Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học - Pdf 51

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ- GIÁO DỤC HỌC
-----------------------------------------------

NGÔ THỊ SÁNG

GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI
TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC
MAI ĐÌNH SỐ 1, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Giáo dục học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội- 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ- GIÁO DỤC HỌC
-----------------------------------------------

NGÔ THỊ SÁNG

GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI
TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC
MAI ĐÌNH SỐ 1, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Giáo dục học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Thị Thanh Hồng


Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.

Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Ngô Thị Sáng


MỤC LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NSPCC
ECPAT
WHO
UNICEF
XHTD

Hiệp hội quốc gia phòng chống bạo hành trẻ em
Tổ chức chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán
trẻ em nhằm bóc lột tình dục
Tổ chức y tế thế giới
Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
Xâm hại tình dục

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ




nhà trường còn rời rạc, chưa thực sự được quan tâm đúng mực. Xuất phát từ thực tiễn

8


đó, tôi quyết định chọn đề tài: “ Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục
cho học sinh trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống
xâm hại tình dục của trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang,
từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho
học sinh tiểu học, qua đó góp phần giảm thiểu những ca trẻ em bị xâm hại trên địa bàn
tỉnh, tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em phát triển và hoàn thiện nhân cách.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh trường
Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh lớp 4
trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho học sinh của
trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang vẫn chưa thực sự
được chú trọng, quan tâm. Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục kỹ năng phòng
chống xâm hại tình dục trẻ em một cách chặt chẽ, đồng bộ thì sẽ phòng tránh được các
nguy cơ bị xâm hại tình dục cho trẻ, góp phần tạo điều kiện cho các em có một cuộc
sống lành mạnh, đảm bảo cho sự phát triển nhân cách một cách toàn diện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục
cho học sinh tiểu học.

viên có kinh nghiệm, các nhà quản lý giáo dục để xin ý kiến, trao đổi về những vấn đề
có liên quan như thực trạng và khảo nghiệm các biện pháp phòng chống xâm hại tình
dục cho học sinh trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
7.2.3 Phương pháp điều tra giáo dục
Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của giáo viên, học sinh về thực
trạng giáo dục phòng chống xâm hại tình dục để thu thập thông tin cần nghiên cứu.
7.2.4 Phương pháp quan sát
Thu thập thông tin về thực trạng giáo dục giáo dục kỹ năng phòng chống xâm
hại tình dục cho học sinh của trường Tiểu học Mai Đình số 1 trên cơ sở tri giác trực
tiếp các hoạt động sư phạm.

10


7.3 Phương pháp thống kê toán học
Được sử dụng để xử lý kết quả nghiên cứu khảo sát thực trạng và khảo nghiệm
sư phạm.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, Khóa luận gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học
sinh Tiều học.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh
trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Chương 3: Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh
trường Tiểu học Mai Đình số 1, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

11


CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG


12


Một số nghiên cứu khác lại cho rằng xâm hại tình dục trẻ em xảy ra khi người
lớn hoặc một người nhiểu tuổi hơn hoặc một người có quyền lực hơn giao tiếp với trẻ
em về tình dục để cảm thấy thỏa mãn về tình dục (Danya Glaser and Stephen Frosh,
1993; S.N. Madu. 2001) [2, tr 50].
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam đang trở thành chủ đề
nhức nhối, số lượng lớn trẻ bị xâm hại mỗi năm đang trở thành hồi chuông cảnh báo
cho sự biến chất, suy đồi đạo đức xã hội và gây lên nhiều bức xúc trong dư luận xã
hội. Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về vấn đề này.
Với khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi đề cập tới một vài nghiên cứu sau:
“Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em
và giải pháp khắc phục”- một nghiên cứu của tác giả Dương Tuyết Miên ( giảng viên
khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội) được đăng tải trên Đặc san về Bình
đẳng giới, tạp chí Luật học. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích những tổn hại tâm lý mà
người phạm tội gây ra cho nạn nhân của tội này. Đó không chỉ đơn thuần là thiệt hại về
thể chất mà còn là những thiệt hại về tinh thần, bị sốc, đau đớn về thể xác, bị lây
nhiễm các bệnh về tình dục trong đó có bệnh HIV hoặc có thai. Những hậu quả này
không chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn mà có thể tồn tại trong một thời gian dài sau
khi vụ hiếp dâm xảy ra. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục
như: Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về việc quy định biện pháp xử lý tội
hiếp dâm trong bộ luật hình sự cũng như việc xét xử tội này; thành lập những trung
tâm tư vấn về tâm lý để giúp cho người phụ nữ (là nạn nhân của tội hiếp dâm) có thể
tâm sự để trút gánh nặng tâm lý, vơi bớt nỗi đau đè nặng trong lòng; đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công dân;… [23].
Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta thời kỳ 2000- 2010” của các chuyên gia

2107). Luận văn khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng, thực trạng phối hợp
giữa các lực lượng cộng đồng trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6-11
tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên, nhận thấy vấn đề cần quan tâm nhất trong việc phối
hợp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em của các lực lượng cộng đồng chính là việc
trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em cũng
như cho cả cộng đồng và các hình thức, cơ chế phối hợp các lực lượng cộng đồng chặt
chẽ hơn trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em [20].
Từ việc khái quát những nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, nghiên cứu về
phòng chống xâm hại tình dục trẻ em đã được nhiều tác giả, tổ chức trong và ngoài
nước quan tâm. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về giáo dục phòng chống xâm

14


hại tình dục trẻ em trong nhà trường tiểu học còn chưa có. Vì vậy, việc nghiên cứu về
giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học là có ý nghĩa và
tính cấp thiết cao.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Trẻ em
Theo điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (United
Nations Convention on the rights of the child- CRC) có quy định như sau: “Trong
phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [6].
Căn cứ vào khái niệm trẻ em trong công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em, các quốc gia dựa trên điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội cũng như khả năng của
nền kinh tế để đưa ra những quy định của mình về giới hạn độ tuổi của trẻ. Tại Trung
Quốc, theo điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định trẻ em còn được gọi là
trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi. Theo điều 1 Luật Liên bang Nga số 124FZ ngày 21/7/1998 (sửa đổi): Trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18 [19].
Ở Việt Nam, theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì: “Trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”[8]. Như vậy, quy định về tuổi của trẻ em

cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi
hình thức.
Xao nhãng: là việc ai đó không đáp ứng những hình thức chăm sóc cơ bản đối
với trẻ em, bao gồm: bỏ mặc trẻ trước những nguy cơ, từ chối việc chăm sóc y tế hoặc
các nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ.
Theo Luật Trẻ em 2016, khái niệm về xâm hại trẻ em được hiểu như sau:
“Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân
phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán,
bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [9].
Theo quan điểm này, các hành vi xâm hại bao gồm:
Bạo lực trẻ em: là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức
khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý
khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.
Bóc lột trẻ em: là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về
lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động
du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ
em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi.
Xâm hại tình dục trẻ em: là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc,
lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp

16


dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại
dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em: là hành vi của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “xâm hại trẻ em là việc
ai đó có những hành vi gây tổn hại đến thể chất và tinh thần, danh dự của trẻ dưới

truyện khiêu dâm, tìm cách hướng dẫn, kích thích tình dục trẻ, rình xem trộm hoặc
sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em.
Theo định nghĩa của Finkelhor (2009): “child sexual abuse to include the
entire spectrum of sexual crimes and offenses in which children up to age seventeen
are victims”[25, tr170].
Với định nghĩa này, xâm hại tình dục được hiểu là bao gồm toàn bộ hành vi
phạm tội về tình dục mà trẻ dưới 17 tuổi là nạn nhân. Cũng theo định nghĩa này, người
phạm tội hoặc có hành vi xâm hại tình dục trẻ em có thể là người lớn, người quen biết
hoặc không quen biết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác. Bên cạnh những hành
vi phạm tội xâm hại tình dục có giao cấu, định nghĩa này cũng bao hàm cả những hành
vi phạm tội trong đó người phạm tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau
về mặt thể xác như: gạ gẫm, bắt trẻ em nhìn và xem các hành vi tình dục, sử dụng trẻ
để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm,…
Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “Xâm hại tình dục trẻ em
là việc ai đó dụ dỗ, lô kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc trẻ em tham gia vào các
hoạt động có liên quan đến tình dục”.
1.2.4 Kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục
 Kỹ năng

Kỹ năng là một vấn đề phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này,
có thể kể ra ở đây một số tiếp cận của các tác giả khác nhau [10]:
Theo nhà tâm lý Liên Xô L.D Livetov: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một
động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng
những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Theo ông, người có
kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn cách cách thức hành
động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Theo quan điểm của ông, con người có kỹ
năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế.
Theo quan điểm của A.V.Petrovxki: Kỹ năng là sự vận dụng tri thức đã có để
lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra.


động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tình cách của nhân cách, những hành vi, thói
quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao
lưu nhằm giúp người học biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
người học.
Với khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi sử dụng khái niệm giáo dục (theo
nghĩa hẹp). Từ đây, có thể hiểu giáo dục trong nhà trường tiểu học là một quá trình,

19


trong đó dưới sự tác động sư phạm của người giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ
động tự tổ chức hoạt động nhằm hình thành ý thức, thái độ, niềm tin, hành vi phù hợp
với yêu cầu của xã hội.
 Khái niệm giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Từ việc phân tích khái niệm giáo dục, khái niệm kỹ năng, theo chúng tôi:
“Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một quá trình, trong đó người
giáo viên vận dụng các hình thức giáo dục như tư vấn, tuyên truyền, tổ chức các buổi
nói chuyện để cung cấp kiến thức, kỹ năng hoặc lồng ghép vào các hoạt động, tiết học
trên lớp để học sinh có thể tránh được nguy cơ bị xâm hại và chống lại hành vi xâm
hại tình dục, chủ động tự bảo vệ bản thân mình.”
1.3 Lý luận về xâm hại tình dục trẻ em
1.3.1 Các mức độ xâm hại tình dục trẻ em
Kế thừa và phát triển Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự hiện hành đã
cụ thể hóa các loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em tại các Điều 112- Tội hiếp dâm trẻ
em, Điều 114- Tội cưỡng dâm trẻ em, Điều 115- Tội giao cấu với trẻ em và Điều 116Tội dâm ô với trẻ em. Tương ứng với các loại tội phạm này chính là các mức độ xâm
hại tình dục trẻ em. Trong đó [22]:
Hành vi hiếp dâm trẻ em : Mọi trường hợp giao cấu với trẻ dưới 13 tuổi hoặc
dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn
nhân là trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân là

+ Hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là trẻ em. Giao cấu trong tội hiếp
dâm trẻ em là quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn dục vọng của người phạm tội.
Hành vi cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi lệ thuộc mình hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn
cưỡng giao cấu.
Hành vi giao cấu với trẻ em là trường hợp người thành niên có hành vi giao cấu
với đối tượng là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hành vi này được thực hiện
với sự thuận tình của trẻ em.
Tuy nhiên, ở lứa tuổi này sự phát triển của trẻ em cả về thể chất và tâm sinh lý
là chưa đầy đủ. Ngoài ra, sự nhận thức cũng như hiểu biết về quan hệ tình dục và hậu
quả của nó nằm ngoài khả năng của trẻ em. Do vậy, người thành niên phải có trách
nhiệm hướng dẫn, giáo dục và chăm lo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của
trẻ em, nhằm tránh cho trẻ em không có ý thức và khả năng kiểm soát.
Hành vi dâm ô với trẻ em là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ đoạn
có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng của mình
nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân. Biểu hiện của hành vi dâm ô đó là:
+

Buộc trẻ thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục và các bộ

phận khác trên cơ thể người phạm tội để tìm cảm giác khoái lạc.
+ Thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục của trẻ em như: nắn,
sờ, xoa bóp, hôn hít,… nhằm tạo cảm giác khoái lạc cho mình.
Đây là hành vi tình dục nhưng không phải là hành vi giao cấu, hành vi đó có
đặc điểm thỏa mãn hoặc khêu gợi, kích thích nhu cầu tình dục.
1.3.2 Dấu hiệu trẻ bị xâm hại tình dục
Thông thường ở những trẻ bị xâm hại tình dục thường ít có dấu vết bên ngoài
cơ thể. Nhiều trường hợp không có bằng chứng của sự hoảng loạn hoặc tổn thương thể

21

chất thường có thể thấy từ sớm, ngay sau khi trẻ bị xâm hại tình dục như: gây ra những
tổn thương nặng nề tại bộ phận sinh dục của trẻ, nhất là ngay sau khi bị xâm hại tình
dục, trẻ đi lại hoặc ngồi khó khăn. Nghiêm trọng hơn, với những trường hợp đi kèm

22


với bạo lực, trẻ bị xâm hại có thể dẫn tới tử vong. Nhiều nạn nhân trẻ em bị nhiễm các
bệnh xã hội, bệnh lênh truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.
Với nạn nhân là trẻ em gái đã đến tuổi dậy thì, việc bị xâm hại tình dục có thể
khiến các em mang thai ngoài ý muốn. Khi cơ thể trẻ đang ở độ tuổi phát triển chưa
hoàn chỉnh, việc mang thai ngoài ý muốn rất nguy hiểm cho bản thân các em và cả thai
nhi. Nhiều trường hợp các em đã phải phá thai vì chưa ý thức được vai trò, trách
nhiệm làm mẹ. Điều này gây ra những tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí có
khả năng dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản và hạnh phúc gia
đình của các em về sau,…
Xâm hại tình dục cũng gây ra những hậu quả về mặt tinh thần cho trẻ em trong
cả một thời gian dài. Trẻ có thể có những cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng ra
hình ảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại; tức giận bất thường và có các hành
vi hung tính ( đạp phá đồ đạc, đánh người xung quanh,..). Nhiều trường hợp trẻ tự gây
hại cho bản thân như tự trẻ làm đau mình, tự cắn mình hoặc dùng dao rạch vào cơ thể,
… Trẻ rơi vào trạng thái hoảng sợ và không có lối thoát. Vì thế nhiều em rơi vào trạng
thái bế tắc và tìm đến cái chết.
Xâm hại tình dục còn gây ra những lệch lạc giới tính cho các em. Khi trẻ em bị
xâm hại tình dục có thể trẻ sẽ không phát triển một cách tự nhiên về mặt sinh lý mà có
nguy cơ bị lệch lạc về tình dục. Những ám ảnh về việc bị lạm dụng, đặc biệt là hành vi
tình dục đồng giới có thể khiến trẻ trở thành những người đồng tính luyến ái.
Khi trẻ ở độ tuổi lớn hơn, việc từng bị xâm hại tình dục có thể khiến trẻ cảm
thấy khó khăn trong việc tiếp xúc với bạn khác giới, khó vui chơi bình thường như các
bạn cùng trang lứa. Sự tổn thương sẽ trở thành nỗi đau âm ỉ trong tầm hồn các em,

Trong đó:
 Sự phát triển của tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học đã có những thay đổi đáng kể so với trẻ mẫu giáo,
chuyển từ tri giác chi tiết sang tri giác tổng hợp. Một dạng tri giác mới với chất lượng
cao hơn tri giác thông thường bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh- đó là quan sát. Các
thao tác trí tuệ ở lứa tuổi này được học sinh thực hiện tốt trên các dữ liệu hình tượng
cụ thể dưới dạng các vật thật hoặc mô hình.
 Sự phát triển của chú ý

Nếu như ở trẻ mầm non chú ý có chủ định còn nhiều hạn chế thì ở học sinh tiểu
học chú ý có chủ định đã dần phát triển. Học sinh tiểu học đã có khả năng tập trung
chú ý ở mức độ nhất định với những tài liệu không mấy thú vị. Tuy nhiên, chú ý có
chủ định ở các em vẫn ở mức độ thấp, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, sức tập

24


trung chưa cao, dễ bị phân tán, lơ đãng với những ý nghĩ đâu đâu. Do đó, tài liệu học
tập cho trẻ ở lứa tuổi này cần dễ hiểu, trực quan, sinh động.
 Sự phát triển của tư duy

Trong các quá trình phát triển nhận thức của học sinh tiểu học thì sự phát triển
tư duy diễn ra mạnh mẽ nhất. Giai đoạn này tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành. Ở
học sinh tiểu học bắt đầu xuất hiện khả năng lý giải logic, sử dụng các thao tác trí tuệ
như cộng trừ nhân chia, phân loại, bảo toàn, xếp hạng,…. Năng lực khái quát hóa và
trừu tượng hóa còn hạn chế, tư duy còn mang nặng tính xúc cảm.
 Sự phát triển của trí nhớ

Ở lứa tuổi này, trí nhớ có chủ định phát triển dần. Khả năng ghi nhớ có chủ định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status