều kiện cho trẻ được trải nghiệm,
được thực hành, được chia sẻ, được khám phá mình trong thế giới muôn hình
muôn vẻ xung quanh chúng.

vào đứa trẻ, giáo dục phải xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ, nhà giáo dục
không được áp đặt trẻ theo ý muốn chủ quan của mình, đứa trẻ phải được coi là
chủ thể tích cực trong các hoạt động của chúng còn giáo viên giữ vai trò là “
điểm tựa ”, là người tổ chức hướng dẫn, tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho trẻ
trong các hoạt động của hchungs trong trường mầm non.
2. Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường mầm non
Trường mầm non cần phải là nơi đào tạo và đảm bảo cho những giá trị
quan trọng của xã hội, cần phải phát triển những năng lực của. Giáo viên không
chỉ có chức năng truyền thụ kiến thức và thông tin cho trẻ em học mà phải là
người giúp đỡ và dạy cho trẻ em biết sử dụng vốn kiến thức, kinh nghiệm của
mình vào những tình huống có ý nghĩa đối với chúng.
Ngày nay, trong giáo dục mầm non, vấn đề cần hay không cần tích hợp
các môn học cũng như các hoạt động giáo dục trẻ không đặt ra nữa mà hiển
nhiên đã được khẳng định chắc chắn rằng, cần tích hợp các “ tiết học ”, các hoạt
động của trẻ với nhau. Xu hướng tiếp cận tích hợp trong giáo dục mầm non cũng
xuất phát từ nhận thức thế giới tự nhien- xã hội con người nói chung và trẻ ở lứa
tuổi mầm non nói riêng là một tổng thể thống nhất. Trẻ được phát triển trong
hoạt động và chỉ thông qua hoạt động mà hoạt động nào cũng liên quan đến
nhiều lĩnh vực kiến thức, kỹ năng. Vì thế mà cần phải cung cấp cho trẻ những
kiến thức, kinh nghiệm sống một cách tổng thể.
Có nhiều cách tích hợp trong giáo dục mầm non và một trong những cách
đó là tích hợp theo chủ đề. Cách tiếp cận này xoay quanh một “ môn học ” hoặc
một hoạt động “ công cụ ”, “ môn học ” hoặc hoạt động này có đặc điểm là chỉ
có một phần nội dung là đặc thù nhưng lại có thể nhận những môn khác làm nội
dung của mình. Ví dụ như hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa
tuổi ấu nhi và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo có thể trở thành hoạt động
9


chính để tích hợp, lồng ghép và đan cài các hoạt động khác của trẻ theo các chủ



* Sau khi đã lựa chọn chủ đề, tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ theo các
bước:
- Giới thiệu chủ đề: Các chủ đề có thể được giới thiệu theo các cách khác
nhau. Có thể sử dụng phương pháp dẫn dắt trẻ hướng vào chủ đề một cách tự
nhiên, logic như trò chuyện, đàm thoại với trẻ, nêu câu hỏi, tạo tình huống,
thông qua bài hát, bài thơ, câu đố, đồ vật minh họa.
Ví dụ: Chủ đề “ một số hiện tượng tự nhiên ” cô có thể đọc bài thơ “ Mưa ” ,
“ Bão ”, “ Trời mưa, trời gió ”... cùng trẻ trò chuyện về nội dung bài thơ, sau
đó cô giới thiệu về chủ đề.
- Cho trẻ khám phá tìm hiểu chủ đề: Tổ chức cho trẻ khám phá chủ đề
thông qua các hoạt động mang tính tích hợp.
- Đóng chủ đề: Củng cố lại kiến thức đã học. Ví dụ như cho trẻ kể lại một
câu truyện có trong chủ đề như truyện lời ru của trăng, cô mây, đám mây đen
xấu xí, gió và mặt trời... hoặc cho trẻ vẽ minh họa câu chuyện giúp trẻ không bị
giảm hứng thú đột ngột.
III. Hoạt động khám phá môi trường xung quanh
1. Nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
- Qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh trẻ học được các từ
chỉ một số hiện tượng tự nhiên: mưa, nắng, sấm, chớp .... Nghe và hiểu nội dung
các câu đơn, câu mở rộng. Trẻ biết dùng từ để bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh
nghiệm bản thân bằng các câu đơn, câu mở rộng. Trẻ trả lời và đặt các câu hỏi:
Đây là hiện tượng gì? Có đặc điểm gì? ....
- Trẻ được làm quen với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ gồm các yếu
tố như nước, không khí, ánh sáng, động vật....Là phương tiện để giáo dục trẻ. Nó
chứa đụng các yếu tố cần thiết để hình thành ở trẻ biểu tượng về tự nhiên hữu
sinh và tự nhiên vô sinh, giáo dục tình cảm tốt của trẻ vói chúng.
- Hiện thực xã hội chỉ ra cho trẻ thấy mối quan hệ diễn ra trong xã hội ,
giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm xã hội, hiểu vị trí của mình trong đó, là thành viên

nhớ, t duy lô gic, tởng tợng.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, tích luỹ vốn từ, phát
âm đúng, nói câu đầy đủ, học cách diễn tả suy nghĩ mong
muốn của mình, hiểu lời nói, suy nghĩ và mong muốn của ngời khác, phản ứng nhanh, linh hoạt. Vì vậy các phơng pháp dùng
12


lời nói thờng kết hợp với phơng pháp quan sát sử dụng tranh ảnh
phim. Lời nói làm sâu sắc ý thức của trẻ về mối quan hệ và
sự phụ thuộc có trong tự nhiên. Nó có tiềm năng trong việc
hình thành những tri thức ngoài phạm vi kinh nghiệm của trẻ,
làm cho các tri thức này đợc tổng hợp, khái quát.
Khi sử dụng phơng pháp dùng lời cần dựa trên đặc điểm
của trẻ về kĩ năng hiểu lời nói, chú ý có chủ định, khả năng
tập trung chú ý đến nội dung. Những biểu tợng cụ thể rõ ràng
của trẻ về mt s hin tng t nhiờn cũng có thể là đối tợng để trẻ
trao đổi làm chính xác và tổng hợp tri thức. Trong quá trình
này nên phối hợp sử dụng phơng pháp trực quan để giúp trẻ suy
nghĩ và củng cố tri thức.
- Nhúm phng phỏp thc hnh bao gm cỏc phng phỏp nh: s dng
cỏc loi trũ chi ( Hc tp, vn ng, sỏng to); phng phỏp thớ nghim, lao
ng.
Dựa vào hoạt động cơ bản của trẻ ở trờng mầm non, ta có
thể sử dụng các phơng pháp trò chơi, thí nghiệm, lao động
trong quá trình giúp trẻ khám phá về mt s hin tng t nhiờn.
Thông qua các hoạt động thực hành này trẻ sẽ lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử, xã hội. Trẻ có cơ hội thể hiện tính chủ động
tích cực, sáng tạo và độc lập trong việc tiếp thu tri thức. Quá
trình hoạt động sẽ hình thành các phẩm chất nhân cách ở trẻ
nh tính kiên trì, bền bỉ, biết vợt qua khó khăn, cố gắng đạt


cô giáo là người trông trẻ chứ không nghĩ các cô là người dạy, không quan tâm,
hỏi han con được học gì trẻn trường, cô giáo dạy con những gì? Tuy nhiên cũng
có những phu huynh thì rất quan tâm đén việc cho con đén trường, con được học
những gì trên lớp, họ còn có sự hợp tác với nhà trường, với cô giáo, họ hiểu
được công việc của các cô trên lớp. Khi con đi học về, phụ huynh hỏi con mình
xem cô giáo dạy con bài thơ, bài hát gì ? Và cho con đọc lại cho cả nhà cùng
nghe....
II. Đối tượng điều tra
1. Giáo viên dạy lớp mẫu giáo nhỡ

STT

Họ tên giáo viên

Trình độ

Thâm liên

1

Nguyễn Thị Nga

Đại học

8 năm

2

Vũ Thị Ly


Nguyễn Thị Mơ

Cao đẳng

8 năm

7

Vũ Thị Phương Loan

Trung cấp

7 năm

8

Đinh Thị Thúy Dung

Trung cấp

5 năm

III. Nội dung điều tra
1. Điều tra nhận thức của giáo viên về việc sử dụng tác phẩm văn học giúp trẻ
khám phá môi trường xung quanh.
2. Điều tra các biện pháp giáo viên đã thực hiện khi sử dụng tác phẩm văn học
khi khám phá môi trường xung quanh.
IV. Phương pháp điều tra
1. Phương pháp dùng phiếu hỏi

Số lượng

%

6

75

2

25

0

0

Giáo viên
8

Phân tích: Qua bảng kết quả chúng ta thấy:
Trong số 8 giáo viên chúng tôi điều tra thì số giáo viên cho rằng việc sử
dụng tác phẩm văn học cho trẻ khám phá môi trường xung quanh là việc rất cần
thiết có 6 người chiếm tỷ lệ 75%. Còn số ít giáo viên cho rằng việc sử dụng tác
phẩm văn học cho trẻ khám phá môi trường xung quanh là cần thiết có 2 người
chiếm tỷ lệ 25%.
Trong số 8 giáo viên được chúng tôi điều tra thì không có giáo viên nào
trả lời cho rằng việc sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ khám phá môi trường
xung quanh là không cần thiết. Như vậy, có thể nói rằng nhận thức của giáo viên
16



0

0

Giáo viên
8

Phân tích: Qua bảng kết quả chúng ta thấy:
Trong số 8 giáo viên chúng tôi điều tra thì có 50% giáo viên có sử dụng
tác phẩm văn học cho trẻ khám phá môi trường xung quanh, 50% giáo viên
thường xuyên sử dụng tác phẩm văn học, không có giáo viên nào không sử dụng
tác phẩm văn học cho trẻ khám phá môi trường xung quanh.
Câu hỏi 3: Khi cho trẻ khám phá môi trường xung quanh chị sử dụng những
biện pháp nào?
3/8 giáo viên sử dụng biện pháp trò chuyện, đàm thoại với trẻ theo chủ đề
là chủ yếu, đôi khi có sử dụng kết hợp cả biện pháp sử dụng trò chơi.
2/8 giáo viên trả lời rất chung chung là kết hợp đầy đủ các biện pháp song
không nói rõ đó là biện pháp cụ thể nào.
3/8 giáo viên sử dụng biện pháp đàm thoại kết hợp cùng với đồ dùng trực
quan và các tác phẩm văn học.
Như vậy, việc sử dụng các biện pháp cho trẻ khám phá môi trường xung
quanh của giáo viên chưa đồng bộ, chưa triệt để. Rất nhiều giáo viên còn lúng
túng khi đưa ra các biện pháp, nhiều khi các biện pháp có được sử dụng đầy đủ,
hợp lý hay không còn phụ thuộc vào tiết học ấy có được kiểm tra dự giờ hay
không.
17


Câu hỏi 4: Chị đã sử dụng những hình thức nào cho trẻ khám phá môi trường

Giáo viên
8

23

28,8

21

26,3

19

23,8

17

21,3

Phân tích: Qua bảng kết quả cho thấy trong số những phương tiện cơ bản
được sử dụng cho trẻ khám phá môi trường xung quanh như: vật thật, tranh ảnh,
mô hình, băng hình thì việc cho trẻ khám phá môi trường xung quanh bằng vật
thật được giáo viên đánh giá cao nhất đạt 23 điểm chiếm 28,8%.
Theo chúng tôi sở dĩ có kết quả như vậy là do khi cho trẻ khám pha môi
trường xung quanh thông qua vật thật giúp trẻ được trực tiếp tự giác, sử dụng
các giác quan sờ, nếm, ngửi đối với rau củ quả.... Vật thật rất sinh động, sẽ gây
hứng thú cho trẻ, phát huy tư duy, trẻ dễ nhớ, ấn tượng sâu sắc.
Còn đối với việc sử dụng băng hình đạt 17 điểm chiếm 21,3%. Theo
chúng tôi việc sử dụng băng hình cho trẻ khám phá môi trường xung quanh là
rất khó, bởi lẽ trẻ không được tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, ở trường mầm



CHƯƠNG 3: Đề xuất các biện pháp sử dụng tác phẩm văn học
cho trẻ 4-5 tuổi khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số
hiện tượng tự nhiên
I. Khái niệm biện pháp
- Biện pháp là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa
giáo viên với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã dặt ra.
II. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
1. Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với chương trình giáo dục mầm non.
2. Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với đặc điểm tâm lí trẻ em 4-5 tuổi.
3. Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện của trường.
III. Các biện pháp đề xuất
1. Biện pháp 1: Biện pháp sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ khám phá môi
trường xung quanh: Biện pháp đọc mẫu, kể chuyện.
- Mục đích: Gây hứng thú cho trẻ khi bước vào tiết học, giúp trẻ thoải mái
hơn khi kết thúc hoạt động.
- Yêu cầu: Các bài thơ, câu chuyện phù hợp với nội dung của bài, phù hợp
với nhận thức của trẻ.
- Thực hiện:
+ Giáo viên lựa chọn những bài thơ, mẩu chuyện, câu đố,.. phù hợp với
chủ đề và nội dung bài học để dẫn dắt trẻ vào tiết học một cách lôi cuốn, hấp
dẫn, tạo cho trẻ niềm hứng thú, hang say học tập.
Ví dụ: Cô và trẻ đọc bài thơ “ Mưa ”
Mưa rơi tí tách
Hạt trước hạt sau
Không xô đẩy nhau
Xếp hàng lần lượt
Mưa vẽ trên sân
Mưa dàn trên lá

Gió và mặt trời”, “ Cầu vồng ”.
3. Biện pháp 3: Sử dụng tác phẩm văn học để hướng dẫn trẻ trong tiết học

21


- Từ nội dung bài dạy, giáo viên có thể chọn những câu chuyện, tình
huống chuyện... phù hợp để đưa vào trong tiết học của trẻ, hướng dẫn trẻ tham
gia vào hoạt động đạt kết quả.
- Trẻ mầm non rất thích các câu truyện, thông qua các câu chuyện đó và
nếu được trải nghiệm trong các câu chuyện để giúp đỡ các nhân vật đang gặp
khó khăn là điều trẻ vô cùng thích thú, trẻ sẽ tham gia hết mình để làm được
những việc tốt ấy.
4. Biện pháp 4: Sử dụng tác phẩm văn học để chuyển tiếp từ phần này sang
phần khác trong tiết học.
Trong một tiết học có nhiều phần nhỏ, khi chuyển từ phần này sang phần
khác, giáo viên cần lựa chọn những cách khác nhau như: lời dẫn, đồ chơi, đố
toán,... nhằm tạo ra hứng thú với phần sau để duy trì hứng thú của trẻ suốt cả tiết
học. Dùng tác phẩm văn học cũng là một cách khá hay, vừa có tác dụng giúp trẻ
tích cực hơn với phần sau, vừa giúp trẻ nhớ lại các bài thơ, câu chuyện, bài đồng
dao, ca dao đã học. Sử dụng các câu đố còn giúp trẻ nhanh nhạy hơn khi đoán
giải các bài tập mà cô giáo đố trẻ.
Tùy vào mỗi hoạt động, mỗi chủ đề, mỗi giáo viên sẽ sử dụng các tác
phẩm văn học như thế nào để chuyển tiếp các hoạt động khác nhau. Điều quan
trọng là giáo viên phải biết cách khai thác các tác phẩm văn học khi chuyển tiếp
các phần sao cho có hiệu quả nhất đối với việc lĩnh hội tri thức của trẻ. Cách sử
dụng tác phẩm văn học để chuyển tiếp các hoạt động trong tiết học của trẻ có
hay hay không, trẻ thích hay không phụ thuộc vào mỗi giáo viên.
Tiết học môi trường xung quanh có sử dụng yếu tố văn học là một trong
những nội dung giáo dục nhận thức cần thiết cho trẻ ở trường mầm non, giúp trẻ

cho tr khỏm phỏ mụi trng nú cn cú phng tin cho tr hot ng mi
23


lỳc, mi ni, bin phỏp phong phỳ v a dng, hỡnh thc t chc phi hp lý
trong c tit hc v ngoi tit hc.
3. í kin xut v gii phỏp.
- o to i ng cho giỏo viờn i thm quan thc t hc hi kinh
nghim trng bn nhiu hn, hc hi trờn cụng ngh thụng tin. Đa dạng các
hình thức bồi dỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cho đội ngũ giáo viên, đặc biệt là kiến thức vận dụng tỏc phm
vn hc cho tr khám phá môi trờng xung để nâng cao hiểu biết
của giáo viên, trên cơ sử đó áp dụng thích hợp vào công tác dạy
ở trờng mầm non.
V c s vt cht : cung cp thờm trang thi b dung, chi phc v
cho khỏm phỏ mụi trng xung quanh a dng v phong phỳ them.
Bn thõn giỏo viờn mm non cn :
+ S dng cỏc hỡnh thc, phng phỏp sỏng to cú khoa hc v cỏc bin
phỏp nng ghộp cỏc b mụn khỏc sao cho phự hp, gõy c hng thỳ vi tr.
+ Cõn c gng hc hi trao i kinh nghim vi bn bố, ng nghip cng
nh th h i trc v tham kho cỏc ti liu, sỏch v.
+ Luụn luụn lng nghe ý kin úng gúp xõy dng, bit sa cha nhng
khuyt im v phỏt huy nhng mt mnh, tớch cc, luụn luụn lng nghe cỏc ý
kin úng gúp xõy dng, bit sa cha khuyt im ca bn thõn. ng thi bit
t rỳt ra kinh nghim sau mi hot ng giỳp tr phỏt trin ton din nhõn
cỏch tt hn.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status