A. MỞ ĐẦU
Hiện nay, đời sống của con người ngày càng được cải thiện
và nâng cao. Đó là kết quả của sự phát triển kinh tế đất nước
với sự tiến bộ không ngừng nghỉ về khoa học – kĩ thuật. Khoa
học – kĩ thuật là động lực vô cùng to lớn đối với sự phát triển
của mỗi quốc gia. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật một phần
được thể hiện thông qua những sáng chế của các nhà khoa học.
Tuy nhiên những sáng chế lại rất dễ bị sao chép, đánh cắp làm
cho người mất công nghiên cứu khó thu được lợi từ sáng chế kết quả của sự đầu tư nghiên cứu của mình. Từ thực tế đó đặt ra
yêu cầu cần phải bảo hộ để bảo vệ những quyền lợi của chủ sở
hữu các sáng chế.
Tuy nhiên để được bảo hộ thì một sáng chế cũng cần phải
đáp ứng được những điều kiện nhất định. Vậy những điều kiện
đó là gì? Đề làm rõ điều đó em xin chọn đề tài “Điều kiện bảo
hộ đối với sáng chế theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm
2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và một số kiến nghị” làm đề
tài cho bài tiểu luận của mình.
1
B. NỘI DUNG
I. khái quát về sáng chế và bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế
1. Một số khái niệm
1.1. sáng chế
Trong cuộc sống có lẽ chúng ta đã quá quen thuộc với
thuật ngữ “sáng chế”, vậy nó là gì? Sáng chế tiếng Anh và tiếng
Pháp là Invention, tiếng Nga là Izobretenij. Theo từ điển Bách
khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so
với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả
cầu tất yếu và cần thiết.
Sáng chế được bảo hộ bởi bằng độc quyền sáng chế. Bằng
độc quyền sáng chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
trên cơ sở đơn do người có sáng chế nộp cho cơ quan này nếu
sáng tạo ra đáp ứng các yêu cầu quy định của pháp luật. Một
khi bằng độc quyền đã được cấp thì chủ sở hữu nó sẽ có quyền
gọi là quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Theo quy
định tại khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ
sung 2009) thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ
dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Theo đó thì bất
kì ai muốn khai thác sáng chế dù rằng người đó tạo ra sáng chế
này một cách độc lập, không sao chép hoặc không biết đến nó
vẫn phải xin phép người đã được cấp hay chủ sở hữu của bằng
độc quyền sáng chế của sáng chế đó. Chủ sở hữu bằng độc
quyền sáng chế có độc quyền khai thác và sử dụng sáng chế
của mình, chuyển giao hoặc bán bằng độc quyền cho người
khác. Ở Việt Nam, sáng chế còn có thể được bảo hộ bởi bằng
3
độc quyền giải pháp hữu ích. Giải pháp hữu ích thực chất là một
sáng chế nhỏ, có trình độ sáng tạo không bằng sáng chế.
Nhà nước không tự động thực thi độc quyền sáng chế, mà
điều này phụ thuộc vào chủ sở hữu sáng chế. Để bảo vệ quyền
sáng chế của mình, chủ sở hữu có thể yêu cầu cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xử lý các hành vi phạm quyền sở hữu công
chép lại càng trở nên dễ dàng hơn. Vì vậy việc bảo hộ các sáng
chế sẽ giúp chủ sở hữu bảo vệ được thành quả sáng tạo của
mình và tiếp tục đầu tư phát triển tạo ra sáng chế mới.
Thứ hai, giúp tạo ra môi trường cạnh tranh, kinh doanh
lành mạnh. Nếu không có hệ thống bảo hộ sáng chế, các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường sẽ không cần đầu tư sáng tạo mà
chỉ cần sao chép, bắt trước các sáng chế vốn có của người khác
với chi phí rẻ hơn nhiều. Kết quả là các nhà sản xuất chân chính
khó có khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận để bù đắp những chi
phí đầu tư cho quá trình nghiên cứu chứ chưa nói đến tiếp tục
đầu tư cho sáng tạo mới. Và chính có thể họ sẽ bị chính đối thủ
cạnh tranh loại mình ra khỏi thị thị trường bằng chính sản phẩm
của mình. Như vậy việc bảo hộ sáng chế một cách hiệu quả sẽ
giúp giữ gìn một môi trường trong sạch cho các hoạt động sáng
tạo và kinh doanh, từ đó tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
giữa các oanh nghiệp.
Thứ ba, tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nhệ
và đầu tư. Việc bảo hộ với các sáng chế tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và công bố
những sản phẩm của mình một cách rộng rãi để mọi người được
cùng hưởng lợi. Nó tạo ra một môi trường trong sạch trong hoạt
động nghiên cứu và kinh doanh từ đó góp phần lớn vào việc
chuyển giao công nghệ.
Hệ thống bảo hộ cung cấp thông tin pháp lý và kĩ thuật
cho người cần công nghệ. Theo đó, người cần công nghệ có thể
5
biết được tên, địa chỉ của người nộp đơn, chủ sở hữu và các tác
giả của các sáng chế, có thông tin do công bố trong công báo
“Hiệp định về khía cạnh thương mại có liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ” thì: Bằng sáng chế có thể cấp cho bất cứ sáng chế
nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực
công nghệ với điều kiện sáng chế đó là mới, có trình độ sáng
tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung
2009) thì:
“1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền
sáng chế nếu đáp ứng các điềukiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”
Theo quy định trên thì một sáng chế muốn được cấp bằng
bảo hộ phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản như sau:
1.1 Có tính mới
Tính mới là một điều kiện quan trọng để xem xét bảo hộ
cho sáng chế, theo đó: “Sáng chế được coi là có tính mới nếu
chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng
văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở
nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước
ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được
hưởng quyền ưu tiên” (khoản 1 Điều 60 Luật sở hữu trí tuệ 2005
(sửa đổi bổ sung 2009)).
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộ lộ công
khai (chỉ có một số lượng người nhất định biết về sáng chế và
những người này có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế) dưới bất
kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước
ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên (đối với
trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên).
7
8
“2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có
một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về
sáng chế đó.
3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố
trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng
chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của
người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;
b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86
của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86
của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt
Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa
nhận là chính thức”.
1.2. Có trình độ sáng tạo
Theo chú thích số 5 của Điều 27 Hiệp định TRIPs thì “trình
độ sáng tạo” có thể được mỗ thành viên coi là đồng nghĩa với
thuật ngữ “không hiển nhiên”. Điều 61 Luật sở hữu trí tuệ 2005
(sửa đổi bổ sung 2009) quy định về “trình độ sáng tạo” của
sáng chế thì: “Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu
căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới
hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình
thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp
đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong
trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên,
sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra
một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh
không có khả năng áp dụng cho các mục đích thực tế thì sẽ
không được cấp bằng độc quyền, nếu sáng chế là một sản
phẩm thì sản phẩm đó phải có khả năng sản xuất, nếu là một
10
quy trình thì đó phải có khả năng thực hiện, hơn nữa việc sản
xuất và thực hiện đó có thể lặp đi lặp lại nhiều lần.
1.4. Không thuộc trường hợp không được bảo hộ với
danh nghĩa sáng chế
Trên thực tế, có nhiều sáng chế đáp ứng được cả ba điều
kiện nêu ở trên đó là có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả
năng áp dụng công nghiệp nhưng vẫn không được bảo hộ vì đó
là những sáng chế thuộc đối tượng không được bảo hộ. Điều 59
Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009) quy định về các
đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế, theo đó:
“Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa
sáng chế:
1. Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các
hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh
doanh; chương trình máy tính;
3. Cách thức thể hiện thông tin;
4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
5. Giống thực vật, giống động vật;
6. Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất
sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho
người và động vật”.
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp”.
Quy định trên sẽ khuyến khích mọi người sáng tạo trong
lao động sản xuất, không ngừng cải tiến, thay đổi các phương
pháp trong lao động để tìm ra những cách thức, những cách
thực hiện công việc, giải quyết vấn đề tốt nhất để đem lại kết
quả cao nhất.
III. Thực trạng bảo hộ sáng chế ở Việt Nam
12
1. Những thành tựu
Trong quá trình của sự hội nhập và phát triển các nhà sáng
chế đã quan tâm hơn đến những quyền lợi của mình và việc bảo
vệ sáng chế của mình. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã
nhận thấy rõ được vai trò của việc bảo hộ các sáng chế và đã
thực hiện tốt công tác cấp bằng bảo hộ các sáng chế. Việc bảo
hộ sáng chế ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu, cụ thể
như sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ đã tương
đối được hoàn thiện. Việt Nam mới chỉ bắt đầu thiết lập hệ
thống bảo hộ các tài sản trí tuệ mà khởi đầu là sáng chế từ năm
1981, đó có thể coi là thời điểm muộn so với các quốc gia trên
thế giới. Với mong muốn hội nhập với thế giới và thu hút đầu tư
Việt Nam đã nỗ lực không ngừng trong việc đổi mới và hoàn
thiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ. Cho đến nay hệ
thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và về bảo hộ với
sáng chế nói riêng ở Việt Nam đã cơ bản hoàn thiện và đáp ứng
đầy đủ các tiêu chuẩn và yêu cầu của quốc tế, Việt Nam đã và
đang là thành viên của nhiều tổ chức về bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ và bảo hộ sáng chế.
Thứ hai, đó là tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế ngày càng tăng và xảy ra trên hầu hết
các địa phương. Cụ thể giai đoạn 1997-200 không có trường hợp
khướu nại về vi phạm nào xảy ra. Nhưng trong năm 2003 đã có
23 vụ, năm 2004 là 33 và năm 2005 là 41 vụ. Có thể nói tình
trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
ngày càng có những diễn biến phức tạp đặc biệt là trong giai
đoạn hội nhập hiện nay.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý về sở
hữu trí tuệ còn thiếu, một số có trình độ còn hạn chế, cơ sở vật
chất kĩ thuật còn thiếu thốn gây ra nhiều khó khăn trong công
14
tác quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp khi có tranh
chấp xảy ra.
3. Đề xuất hướng giải quyết
Hoạt động bảo hộ đối với sáng chế nói riêng và bảo hộ với
quyền sở hữu trí tuệ nói chung còn tồn tại một số khó khăn,
vướng mắc như ở trên. Để giải quyết những khó khăn đó chúng
ta cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các quy phạm pháp luật về
sở hữu trí tuệ nói chung và về bảo hộ với sáng chế nói riêng.
Đưa ra các chính sách để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu sáng
tạo của các nhà khoa học, doanh nghiệp và khuyến khích họ
đăng kí những sáng chế của mình để đảm bảo quyền lợi của
mình.
Thứ hai, cần có các chế tài mạnh mẽ hơn trong việc sử lý
các hành vi xâm phạm về quyền sở hữu công nghiệp đối với
sáng chế nói riêng và đối với quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Từ
1. Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009).
2. Hiệp định TRIPs.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáp trình Luật sở hữu trí
tuệ Việt Nam. NXB Công an nhân dân. 2013.
4.
http://luatviet.net.vn/bao-ho-quyen-so-huu-tri-tuetrong-boi-canh-hoi-nhap-va-xay-dung-nen-kinh-te-trithuc/n20170524045758632.html
5.
https://www.most.gov.vn/thanhtra/tintuc/4/270/csdl.aspx
6.
http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-bao-ho-quyen-sohuu-cong-nghiep-doi-voi-sang-che-tai-viet-nam-thuctrang-va-giai-phap-27588/
17
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU.................................................................................1
B. NỘI DUNG..............................................................................2
I. khái quát về sáng chế và bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế..........................................................2
1. Một số khái niệm...................................................................2
2. ý nghĩa của việc bảo hộ đối với sáng chế.............................3
II. Điều kiện bảo hộ với sáng chế theo quy định của Luật
sở hữu trí tuệ............................................................................5
1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền
sáng chế....................................................................................5