HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP
THÀNH PHẦN BỌ TRĨ TRÊN CÂY HỌ BẦU BÍ,
DIỄN BIẾN SỐ LƯỢNG VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC
PHÒNG TRỪ CHÚNG TRÊN CÂY DƯA CHUỘT
VỤ HÈ THU NĂM 2015 TẠI VĂN LÂM, HƯNG YÊN
Chuyên ngành:
Bảo vệ thực vật
Mã số:
60.62.01.12
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Hồng Thái
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
văn này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Điệp
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................ i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục từ viết tắt ......................................................................................................v
Danh mục bảng .......................................................................................................... vii
Danh mục hình .......................................................................................................... viii
Trích yếu luận văn ..................................................................................................... viii
Thesis abstract ...............................................................................................................x
Phần 1. Mở đầu ...........................................................................................................1
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................1
1.2.
Mục đích, yêu cầu............................................................................................2
1.2.1. Mục đích ............................................................................................................. 2
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................21
iii
3.4.1.
3.4.2.
Phương pháp điều tra thu thập thành phần bọ trĩ ............................................... 21
Phương pháp điều tra diễn biến số lượng của bọ trĩ trên cây dưa chuột ............. 23
3.4.4.
3.4.5.
3.4.6.
Phương pháp khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ ........................ 25
Chỉ tiêu và công thức tính toán .......................................................................... 28
Xử lý số liệu ...................................................................................................... 28
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ....................................................................29
4.1.
Kết quả ..........................................................................................................29
4.1.1. Thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí vụ hè thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên.....29
4.1.2.
4.1.3.
Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên cây dưa chuột vụ thu 2015 tại Văn
Lâm, Hưng Yên .............................................................................................42
Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến số lượng bọ trĩ hại dưa
chuột vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên ....................................................47
BNNPTNT
Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
CT
Công thức
cs.
Cộng sự
et al.
Và những người khác
NXB
Nhà xuất bản
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
sp.
Loài
STT
Bảng 4.10. Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ bọ trĩ hại dưa chuột trong
phòng thí nghiệm ......................................................................................53
Bảng 4.11. Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ bọ trĩ hại dưa chuột vụ thu
năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên ............................................................54
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1. Đặc điểm phân loại loài Thrips sp.1 ...........................................................33
Hình 4.2. Đặc điểm phân loại loài Thrips tabaci Lindeman........................................34
Hình 4.3. Đặc điểm phân loại loài Thrips sp. .............................................................37
Hình 4.4. Đặc điểm phân loại loài Frankliniella occidentalis Pergande......................36
Hình 4.5. Đặc điểm phân loại loài Haplothrips sp. .....................................................37
Hình 4.6. Đặc điểm phân loại loài Megalurothrips sp. ...............................................38
Hình 4.7. Đặc điểm phân loại loài Pauchaetothrips indicus .......................................39
Hình 4.8. Ruộng bị hại...............................................................................................41
Hình 4.9. Ruộng không bị hại ....................................................................................41
Hình 4.10. Lá bị hại .....................................................................................................41
Hình 4.11. Quả bị hại ..................................................................................................41
Hình 4.12. Ruộng được tỉa lá .......................................................................................50
Hình 4.13. Ruộng không được tỉa lá ............................................................................50
vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Thị Hồng Điệp
Tên luận văn: Thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí, diễn biến số lượng và biện pháp hóa
học phòng trừ chúng trên cây dưa chuột vụ hè thu năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên.
hơn các ruộng dưa chuột được bố trí ở khu vực có độ ẩm đất thấp. Viêc áp dụng các
biện pháp canh tác trong sản xuất dưa chuột để hạn chế sự gây hại của bọ trĩ ngày càng
viii
được phổ biến, trong đó có thể áp dụng các biện pháp ngắt tỉa lá già và che phủ luống
bằng ni lông để giảm mật độ bọ trĩ gây hại, đặc biệt không trồng dưa chuột sau cà tím,
đậu cô ve và bí xanh. Trong số 4 loại thuốc được thử nghiệm thì hiệu lực thuốc hóa học
Marshal 200SC (92,85%) cao hơn 3 loại thuốc Confidor 100SL (86,92%), Tasieu 5WG
(78,97%) và Abatimec 3,6EC (73,65%). Tuy nhiên, chỉ áp dụng các biện pháp hóa học
khi mật độ bọ trĩ cao, không nên xử lý thuốc hóa học thường xuyên mà nên sử dụng các
loại thuốc có nguồn gốc sinh học để bảo vệ môi trường, thiên địch và con người.
ix
THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Thi Hong Diep
Thesis title:Compostion of thrips species on cucurbits, the quantity development and
chemical measure to control them on cucumber in summer-autumn crop 2015 in Van
Lam district, Hung Yen province.
Major: Plant protection
Code: 60.62.01.12
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
The first aim of this research work was to determine the species composition of
thrips on cucurbits, the quantity development and chemical measure to control them on
cucumber archieve economic eficiency.
densities should regularly chemical using be applied. Instead of chemical abuse,
biological cures are preferred to protect the environment, predators and humans.
xi
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của con người,
rau cung cấp nhiều Vitamin, chất khoáng, chất xơ và rau có tính dược lý cao mà
các thực phẩm khác không thể thay thế được. Ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất
khẩu có giá trị cao, đem lại nhiều lợi nhuận, góp phần phát triển nền kinh tế quốc
dân. Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua,
cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay... trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều
triển vọng và có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định (Lê Thị Khánh, 2009).
Do đòi hỏi của thị trường như vậy, việc thâm canh tăng vụ, diện tích cây
trồng tăng nhanh và nó đã tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái vốn mang tính bền
vững, có số lượng quần thể đa dạng, nhưng đã bị thay vào đó là hệ sinh thái mới
chỉ có một vài loài tồn tại và luôn thay đổi theo thời gian. Một số loài có kích
thước cơ thể lớn như sâu cắn gié, bọ xít dài... có xu hướng giảm đi, ngược lại tình
trạng dịch hại của các loài có kích thước cơ thể nhỏ bé như bọ trĩ, bọ phấn, nhện
đỏ, nhện trắng, ruồi đục lá... ngày càng thể hiện rõ nét (Phạm Bình Quyền, 2005).
Rau là loại cây trồng có hàm lượng chất dinh dưỡng phong phú, hàm
lượng nước trong thân lá cao, thân lá non mềm là môi trường rất thích hợp cho
nhiều loại sâu bệnh hại sinh trưởng và phát triển. Sâu bệnh hại là một trong nhiều
nguyên nhân làm giảm năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa của rau (Tạ Thu
Cúc, 2007).
Cây thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) cũng không nằm ngoài quy luật nêu
trên, chúng bị nhiều loài sinh vật gây hại như: sâu xám, sâu đục quả, ruồi đục lá,
sâu ăn lá dưa, rệp, bọ trĩ… trong đó bọ trĩ là một trong những đối tượng gây hại
thu năm 2015 tại Văn Lâm – Hưng Yên.
- Điều tra diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số gây hại trên cây dưa chuột
dưới ảnh hưởng của một số yếu tố (giống, thời vụ, vị trí ruộng trồng, độ ẩm đất,
luân canh, ngắt lá già và che phủ luống).
- Thử nghiệm biện pháp hóa học phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột.
2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Bọ trĩ là loài đa thực, chúng gây hại nhiều loại cây trồng, ở nhiều nước
khác nhau. Theo Hà Quang Hùng và cs. (2005), bọ trĩ là côn trùng có kích thước
cơ thể nhỏ bé và nhẹ, nên khó phát hiện, ngay cả khi xuất hiện với số lượng lớn.
Chúng phân bố khắp thế giới, số lượng loài phân bố ở các vùng nhiệt đới, ôn đới
nhiều, thậm chí một vài loài đã lan rộng tới vùng Bắc cực. Bọ trĩ thuộc lớp côn
trùng Insecta, bộ cánh tơ Thysanoptera. Trên thế giới có khoảng 5000 loài bọ trĩ
được định danh, trong đó chỉ có 1% loài gây hại (Mound et al., 1973). Bọ trĩ xuất
hiện ở nhiều châu lục như Châu Phi, Bắc Mỹ, Trung Mỹ,..., đặc biệt là ở các
nước Châu Á.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, bọ trĩ đã trở thành loài sâu hại
nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, bởi lẽ tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả
năng phát tán mạnh và gây hại tất cả các bộ phận của cây trồng như lá, nụ, hoa và
quả non gây thành những vụ dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng
suất, phẩm chất cây trồng; gián tiếp là véc tơ truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây
(Hà Quang Hùng và cs., 2005). Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ
sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục, thiếu hiểu biết đã dẫn tới hiện
tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc hóa học, đồng thời tiêu diệt hầu hết các loài
thiên địch của bọ trĩ – một lực lượng sinh vật có ích quan trọng góp phần điều
hòa số lượng quần thể bọ trĩ trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp, điều đó dẫn tới
bộ cánh tơ mà chúng tập trung chủ yếu trong họ Thripidae với khoảng 1700 loài,
được phân bố trên khắp thế giới. Đa số các loài của Thripidae đều thuộc phân họ
Thripinae (Mound, 1997). Trong Terebrantia, có khoảng 1500 loài thuộc họ
Thripidae với 47 loài được tìm thấy ở New Zealand (Teulon, 1988). Trong số các
loài bọ trĩ gây hại trên cây trồng, chúng thuộc về 2 giống chủ yếu đó là Thrips và
Liothrips. Trong đó số lượng loài của Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng
255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài. Chỉ có 1
giống bọ trĩ ăn thực vật, Aeolothrips, bao gồm hơn 100 loài, 2 giống bọ trĩ ăn
nấm, mỗi giống bao gồm hơn 140 loài. Có 9 giống có từ 50 đến 100 loài; 95
giống có từ 10 đến 49 loài; 150 giống có từ 3-9 loài và 450 giống chỉ có 1 hoặc 2
loài (Mound, 2007).
Có 5000 loài được biết đến trong bộ cánh tơ được phân thành 8 họ. Tuy
nhiên, 93% tổng số loài thuộc 2 họ Thripidae hoặc Phlaeothripidae, là 2 họ
thường được tìm thấy trên cây trồng. Họ Heterothripidae gồm 70 loài ở Mỹ, được
mô tả trên hoa của một loạt cây bản địa. Thường gặp trên cây trồng, ít nhất là ở
vùng ôn đới, có 250 loài thuộc họ Aeolothripidae trên khắp thế giới. Những loài
trong họ này thường không bị coi là dịch hại. Về 2 họ chính của bộ cánh tơ, họ
Phlaeothripidae chiếm số lượng nhiều nhất với 3.100 loài được mô tả; 600 loài
trong số đó, tạo thành phân họ Idolothripinae, chỉ ăn bào tử nấm, nhưng ít nhất
4
một nửa số loài nằm trong phân họ thứ hai, Phlaeothripinae, chỉ ăn sợi nấm. Bọ
trĩ ăn nấm sống trong gỗ mục hoặc lá khô, đặc biệt ở những nước nhiệt đới và
dường như có rất ít hoặc hầu như không có ảnh hưởng đến cây trồng, thậm chí là
véc tơ của các mầm bệnh. Tuy nhiên, trong họ Phalaeothripinae có 2 giống chính
của loài ăn thực vật. Một giống bao gồm nhiều loài, thức ăn chính của chúng là lá
cây nhiệt đới và cây bụi (Mound, 1997).
156 loài bọ trĩ ở Đài Loan đã được phát hiện, trong đó có 70 loài gây hại
trên cây trồng, trên cây rau đã ghi nhận được 27 loài. Các loài có ý nghĩa quan
tabaci, được phát hiện gây hại trên 27 loài cây thảo mộc.
2.3.2. Tình hình gây hại của bọ trĩ
Cho đến nay bọ trĩ đã gây hại trên rất nhiều nước trên thế giới như
Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Ấn Độ, khu vực Đông
Nam châu Á, chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng như dưa hấu, khoai tây, đậu
đỗ, bầu bí, hành tỏi…., gây hại trên các bộ phận của cây trồng như nõn, lá, hoa
và quả non. Bọ trĩ đã làm giảm 20% năng suất hồ tiêu của Indonesia, 29% năng
suất lạc ở Ấn Độ (Hà Quang Hùng và cs., 2005).
Bọ trĩ là loài duy nhất truyền tospovirus, thuộc họ Thripidae và phân họ
Thripinae. Trong số 1.710 loài được biết đến thuộc họ Thripidae chỉ có 14 loài bọ
trĩ hiện đang được xác định là truyền tospovirus. Trong đó Frankliniealla
occidentalis, Frankliniella schultzei là tác nhân truyền 5 loại tospovirus, Thrips
palmi là tác nhân truyền 4 loại tospovirus . Bọ trĩ truyền tospovirus gây thiệt hại
nghiêm trọng về năng suất cho một số cây trồng quan trọng về kinh tế tại Hoa Kỳ
và trên toàn thế giới. Một tospovirus (Tomato spotted wilt virus) đơn gây ra ước
tính thiệt hại khoảng 1,4 tỷ USD ở Mỹ trong hơn 10 năm ( Riley et al., 2011).
Lakshmi et al. (1995) cho biết, Thrips palmi là véc tơ chính truyền virus Peanut
bud necrosis virus (PBNV) gây bệnh thối hoa đậu tương ở Ấn Độ.
Theo Chang (1995), ở Đài Loan có 7 loài bọ trĩ được xem là dịch hại
chính, đó là Thrips tabaci trên cây hoa loa kèn, Scirtothrips dorsalis trên quả;
T.hawaiiensis trên chuối; Rhipiphorothrips cruentatus trên cây doi và cây nho,
Frankliniella intonsa trên cây măng tây và hoa thương phẩm, T.palmi trên cây họ
cà và cây họ bầu bí và Megalurothrip usitatus trên cây họ đậu.
Bọ trĩ dưa là một loài ăn tạp, nhưng chúng được biết đến gây hại nhiều
nhất trên cây họ bầu bí và họ cà. Cà chua ở vùng biển Ca-ri-bê cũng đã được ghi
nhận bị bọ trĩ gây hại, nhưng không được ghi nhận ở Mỹ hay Nhật Bản. Chúng
gây hại trên nhiều cây trồng như đậu, bắp cải, dưa đỏ, ớt, cải thảo, đậu đũa, dưa
chuột, cà tím, rau diếp, dưa, đậu bắp, hành tây, khoai tây, bí ngô, bí đỏ và dưa
hấu. Ngoài ra chúng còn gây hại trên bơ, hoa cẩm chướng, hoa cúc, cây có múi,
bông, hoa dâm bụt, xoài, đào, mận, đậu tương, thuốc lá và nhiều cây khác
khoai tây, vừng, đậu tương, hoa hướng dương, thuốc lá và dưa hấu. Nó có thể tàn
phá hoa, hoặc cỏ dại.
Trên cây bông, bọ trĩ được xem là côn trùng gây hại có kích thước nhỏ
nhất với tổng chiều dài cơ thể nhỏ hơn 1 phần 12 inch. Mặc dù kích thước nhỏ,
nhưng chúng có khả năng làm giảm năng suất đến hơn 100 pound sợi cho mỗi
mẫu Anh, chúng phá hoại nặng, thậm chí có thể gây chết cây, cây bị hại nặng có
thể dẫn đến khó đậu quả (Layton and Reed, 2000). Cây bông từ lúc nảy mầm đển
7
giai đoạn 3-4 lá thật là giai đoạn nhạy cảm nhất đối với bọ trĩ hành Thrips Tabaci
Lindeman. Bọ trĩ hoa và bọ trĩ đậu Caliothrips fasciatus Pergande gây hại chủ
yếu vào giai đoạn từ lúc cây bông được 5-6 lá và bông già. Bọ trĩ được tìm thấy
trên cây bông ngay từ đầu mùa và tăng dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây,
đạt đỉnh điểm vào giữa tháng 5 đến cuối tháng sáu (Greenberg et al., 2009). Còn
bọ trĩ hành, Thrips tabaci Lindeman được xem là một dịch hại chính của cây
trồng trong nhà kính ở Iran. Nó là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến
năng suất của dưa chuột (Pourian et al., 2009). Ở Hawaii, Riudavets et al. (1995)
cho biết, mật độ bọ trĩ T.palmi cao nhất trên lá dưa chuột và thấp nhất trên quả.
Suzuki et al. (1988) đã nghiên cứu quần thể trưởng thành của bọ trĩ T.palmi tại
hai vùng khác nhau ở Đài Loan trên cà tím, mật độ của quần thể cũng bị chi phối
bởi độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa và thời gian chiếu sáng.
Ở Indonesia, phải kể đến các loài bọ trĩ gây hại trên các chủng loại rau, ớt,
hành và khoai tây. Trong đó phải kể đến các loài Thrips tabaci Lindeman, Thrips
palmi Karny và Thrips parvispinus Karny. Bọ trĩ cũng như nhiều loại sâu bệnh
hại nguy hiểm khác được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất rau ở
Indonesia. Theo thống kê ở vùng đồng bằng của miền Trung Java, bọ trĩ Thrips
tabaci Lindeman đã gây hại đáng kể trên cây hành non đặc biệt là vào mùa khô.
Bên cạnh đó những cây hẹ non cũng thường bị tấn công nặng bởi Thrips tabaci
Lindeman, đặc biệt là vào mùa khô. Bọ trĩ thường xuyên tấn công trên bề mặt lá,
hồng, khi bị hại nặng lá chuyển thành màu nâu, màu đậm, mép lá khô, xoăn lại
(Bernardo, 1991).
Trên cây ớt, bọ trĩ S.dorsalis tấn công tất cả các bộ phận trên mặt đất của
cây, đặc biệt gây hại mạnh trên lá non, chồi và quả. Cây bị nặng dẫn đến lá bị biến
dạng, quăn queo, cây cằn cỗi, quả có màu nâu đến đen (Seal and Klassen, 2005).
Còn trên cây hồ tiêu, theo thống kê của Talekar (1991) có 11 loài bọ trĩ gây hại
trên cây hồ tiêu, trong đó phổ biến nhất ở châu Á là 3 loài Scirtothrips dorsalis
Hood, Thrips palmi Karny và Thrips tabaci Lindeman. Ngoài cây tiêu, S.dorsalis
còn gây hại trên 25 loại cây khác, T.palmi gây hại trên 45 loại cây khác và T.tabaci
hại trên 37 loại cây khác.
Thrips obscuratus được xem là dịch hại quan trọng trên cây quả hạch ở
Newzealand. T.obscuratus tấn công quả đào và mận ở thời kỳ thu hoạch, con
trưởng thành ăn và đẻ trứng trên quả, ảnh hưởng đến việc xuất khẩu hoa quả của
nước này (Teulon and Penman, 1995).
2.3.3. Các biện pháp phòng chống bọ trĩ
2.3.3.1. Biện pháp canh tác
Ở Philippines, Tjosvld et al. (1995) tiến hành nghiên cứu hiệu quả của việc
dọn sạch gốc rạ và phủ nilon lên gốc rạ để hạn chế côn trùng hại trên đậu bò sau
trồng lúa. Kết quả cho thấy việc làm này có tác dụng làm cản trở tín hiệu xác định
môi trường sống thích hợp của bọ trĩ và bọ rầy di trú. Taylor (1984) phát hiện thấy
rằng phủ ny lông màu trắng và đen trên luống cây bầu và che xung quanh ruộng
không những làm giảm quần thể bọ trĩ mà còn làm tăng năng suất bầu.
9
Xen canh có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh và các côn trùng gây hại
trên nhiều loại rau. Việc trồng xen với cây ngũ cốc (không phải là ký chủ của bọ
trĩ) có thể giảm sự gây hại của bọ trĩ trên cây trồng chính. Ở Anh, khi xen canh
giữa hành và cà rốt, mức độ nhiễm bọ trĩ Thrips tabaci giảm tới 50%. Khi trồng
chuột trong nhà kính.
10
Nhện bắt mồi Amblyseius mckenziei Schuster và Pritchard (Acari:
Phytoseiidae) đã được sử dụng để kiểm soát quần thể bọ trĩ thuốc lá, bọ trĩ hành
trên cây thuốc lá trồng ở Crimea (Ukraine). Thrips tabaci được biết đến là véc tơ
truyền virus TSWV trên cây thuốc lá. Việc thả A.McKenzie vào ruộng thuốc lá,
khi mật độ bọ trĩ từ 3-6 con/lá có tác dụng kiểm soát bọ trĩ và TSWV hiệu quả
như thuốc trừ sâu thông thường (Serguey, 1995). Theo Houten and Stratum
(1995), 2 loài nhện Amblyseius cucumeris (Oudemans) và A.degenerans Berlese
được đánh giá là tác nhân kiểm soát sinh học của bọ trĩ hoa WFT trong nhà kính
trồng ớt ngọt vào mùa đông. Còn trên cây bông, nhóm thiên địch của bọ trĩ có
Orius spp.; Hippodamia spp.; Chrysopa rufilabris (Burmeister); Geocoris spp.;
Argiope spp.; và Syrphus spp. Trong đó Orius spp. là loài bắt mồi phổ biến nhất
(Greenberg et al., 2009). Ở Trung Quốc, Chin et al. (2003) đã nghiên cứu đặc tính
sinh học của bọ xít bắt mồi O.similis. Trong phòng thí nghiệm, một cá thể của bọ
xít bắt mồi O.similis có thể ăn 440 cá thể bọ trĩ T.palmi trong một đời của chúng
(cả sâu non và trưởng thành).
2.3.3.3. Biện pháp hóa học
Việc kết hợp tỏi với một số Organophosphate có tác dụng tốt trong việc
giảm mật độ bọ trĩ (Burubai et al., 2011). Thí nghiệm so sánh hiệu quả trong
phòng trừ bọ trĩ của nhóm tác giả này cho biết, giữa 6 công thức Dimethoate
30EC, Kartodim 315EC, dịch tỏi, Dimethoate + dịch tỏi, Kartodim + chiết xuất
tỏi và công thức đối chứng, thì Dimethoate + chiết xuất tỏi cho mật độ bọ trĩ thấp
nhất, sau đó đến Kartodim+ chiết xuất tỏi. Tương ứng, năng suất của ô phun
Dimethoate + chiết xuất tỏi là cao nhất, trung bình 87,85 tấn/ha, so với đối chứng
là 6,1 tấn/ha. Còn tại Đài Loan, Tjosvold and Ali (1995) đã công bố
Deltamethrin, Cypermethrin và Flucythrinate là những thuốc BVTV có hiệu quả
trong phòng trừ bọ trĩ trên cà tím.
cái không có ống đẻ trứng dạng răng cưa, đẻ trứng trực tiếp trên mặt lá hoặc các
bộ phận khác của cây.
Theo Hà Quang Hùng và cs. (2005), bọ trĩ là loài côn trùng nhỏ bé với số
đốt râu đầu từ 6 đến 9, kiểu miệng dũa hút không đối xứng, bàn chân có một đến
hai đốt, đối cuối bàn chân có đệm 2 đôi cánh chạy dài hẹp với hệ gân cánh tiêu
giảm, mép ngoài của cánh có nhiều lông tơ dài. Biến thái không hoàn toàn đặc
biệt (bao gồm: trứng, sâu non tuổi 1, sâu non tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và trưởng
thành). Hầu hết các loài bọ trĩ chích hút dịch của cây trồng, một số loài là bắt mồi
(thiên địch).
Ở Việt Nam thường gặp 3 họ bọ trĩ, trong đó có 2 họ thuộc bộ phụ
Terebrantia( họ Aeolothripidae và Thripidae) và 1 họ thuộc bộ phụ Tubulifera(
họ Phlaeothripidae). Bọ trĩ thuộc họ Phlaeothripidae, cánh trước không có vân
dọc và không có lông ở trên vân đó nhưng có lông ở gốc phụ của mép trước
cánh, mặt cánh mịn. Đốt bụng thứ X dạng ống ở cả con đực và con cái. Ống đẻ
trứng của con cái không có răng cưa. Con đực chân trước phình to dạng đào bới,
cuối ống bụng có những lông nhỏ xếp thành vòng. Sâu non tuổi I và II có đốt râu
đầu trơn, mượt, không mọc các lông mịn nhỏ.
12
Bọ trĩ thuộc họ Aeolothripidae, cánh trước thường có 3 vân dọc phát triển,
mỗi vân mọc nhiều lông, mặt cánh mọc nhiều lông mịn nhỏ xếp theo chiều dọc
của canh. Đốt bụng thứ X có dạng hình nón ở cả con đực và con cái. Ống đẻ
trứng của con cái có dạng răng cưa. Bọ trĩ non tuổi I và II có đốt râu đầu mọc
nhiều lông mịn. Râu đầu có 9 đốt, tế bào cảm giác trên đốt râu đầu thứ III và IV
thẳng và hẹp. Cánh trước rộng và tròn ở đỉnh cánh, lông mọc ở trên gân cánh
thường nhỏ. Đối với bọ trĩ thuộc họ Thripidae, râu đầu có 7-8 đốt (ít khi 6 và 9
đốt), tế bào cảm giác trên đốt râu đầu thứ III và IV hơi nhô ra có dạng chữ V.
Cánh trước hẹp và nhọn ở đỉnh cánh. Lông mọc trên gân cánh thường lớn.
2.4.2. Thành phần loài bọ trĩ