1
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của Đông Nam Châu Á,
rừng nước ta đóng một vai trò hết sức quan trọng, không chỉ chiếm diện tích lớn
mà rừng còn phong phú đa dạng về thành phần các động, thực vật. Tính đến ngày
31/12/2005 diện tích rừng của cả nước là 12,61 triệu ha chiếm khoảng 37% độ che
phủ toàn quốc (Bộ NN & PTNT, 2005) [3].
Tuy nhiên, trong những năm qua tài nguyên rừng nước ta đã bị suy giảm
nghiêm trọng. Nguyên nhân là do sự yếu kém của công tác quản lý bảo vệ rừng,
nạn khai thác bừa bãi, sức ép của gia tăng của dân số, cháy rừng và dịch sâu bệnh
hại (Lê Sỹ Trung và Cs, 2003) [19]. Vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
đến việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Các loài cây gỗ có giá trị cả về mặt
kinh tế và sinh thái như: Keo, Mỡ, Quế, Bạch đàn, Bồ đề, Muồng đen… đã được
gây trồng ở các địa phương trong cả nước. Song do đặc điểm của khí hậu là nóng
ẩm mưa nhiều nên rừng trồng nước ta thường bị các loài sâu hại phát sinh, phát
dịch, phá hàng trăm hàng nghìn ha rừng mỗi năm, đặc biệt là các khu rừng trồng
thuần loài. Muồng đen là loài cây bản địa của khu vực Đông Nam Á, là loài cây
có giá trị kinh tế cao, gỗ cứng, thớ mịn, ít bị mối mọt và được dùng để đóng đồ
gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ. Là cây sinh trưởng nhanh, khả năng tái sinh tốt
nên ngoài mục đích trồng lấy gỗ Muồng đen còn được trồng phòng hộ và làm giàu
rừng (Lê Mộng Chân và Cs, 2000) [5]. Tính đến năm 1999 cây Muồng đen được
trồng tập trung ở các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Thái Nguyên, Bắc
Giang, Bắc Kạn… với diện tích là 10.163 ha trong đó có 4.919 ha rừng thuần loài
và 5.244 ha hỗn giao (Bộ NN & PTNT, 1999) [2].
Trong những năm gần đây sâu ăn lá ở cây Muồng đen thường phát sinh,
phát dịch, năm 1999 - 2002 tại lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn, sâu gây hại đến
vài trăm ha rừng, phát dịch từ 30 - 50 ha chủ yếu là các loài sâu ăn lá bộ cánh vẩy.
Gây thiệt hại lớn nhất là sâu xanh ăn lá bộ cánh vẩy (Lâm trường Chợ Mới, 1999,
2000, 2001, 2002) [8]. Với diện tích trồng Muồng đen khoảng hơn 500 ha của
Lâm trường Chợ mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đều đã bị một số loài sâu ăn
- Ý nghĩa khoa học
3
Bổ sung thêm về những Kiến thức khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu côn
trùng học về đặc điểm sinh học, sinh thái của của một số loài sâu hại mới ăn lá
cây Muồng đen là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất một số biện pháp phòng trừ
sâu hại hợp lý, góp phần quản lý sâu hại rừng nói chung và rừng Muồng đen nói
riêng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá giá trị trong việc
nghiên cứu đặc tính sinh học sinh thái của loài sâu hại mới và đề xuất các biện
pháp quản lý chúng một cách hợp lý, góp phần kinh doanh rừng bền vững.
- Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc vận
dụng một số biện pháp kỹ thuật đề xuất chăm sóc, nuôi dưỡng rừng và quản lý sâu
hại chính ăn lá Muồng đen tại địa bàn nghiên cứu theo hướng phòng trừ sâu hại
tổng hợp, thiên về các biện pháp sinh học, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
cũng như công tác quy hoạch phát triển rừng Muồng đen tại địa bàn nghiên cứu và
các khu vực lân cận.
PHẦN I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
1.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Côn trùng phân bố rất rộng rãi từ xích đạo đến Nam cực, Bắc cực… Chúng
sống trong nước, đất, rễ cây, thân cây, lá cây, củ và quả…, nhiều loài côn trùng
côn trùng ít có khả năng gây hại và các loài côn trùng có ích (Trần Công Loanh và
Cs, 1997) [13].
Thiên địch trong bảo vệ thực vật là từ thường dùng chỉ nhiều nhóm sinh vật
có ích như: côn trùng ký sinh và ăn thịt, tuyến trùng, nấm, vi khuẩn, virus gây
bệnh cho sâu hại, các loài chim, thú và động vật khác ăn côn trùng... Đặc biệt là
nhóm côn trùng có ích có thể ký sinh và ăn thịt nhiều loài sâu hại khác nhau (Trần
Công Loanh,1989) [14].
Thiên địch giúp con người tiêu diệt sâu hại vì vậy mà chúng ảnh hưởng
trực tiếp đến số lượng và khả năng phân bố, phát dịch của sâu hại (Trần Công
Loanh và Cs, 1997) [13].
Dựa trên khái niệm về điều hoà tự nhiên là sự điều hoà mật độ quần thể của
loài sâu hại nào đó do tác động của thiên địch, trong phòng trừ sâu hại thì thiên
địch có khả năng khống chế số lượng quần thể sâu hại và làm giảm khả năg phá
hại của sâu hại góp phần bảo vệ cây trồng. Thực tế cho thấy giữa các loài sâu hại
và thiên địch có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Khi mối quan hệ đó ở
mức ổn định nghĩa là sâu hại không có khả năng vượt qua ngưỡng gây hại (Phạm
Văn Lầm, 1995) [10].
Vậy ngưỡng gây hại gì? Ngưỡng gây hại là mật độ sâu hại tối thiểu bắt đầu
làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng (Trần Công Loanh và Cs, 1997;
Đặng Kim Tuyến và Cs, 2008) [13]; [23]. Khi các điều kiện môi trường (nhiệt độ,
ẩm độ, ánh sáng) thuận lợi và nếu nguồn thức ăn dồi dào, thiên địch ít thì một số
loài sâu hại rất dễ phát thành dịch. Nguồn thức ăn của sâu hại chính là cây trồng
mà trong trồng rừng khi cần một lượng gỗ lớn chúng ta vẫn phải trồng rừng tập
trung trên diện tích lớn làm cho nguồn thức ăn của sâu hại sẽ nhiều lên gấp bội và
đến một lúc nào đó khả năng khống chế sâu hại của thiên địch không còn ổn định
nữa sẽ dẫn đến sâu hại phát dịch. Để giải quyết mâu thuẫn này buộc con người
phải có các biện pháp tác động vào nhóm thiên địch để tăng khả năng khống chế
sâu hại của chúng từ việc hạn chế số lượng sâu hại ở mức cân bằng, bảo vệ các
loài thiên địch hoặc sử dụng chúng đưa vào hệ sinh thái làm cho mối quan hệ
trong lưới thức ăn của hệ sinh thái rừng trồng luôn ổn định.
ra những chế phẩm sinh học nhằm tiêu diệt côn trùng gây hại và đảm bảo tính bền
vững.
Nấm gây bệnh cho côn trùng thuộc nhiều nhóm khác nhau. Nấm gây bệnh
cho côn trùng bằng cách xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua lớp vỏ cơ thể, vì vậy
nấm có thể ký sinh được ở cả các côn trùng chích hút, cánh cứng và những pha
phát triển khác mà các sinh vật khác không ký sinh được như pha trứng, nhộng.
Ngoài ra nấm có thể xâm nhập vào bên trong cơ thể côn trùng qua đường miệng,
từ miệng bào tử tới ruột và qua thành ruột xâm nhiễm vào các tế bào nội quan để
gây bệnh. Sau khi tiếp xúc với bề mặt cơ thể vật chủ nấm B. bassiana, bắt đầu
7
mọc mầm và xâm nhập vào bên trong cơ thể vật chủ, côn trùng bị nhiễm B.
bassiana ở nhiệt độ 25oC sẽ chết sau 6-7 ngày (Phạm Văn Lầm,1995) [10].
Vi khuẩn Bacillus thuringensis (B-t) là vi khuẩn rất phổ biến trong tự nhiên.
Vi khuẩn B-t hình que, phản ứng gram dương hình thành bào từ và tinh thể độc tố.
Tính độc hay tính diệt sâu của B-t phụ thuộc vào các độc tố do vi khuẩn sinh ra
trong quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng. Yếu tố chính gây chết sâu có
trong chế phẩm B-t là các tinh thể nội độc tố delfa. Các tinh thể nội độc tố được
côn trùng ăn cùng với thức ăn. Trong ruột côn trùng, dưới tác động của hệ men
các tinh thể nội độc tố được phân giải sinh ra độc tố. Chế phẩm B-t còn có tác
dụng gây ngán đối với côn trùng và còn có ảnh hưởng dị hậu có tác dụng kìm
hãm sinh trưởng và phát triển, biến thái của côn trùng tạo thành những cá thể
dị hình làm giảm sức sinh sản của cá thể trưởng thành cái (Phạm Văn
Lầm,1995) [10].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã BPSH đã được sử dụng từ rất lâu được con người nghiên
cứu và sử dụng trong phòng trừ dịch hại nông lâm nghiệp.
Năm 1602, Androvandi công bố cuốn sách “De Animalibus insectit” được
coi là công trình đầu tiên về BPSH.
Văn Lầm, 1995) [10].
Không chỉ có những nghiên cứu về côn trùng và thiên địch, nhiều nước trên
thế giới đã tiến hành nhập nội và thuần hoá các loài thiên địch phục vụ cho sản
xuất nông lâm nghiệp. Năm 1840, ở Pháp Boisgraud đã sử dụng bộ cánh cứng ăn
thịt Calosoma sycophanta để trừ sâu róm Parthetria clispar hại Bạch Dương
(Doutt, 1964) [26].
Ở Italia vào năm 1844, Villa đã thí nghiệm dùng bọ cánh cứng ăn thịt thuộc
họ Carabidae và Staphylinadae để diệt trừ sâu trong vườn cây (Doutt, 1964) [28].
Mỹ đã nhập nhiều loài thiên địch của sâu róm trong đó đã thuần hoá được 9 loài ký
sinh và 2 loài bắt mồi ăn thịt (Dt Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
Từ năm 1910 - 1911, ong mắt đỏ đã được nhân nuôi và sử dụng ở nước Nga
và Trung Á (Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
Bắt đầu từ năm 1940, Hoa Kỳ đã sử dụng chế phẩm trừ Bọ hung Nhật Bản
từ vi khuẩn Bacillus popilliae và B.lentimorbus (F.J.Simmonds, 1976) [25].
Năm 1966 các nhà máy ở Nga đã sản xuất được 20 tỷ ong mắt đỏ và thả
trên diện tích là 600.000 ha cây trồng (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13].
9
Năm 1970, Donal DJ. Borror và Riched. E. White đã đề cập nhiều vấn đề
về phân loại sâu hại và côn trùng có ích trong “Sổ tay về lý thuyết côn trùng ở Bắc
Mỹ”.
Ở Bungari còn cho ra đời luật Bảo vệ Kiến (Trần Công Loanh và Cs, 1997)
[13].
Những nghiên cứu về côn trùng và thiên địch đã được sử dụng trong các biện
pháp sinh học phòng trừ sâu hại trên khắp thế giới (Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
Đến năm 1837, Audouin đã chỉ ra ra rằng nấm bạch cương ngoài gây bệnh cho
tằm có thể dùng phòng trừ các loài côn trùng khác (Weiser, 1966) [27].
Agostino Bassi là người đầu tiên giải thích bản chất nấm bạch cương ở tơ
tằm, đề xuất biện pháp khắc phục, đồng thời gợi ý dùng vi sinh vật để gây bệnh
B-t sinh ra: ngoại độc tố alpha, ngoại độc tố beta, nội độc tố delta, ngoại độc tố
gama, độc tố không bền vững, độc tố tan trong nước và loại độc tốt đối với động
vật có vú (Coppel, 1977) [26].
Nhật bản có chế phẩm B-t khử trùng 7% wp và B.t không khử trùng 10% wp.
Năm 1989 hai chế phẩm này bán ra được tương ứng là 78 và 17 tấn chế phẩm
(Takeuchi, 1992) [29].
Ở Trung Quốc sử dụng chế phẩm B-t được khoảng 30 năm. Năm 1976
Trung Quốc sử dụng 1.000 tấn sản phẩm của B-t trên diện tích 66.600 ha cây
trồng các loại. Từ năm 1991 Trung Quốc chuyển sang sản xuất chế phẩm Bt ở
dạng lỏng và đã sử dụng 5.000 tấn để trừ sâu trên toàn diện 300.000 ha lúa và
bông riêng rẽ trên 200.000 ha cây ăn quả và rau các loại (Dt Phạm văn Lầm,
1995) [10].
1.1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
BPSH phòng chống dịch hại là một lĩnh vực khoa học tương đối mới ở nước
ta. Mặc dù BPSH trên thế giới đã thành công hơn 100 năm nay nhưng những
nghiên cứu về BPSH ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ
70 của thế kỷ XX. Trong 1/4 thế kỷ qua với đội ngũ cán bộ kỹ thuật không nhiều
nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu BPSH
phòng chống dịch hại (Phạm văn Lầm, 1995) [10].
Ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ I - IV nhân dân ta đã biết sử dụng các loài côn
trùng có ích vào sản xuất như: Thả Kiến đen cong đuôi vào vườn để diệt các loài
sâu hại ở Cam, Quýt… (Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thiên địch và đã sử dụng thành
công các loài thiên địch trong phòng trừ sâu hại đến hơn 100 năm. Nhưng ở Việt
Nam phải đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX mới có những nghiên cứu về các biện pháp
sinh học để phòng trừ sâu hại (Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
11
Từ năm 1967 - 1968, viện bảo vệ thực vật và viện sinh học đã có những
có một số thí nghiệm thử hiệu lực của chế phẩm ngoài đồng ruộng, trên diện tích
12
nhỏ. Tỉ lệ giảm của rầy nâu sau khi xử lý chế phẩm nấm là 55.2% - 58.8%, chỉ
tiêu này đối với sâu xanh hại đay là 43,9 - 64,2% (Phạm thị Thuỳ,1993) [16].
Thí nghiệm trong phòng với châu chấu Momadaeris succincta, nấm M. anisopliae sau 10
ngày xử lý gây chết 84,6% còn nấm M. flavoiride gây chết 100% châu chấu thí nghiệm sau 10
ngày (Phạm văn Lầm, 1995) [10].
Tuy nhiên mọi nghiên cứu ứng dụng nấm trừ côn trùng còn đang ở giai đoạn
mới bắt đầu, cần phải có những nghiên cứu tiếp tục về cơ sở sử dụng nấm côn
trùng ở nước ta. Đặc biệt những nghiên cứu tuyển chọn chủng nấm có độc tố cao và
biện pháp sử dụng chế phẩm nấm có chất lượng cao không bị lẫn tạp chất (Phạm
Văn Lầm, 1995) [10].
Trong nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus thuringiensis trừ sâu ở nước ta.
Sử dụng theo hai hướng: nhập nội chế phẩm B.t của nước ngoài và sản xuất ở
trong nước. Từ những năm đầu thập kỷ 70 đã nhập nội chế phẩm B-t và thử hiệu
lực trừ một số loài sâu hại, tìm hiểu khả năng sử dụng B-t trừ sâu hại ở nước ta
(Nguyễn Văn Cảm và Cs, 1976) [4].
Từ năm 1970 ở Việt Nam bắt đầu nghiên cứu sản xuất B-t. Hiện nay công
nghiệp thực phẩm đang sản xuất chế phẩm này trên quy mô công nghiệp với
chủng B-t var Kurstaki. Bước đầu các chế phẩm B-t trừ một số sâu hại tơ, sâu
xanh bướm trắng (Phạm Văn Lầm, 1995) [10].
Theo Phạm Văn Lầm 1994 thì thuốc sinh học từ vi khuẩn B-t không gây ảnh
hưởng tới các loài thiên địch chính.
Nhiều năm qua trung tâm đấu tranh sinh học cùng với trạm dự báo sâu bệnh
rừng Thanh Hoá đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm virut sâu róm thông, hiệu quả
tiêu diệt sâu róm thông của chế phẩm virus NPV đạt 55,2 - 83,3% (Trương Thanh
Giản và Cs, 1994) [6].
1.1.4. Những nghiên cứu về sâu hại cây Muồng đen (Cassia siamea Lamk)
Phía tây giáp huyện Chợ Đồn (Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ
Mới - Bắc Kạn 2009) [15].
1.2.1.2. Địa hình
Chợ Mới là huyện có địa hình tương đối phức tạp, có nhiều đồi núi cao, độ
cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 400 m. Hầu hết các xã trong huyện
14
Chợ Mới đều có địa hình núi cao chia cắt phức tạp tạo ra nhiều khe suối, đường
giao thông đi lại khó khăn, nhất là vào những ngày mưa. Trong huyện có dòng
sông Cầu chảy qua bắt nguồn từ thị xã Bắc Kạn đã cung cấp một lượng phù sa rất
tốt ở hai dọc bờ sông và cung cấp nguồn nước tưới, nước sinh hoạt cho nhân dân
ở các xã có dòng sông Cầu chảy qua ( Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ
Mới - Bắc Kạn 2009) [15].
1.2.1.3. Đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 60.611 ha. Đất chưa sử dụng còn
tới 17.719 ha chiếm 29,23% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện.
Đất nông nghiệp chiếm 5,77%, đất lâm nghiệp chiếm 63,72% do sử dụng đất
đai một cách bừa bãi nên tài nguyên đất của huyện ngày càng bị xấu đi, đất bị rửa
trôi, xói mòn, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng. Do đó trong công
tác quy hoạch sử dụng đất của huyện phải hết sức quan tâm bố trí đất đai đúng
mục đích và có hiệu quả (Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc
Kạn 2009) [15].
1.2.1.4. Khí hậu thủy văn
Do ở chí tuyến bắc trong vành đai nhiệt đới bán cầu nên khí hậu của huyện
Chợ Mới mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trong năm có hai mùa rõ
rệt mùa đông lạnh nhiệt độ xuống thấp (có khi xuống tới 30 C) và thường có đợt
chiếm 49,95 %, nữ là 18.172 người chiếm 50,05%.
Tổng số lao động là 18.516 lao động chiếm 50,1% tổng số dân, trong đó lao
động làm nông - lâm nghiệp là 15.702 lao động chiếm 84,8%, nghề khác là 2.814
lao động chiếm 15,2%.
Trong huyện có 13 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó:
Dân tộc Kinh: 21,26 %
Dân tộc Tày: 56,48 %
Dân tộc Dao: 16,87 %
Dân tộc Nùng: 3,6 %. Còn lại là các dân tộc: Dân tộc Sán dìu, Dân tộc
Thái Dân tộc Khơ me, Dân tộc Xtiêng, Dân tộc Hmông, Dân tộc Phù lá
Dân tộc Hoa, Dân tộc Mường, Dân tộc Sán chay
Là những dân tộc chiếm tỷ lệ nhỏ.
16
Nhìn chung mức sống của nhân dân trong huyện còn thấp năm 2002 còn tới
423 hộ nghèo đói, thiếu ăn giáp hạt. Do năng suất nông nghiệp còn thấp, người
dân chủ yếu tập trung vào khai thác rừng nên số lượng rừng tự nhiên giảm, đời
sống người dân còn nhiều khó khăn, họ chưa ý thức được quản lý bảo vệ rừng
( Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn 2009) [15].
1.2.2.2. Tài nguyên rừng
Diện tích đất rừng của huyện hiện nay là 38.621,6 ha chiếm 63,72% tổng
diện tích tự nhiên. Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 35.524,6 ha, diện tích rừng
trồng là 3.096,4 ha và đất ươm cây là 1 ha. Như vậy tỷ lệ che phủ thảm thực vật
rừng trên địa bàn huyện đạt 37% so với ổng diện tích đất tự nhiên của huyện là
60.611 ha. diện tích tự nhiên. Với tỷ lệ che phủ này chưa đảm bảo mức cân bằng
sinh thái ở một huyện có nhiều đồi núi cao như huyện Chợ Mới. Vì vậy trong quy
hoạch sử dụng đất cần chú ý các giải pháp để phục hồi tăng vốn rừng, tăng diện
tích các loại cây trồng có tán che rộng và thời gian che phủ dài trong năm, để đảm
bảo tỷ lệ che phủ của thảm thực vật đạt mức cân bằng sinh thái tự nhiên (Lâm
dưỡng, khô hạn. Phân bố tự nhiên ở độ cao < 1200m, có thể chịu được tới 6 tháng
khô hạn nhưng không sống được ở nơi có sương gió. Mùa ra hoa tháng 10 - 12 và
tháng 6 - 7. Quả chín tháng 1- 4 và tháng 8 - 9.
Muồng đen là cây bản địa vùng Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Campuchia,
Malaixia và Inđônêxia). Ở Việt Nam cây mọc tự nhiên từ các tỉnh Quảng Bình
đến các tỉnh miền Nam, phổ biến ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Tây Nguyên.
Loài cây này có gỗ cứng, nặng, giác màu xám vàng, lõi nâu đỏ hoặc nâu
đen và chịu được ẩm ướt, mối mọt. Có thể dùng làm gỗ xây dựng, đóng đồ mỹ
nghệ và nhạc cụ.
Muồng đen thường được trồng thành dải rừng phòng hộ hoặc trong các mô
hình nông lâm kết hợp, do cây có khả năng bảo vệ và cải tạo đất. Củi cho nhiệt
lượng cao, có thể kinh doanh rừng củi. Cây có dáng đẹp lại dễ tính, mọc nhanh, có
hoa gần như quanh năm nên được trồng làm cây cảnh và bóng mát.
18
Là loài cây có giá trị nhiều mặt nên đã và đang được gây trồng ở nhiều nơi
trong cả nước (Lê Mộng Chân và Cs, 2000) [5].
2.4. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn
từ tháng 2/2009 đến tháng 12/2010
2.5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội
dung sau:
- Khảo sát hiện trạng rừng trồng Muồng đen thuộc khu vực lâm trường Chợ
Mới, xác định sâu hại chính ăn lá.
- Đặc tính sinh học, sinh thái của sâu hại chính và thành phần thiên địch
của sâu ăn lá Muồng đen.
- Đánh giá khả năng hạn chế sâu hại chính của một số biện pháp sinh học:
(OTC), diện tích OTC là 1000m2, OTC được đặt ở các vị trí chân, sườn và đỉnh
đồi. OTC phải đi qua các dạng địa hình khác nhau, đại diện cho các hướng phơi
khác nhau. Trong mỗi ô tiêu chuẩn cứ cách 1 - 3 hàng điều tra 1 hàng và trong
hàng cứ cách 1 - 3 cây lại điều tra 1 cây (cây tiêu chuẩn) sao cho số cây trong
O.T.C phải đảm bảo ít nhất điều tra tối thiểu 30 cây hoặc 10% số cây nếu rừng
trồng mật độ thưa. Trên cây tiêu chuẩn điều tra 5 cành (2 cành gốc tán theo hướng
Đông - Tây, 2 cành giữa tán theo hướng Nam - Bắc và 1 cành ngọn). Tại địa bàn
nghiên cứu, chúng tôi bố trí 3 điểm điều tra. Số liệu thu thập tại mỗi điểm điều tra
là 9 O.T.C theo phương pháp rút mẫu hệ thống [20].
- Điều tra mật độ sâu thuộc bộ cánh vẩy ăn lá thì trên tất cả các cành điều tra đếm
tất cả số lượng cá thể sâu hại ở các pha và tổng số cành của cây điều tra.
- Điều tra mức độ hại lá trên cây tiêu chuẩn. Trong mỗi cành tiêu chuẩn
điều tra 5 lá (2 lá gốc, cành, 2 lá giữa cành và 1 lá ngọn cành). Cá lá bị sâu ăn hại
được chia theo các cấp sau:
Cấp 0: Những lá không bị sâu ăn (còn nguyên vẹn);
Cấp I: Những lá bị sâu ăn < 1/4 diện tích lá.
20
Cấp II: Những lá bị sâu ăn từ 1/4 - 1/2 diện tích lá.
Cấp III: Những lá bị sâu ăn 1/2 - 3/4 diện tích lá.
Cấp IV: Những lá bị sâu ăn > 3/4 diện tích lá.
Các số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng tương ứng ( Nguyễn Thế Nhã và Cs,
2001) [12].
Đồng thời trong qua trình điều tra quan sát trực tiếp tại rừng trên các ô tiêu
chuẩn (O.T.C) chúng tôi kết hợp điều tra và theo dõi luôn về đặc điểm hình thái,
tập tính sinh sống, số lượng sâu hại và mức độ hại lá và biến động của quần thể...
của loài SHC ăn lá Muồng đen ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12].
Các số liệu thu thập trong quá trình điều tra được ghi vào các mẫu bảng đã
2.6.2.3. Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp sinh học trong
phòng trừ SHC
a. Phun chế phẩm sinh học
+ Danh mục và công dụng của một số loại thuốc thử nghiệm
Các loại chế phấm dùng để phun nhằm đánh giá hiệu quả phòng trừ sâu hại
chính được tổng hợp ở bảng sau:
Bảng 2.1: Các loại thuốc và nồng độ sử dụng
TT
Tên thuốc
Nồng độ
(%)
Dạng
thuốc
Nơi cung cấp
1
Bacilluss thuringensis (B-t)
0,4
Sữa
Trung tâm BVR Nghệ An
5
Pyrinex 20EC (thuốc hóa học)
0,25
Sữa
Trạm BVTV Thái Nguyên
- Bôvêrin: Sử dụng phòng trừ sâu róm thông, các loài sâu non thuộc bộ cánh
vảy và cánh cứng, có hiệu quả cao với bọ xít dài hại lúa bộ cánh nửa. Gây độc qua
đường tiếp xúc. Thành phần: Bào tử nấm bạch cương (Beauveria bassiana) có độc
tố Boverixin khi ký sinh trên cơ thể sâu hại, sợi nấm sẽ lấy dinh dưỡng của sâu
non và làm sâu bị mốc trắng. Bào tử nấm dễ lây lan khi gặp điều kiện thời tiết
thuận lợi. Hiệu quả tiêu diệt sâu hại kéo dài từ 4 - 15 ngày sau khi phun
- Javitin 18EC: loại thuốc trừ sâu thế hệ mới nhất có nguồn gốc thiên nhiên,
chiết xuất từ các sinh vật có chất độc, thuốc có tác dụng diệt trừ sâu có miệng
gặm nhai và chích hút. Thành phần: Hoạt chất Abamectin 18g/l. Phụ gia: 99,82%
22
- Trutat 0,32EC loại thuốc trừ sâu thế hệ mới có nguồn gốc thiên nhiên, chiết
xuất từ các sinh vật có chất độc, thuốc có tác dụng diệt trừ sâu có miệng gặm
nhai qua đường tiêu hóa.
- Baciluss thuringensis: Là loại thuốc trừ sâu có chứa vi khuẩn gây bệnh chết
nhũn cho sâu hại qua đường tiêu hoá. Gây độc cho sâu róm thông, sâu non bộ
cánh vảy, nhiều loài sâu hại khác.
- Pyrinex 20EC: Là loại trừ sâu thuốc học thuộc nhóm lân hữu cơ, với hoạt
chất Chlopyrifos 200g/lít (20%), phụ gia 80%. Tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông
thuốc Pyrinex 20EC vì là thuốc hoá học nên không phun trong phòng mà chỉ phun
ở tại rừng, theo dõi số sâu chết sau 8 giờ kể từ khi phun.
b. Thí nghiệm phun thuốc thảo mộc tiêu diệt SHC
+ Cách chế nước thuốc thảo mộc: lá và vỏ Xoan ta ở cây Xoanto. Cứ 1 kg
giã nhõ lọc với 10lít nước lã. Ngâm qua đêm, phun cho cây trong phòng và rừng
mới trồng có chiều cao cây < 2m.
+ Phun thử nghiệm trong phòng: lấy 5 mẫu cây Muồng đen tuổi 1 trong
bầu lớn (mỗi mẫu 1cây), mỗi mẫu thả 40 sâu non từ tuổi 1- tuổi 4, mẫu nọ cách
mẫu kia 1,5m. mỗi mẫu đều có 1 mẫu đối chứng. Phun nước lá Xoan vào 8h buổi
sáng cho 5 mẫu, mẫu đối chứng phun nước lã. Liều lượng phun 0,05lít thuốc
nước/mẫu. Theo dõi sâu chết và ghi chép.
+ Phun thử nghiệm ở rừng non: Trong OTC lập lập 5 ô dạng bản, mỗi ô
50m2. Phun nước lá Xoan ta vào 8h buổi sáng cho 5 ô dạng bản, mẫu đối chứng
phun nước lã. Liều lượng phun 0,1lít thuốc nước/m2. Theo dõi sâu chết và ghi
chép.
c. Thí nghiệm thả tổ Kiến đen cong đuôi vào rừng Muồng đen thuần loài
+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Trên diện tích rừng thuần loài đo lấy 10.000m2 (1ha) chạy dài từ chân lên
đỉnh đồi để thí nghiệm thả kiến, do đặc điểm của Kiến đen cong đuôi đi kiếm ăn
khá xa. Trong diện tích 10.000 m2, bố trí 4 tổ Kiến đen cong đuôi nằm về 4 phía
của 2 đường chéo và 1 tổ ở chính giữa. Trong diện tích thả kiến lập 3 OTC ở các
vị trí chân, sườn, đỉnh. Đặt ô đối chứng bố trí trên cùng quả đồi nhưng cách diện
tích thả kiến là 200m, cũng ở các vị trí chân, sườn đỉnh. Các tổ kiến phải là các tổ
lớn có kích thước: Đường kính tổ 20 - 30cm, chiều dài tổ: 35- 40cm. Các tổ kiến
được thu từ rừng tự nhiên và rừng tre nứa nơi có số lượng tổ nhiều. Khi lấy tổ
24
Kiến phải cưa nhẹ nhàng tránh vỡ tổ, cưa cả 1 phần các cành cây cũ mang tổ, sau
đó mang về dùng dây cước nâu đen buộc thật chặt vào các cây Muồng đen để cố
diệt con mồi của 2 loài Bọ ngựa là Bọ ngựa xanh thường và Bọ ngựa xanh bụng
rộng. Ngoài ra chúng tôi còn bố trí thêm các lồng nuôi riêng từng giai đoạn tuổi
của 2 loài Bọ ngựa này.
- Cách theo dõi: Hàng ngày chúng tôi thả sâu xanh ăn lá Muồng đen vào
cây Muồng đen để trong lồng nuôi Bọ ngựa. Sau 1 ngày đêm đếm lại số sâu non
còn lại và lấy số sâu đã thả trừ đi số sâu còn lại để biết số sâu non Bọ ngựa đã ăn
hết trong 1 ngày đêm. Và lấy số liệu trung bình cho từng giai đoạn tuổi và từng
loài (Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12].
+ Thả Bọ ngựa vào rừng
Sau khi nuôi đủ số lượng Bọ ngựa chúng tôi tiến hành thả Bọ ngựa tuổi 2, 3
và 4 vào các khu rừng trồng Muồng đen thuần loài tuổi 3 - 4 có sâu hại ở mật độ
trung bình. Do số lượng Bọ ngựa nuôi được có hạn nên chúng tôi chỉ thả mỗi loài
vào 3 ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích OTC là 250 m2 (gọi là ô thí nghiệm), các
OTC được bố trí trong cùng một khu, có đối chứng (OTC không thả Bọ ngựa). Số
Bọ ngựa mang thả vào OTC là 250con/OTC và được rải đều từ giao điểm của 2
đường chéo OTC ra gần cạch ngoài của ô, chừa ra 5 m sát mép OTC không thả vì
Bọ ngựa có thể bay sang khỏi ô thí nghiệm. Trước khi thả chúng tôi lợi dụng các
quả đồi có ruộng lúa hay đường giao thông bao quanh để lập OTC để hạn chế Bọ
ngựa bay ra khỏi ô thí nghiệm, vì diện tích rộng, địa hình phức tạp nên không có
điều kiện chăng lưới bao. Cứ 10 ngày chúng tôi điều tra lại một lần để đánh giá
mật độ sâu hại chính ăn lá Muồng đen và mật độ Bọ ngựa còn lại trong OTC,
riêng Bọ ngựa không bắt mà chỉ đếm trực tiếp trên các cây điều tra. Mỗi OTC
điều tra 30 cây theo phương pháp rút mẫu hệ thống.
2.6.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Mức độ hại lá do sâu ăn được xác định theo công thức:
Σn.v
R% = ------ .100
N.V
Trong đó: R%: Mức độ bị hại của cây điều tra