VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CẤP CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người Hướng Dẫn Khoa Học
lượng hoạt động của cấp
năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên trong
các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở. Chất lượng,
hiệu quả hoạt động của cấp cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ,
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà
nước.
Cán bộ cơ sở phải là người có năng lực giỏi, chuyên môn sâu, kỹ năng
xử lý tình huống… để tập hợp được sức mạnh toàn dân hướng vào phát triển
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, họ phải thực sự là những người tận tâm, tận
lực, gương mẫu. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCS là
một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị trong
công cuộc cải cách hành chính
1
cũng như phát triển đất nước.
Tuy nhiên, ở cấp cơ sở hiện nay, chất lượng đội ngũ CBCC trong cả
nước nói chung và ở quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng nói riêng còn bộc lộ
những hạn chế, thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu;
tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, ngại tiếp thu cái mới, kém năng động, sáng tạo còn
phổ biến trong một bộ phận công chức; một số công chức có biểu hiện dao
động, cơ hội, bè phái, tham ô, sách nhiễu nhân dân… đã làm giảm uy tín trong
nhân dân, hiệu quả quản lý cơ sở thấp. Để nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCCS, việc thực hiện chính sách
ĐTBD cho đội ngũ này là
một trong các giải pháp hết sức quan trọng.
2
Xuân Sầm đồng chủ biên:
lượng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003. Trong tác phẩm này, các tác giả đã khẳng định
được
rõ vị trí, vai trò và yêu cầu khách quan, cấp bách của việc nâng cao
chất lượng đội ngũ CBCC. Đồng thời, hệ thống hóa các căn
học của việc nâng cao chất lượng chất lượng đội ngũ cán
cứ khoa
bộ, công
chức phù hợp với thời kỳ CNH – HĐH ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên,
nội dung tác phẩm chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu đối tượng
CBCC nói chung mà chưa đi sâu vào đối tượng đặc thù là CBCCS.
Cuốn sách “Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý – Kinh nghiệm từ
thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của TS.Tần Xuân Bảo, Nxb Chính
trị Quốc gia Sự thật, năm 2012 đã khái quát nội dung, đánh giá thực
trạng công tác ĐTBD lãnh đạo quản lý
để làm căn cứ đổi mới công
tác ĐTBD lãnh đạo quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố hiện
nay.
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công chức hành
khác nhau về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và có những đóng góp
nhất định trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách và tìm ra một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở nước ta. Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu trên tập trung chủ yếu mặt phương pháp luận hoặc
nghiên cứu trong phạm vi rộng dưới góc độ của quản lý công (cả đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước), chưa đi sâu nghiên cứu dưới góc độ về chính sách
công cũng như cụ thể về thực hiện chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ, CBCCS.
Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên có giá trị đối với những
người đã và đang nghiên cứu về chất lượng cán bộ, công chức. Tuy nhiên, ở
quận Sơn Trà chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể và toàn diện về thực
hiện chính sách ĐTBD CBCCS dưới góc độ khoa học chính sách công. Vì
4
vậy, tác giả nghiên cứu đề tài: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ
sở từ thực tiễn quận Sơn Trà, Thành Phố Đà Nẵng” góp phần làm sinh
động thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCS phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS và thực
trạng thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS tại quận Sơn Trà, Thành phố Đà
Nẵng để đề ra một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách ĐTBD
CBCCS tại quận trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng khái niệm có liên quan về thực hiện chính sách ĐTBD
CBCCS
- Đánh giá thực trạng công tác thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS tại
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Toàn bộ số liệu phục vụ cho nghiên cứu luận
văn tác giả thu thập qua khảo sát, điều tra thông qua phiếu điều tra
* Phương pháp tổng hợp - so sánh
- Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo liên quan đến tình hình
hoạt động của đơn vị và các biện pháp thực hiện chính sách ĐTBD CBCCS.
- Phương pháp so sánh: sử dụng so sánh để đối chiếu giữa các năm hoạt
động của đơn vị.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm, các vấn đề lý luận cơ
bản liên quan đến thực hiện chính sách ĐTBD đội ngũ CBCCS, phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ĐTBD đội ngũ CBCCS.
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế về thực hiện chính sách ĐTBD đội
ngũ CBCCS tại quận Sơn Trà, Luận văn nêu lên thực trạng thực hiện chính
sách ĐTBD đội ngũ CBCCS để đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách
ĐTBD đội ngũ CBCCS tại quận Sơn Trà. Đây là những tư liệu kinh nghiệm
cho các nhà quản lý ở các cơ quan hành chính nhà nước, địa phương tham
khảo trong việc thực hiện chính sách ĐTBD đội ngũ CBCCS ở, địa phương
mình.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính chia làm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp
cơ sở
Chương 2. Thực trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở
và toàn quốc được xem là một chỉnh thể, hệ thống
của cái vĩ mô, đứng đầu là
nhà nước trung ương. Cơ sở thường được
xem là cái vi mô, là một tế bào, một phần tử hợp thành của cái vĩ mô
- cả nước và toàn quốc như một cơ thể sống.
Xét theo quan hệ quyền lực, quyền hạn, chức trách của tổ chức nhà nước,
cấp cơ sở là thấp nhất, nhỏ nhất. Chính quyền cấp cơ sở cũng như hệ thống
chính trị cấp cơ sở đương nhiên chịu sự chỉ đạo, kiểm soát của cấp trên, từ
huyện, tỉnh tới Trung ương. Cái nhỏ nhất, thấp nhất đó còn được minh chứng
bởi quy mô diện tích, địa giới hành chính và số lượng dân cư mà xã/phường
quản lý.
Cấp cơ sở là nơi gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa cơ quan quản lý
hành chính nhà nước với nhân dân, hàng ngày lắng nghe, nắm bắt và
8
phản ánh tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của nhân dân. Cấp cơ sở có
vai trò quan trọng trong việc triển khai
và vận động nhân dân thực
hiện tốt mọi đường
lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
thể chế hoá chặt chẽ qua hoạt động của
cơ sở. Cấp cơ sở là cấp hành
đủ để
khẳng định
phong phú, phải
động, cấp hoạt động, tổ chức thực hiện đường lối chính sách, nghị quyết của
Đảng và Nhà nước.
Trong luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ cấp cơ sở thay cho cấp xã. Do
đó từ phần nghiên cứu này trở đi, thuật ngữ cấp xã được thay thế bằng thuật
ngữ cấp cơ sở.
1.1.2. Cán bộ cấp cơ sở
Theo khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ
chức chính trị- xã hội; Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển
dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
9
Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính
phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC xã,
phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã:
+ Cấp cơ sở loại 1 được bố trí tối đa không
quá 22 người.
sở:
+ Cấp cơ sở loại 2 được bố trí tối đa không quá 20 người.
+ Cấp cơ sở loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người.
1.1.3. Đặc điểm của cán bộ cấp cơ sở
Đội ngũ CBCCS gồm cán bộ chuyên trách, công chức và những người
hoạt động không chuyên trách có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, là những người thực thi công vụ ở cấp cơ sở
Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực – pháp lý được thực
thi bởi những người được nhà nước trao quyền, nhằm thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt
động của đời sống xã hội. Họ được trao quyền thực thi công vụ. Đồng thời, họ
có trách nhiệm phục vụ xã hội, công dân và chịu trách nhiệm liên quan đến
chức trách mà mình đang đảm nhiệm.
Thứ hai, được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi
chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ.
CBCCS được nhà nước cung cấp những điều kiện cần thiết để tiến hành
thực thi công vụ như trụ sở, điều kiện, phương tiện làm việc. Họ được đảm
bảo những quyền lợi vật chất và tinh thần như: Hưởng lương từ ngân sách nhà
nước tương xứng với chức trách, công việc được giao, được hưởng các loại
phụ cấp, trợ cấp và hưởng lương hưu khi có đủ thời gian công hiến cho nên
công vụ.
Thứ ba, đội ngũ CBCCS hầu hết là người địa phương, sinh sống tại địa
phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với nhân dân.
Bản thân những cán bộ cấp cơ sở đa phần đều trưởng thành từ các hoạt
động của tổ, khu vực nên mang những đặc tính của người địa
12
hành chính hay các lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc
của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác.
Ở Việt Nam, Nghị định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về ĐTBD
công chức đưa ra định nghĩa đào tạo công chức như sau: Đào tạo là
quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,
theo quy định của từng cấp học, bậc học.
Nghị
định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về ĐTBD công chức
đưa ra định nghĩa bồi dưỡng công chức như sau: Bồi dưỡng
động trang
kỹ năng
là hoạt
bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc, gồm :
- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức,
hoạt động theo chương trình quy định
cho ngạch công chức.
- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức
vụ lãnh đạo, quản lý là
Mục đích của việc ĐTBD cán bộ:
- Phát triển năng lực làm việc cán bộ và nâng cao khả năng thực hiện
công việc thực tế của họ.
- Giúp cán bộ luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu
nhân lực trong tương lai của tổ chức.
- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của cán bộ
do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có
đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm.
Nhìn chung, ĐTBD là hoạt động nhằm:
- Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến
công việc.
- Thay đổi thái độ và hành vi.
- Nâng cao hiệu quả thực hiện công việc.
- Hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của tổ chức.
1.1.5. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở
1.1.5.1. Chính sách công
Thông thường người ta hiểu cụm từ “chính sách” khi nó có vai trò, chức
năng của “khu vực công” thì được gọi là chính sách công. Vì vậy, trong thực
tế nhiều nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về chính sách công
với chức năng, vai trò cũng có sự khác biệt.
B. Guy Peter ( 1990) định nghĩa: “ Chính sách công là toàn bộ các hoạt
động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc
sống của mọi công dân”.
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Quý Thọ cho rằng: “chính sách công là những
định hướng mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban
14
hành như một công cụ quản lí của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công
người có tài năng” [ 21, tr21].
Công tác ĐTBD CBCCS được xem là nhiệm vụ then chốt trong công tác
cán bộ. Do vậy, trên quan điểm về chính sách công nói chung và nhiệm vụ
của ĐTBD CBCCS, có thể đưa ra khái niệm về chính sách ĐTBD cho
CBCCS như sau: Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Chính
sách ĐTBD CBCCS là một chính sách trong hệ thống các chính sách nhằm
phát triển đội ngũ CBCCS. Chính sách đó là tập hợp các quyết định chính trị
của Nhà nước tác động đến đối tượng CBCCS bao gồm
nhiều hoạt động từ xây dựng chương trình, kế hoạch ĐTBD, lựa chọn người
đi học, phương pháp tổ chức ĐTBD, chế độ đãi ngộ đối với
người học và công tác kiểm tra
công tác đào tạo cán bộ
công tác cử cán bộ đi học sao
đảm bảo
ch
o
về chất lượng, phù hợp về số
lượng để CBCCS sau khi được ĐTBD đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới.
Chính sách ĐTBD cho CBCCS là phương tiện thể chế hóa đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác ĐTBD
cho CBCCS. Dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách
ĐTBD đội ngũ CBCCS để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về ĐTBD đội ngũ CBCCS.
1.1.5.4. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng
a) Đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước
- Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ sẽ cung cấp cho đội ngũ kiến thức quản
lý kinh tế, kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức pháp luật và trình độ lý luận.
Việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ rất cần thiết bởi đây là đội ngũ quyết định
thành bại các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước.
- Đối với cán bộ lãnh đạo cần phải có nội dung đào tạo nhằm phát triển
17
kỹ năng quản lý, điều hành.
b) Đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài:
Đào tạo về khoa học quản lý ở một số ngành kinh tế - xã hội như quản lý
môi trường, quản lý đô thị, quản lý xã hội, quản lý nhân sự…Lĩnh vực quản lý
hành chính công quyền cần phải được tập trung ĐTBD nhằm góp phần
chuyên nghiệp hóa các chính sách ở nước ta.
1.1.6. Các chủ thể thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
- Bộ Nội vụ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm việc thực hiện quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và ở nước ngoài;
các chính sách liên quan đến CBCC. [9].
- HĐND và UBND thành phố: ban hành các chính sách về CBCCS bên
cạnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong Luật tổ chức
chính quyền địa phương năm 2015 [22].
- Sở Nội vụ trực tiếp tham mưu cho UBND thành phố ban hành kế hoạch
ĐTBD cho CBCC và phối hợp với Sở Tài chính thực hiện kinh phí trợ cấp
cho hoạt động ĐTBD của CBCC theo quy định. Đồng thời hướng dẫn, kiểm
tra, báo cáo kết quả hoạt động ĐTBD cho CBCC hằng năm theo quy định của
Bộ Nội vụ. Sở Nội vụ tổng hợp danh sách do phòng Nội vụ quận cung cấp để
trình UBND thành phố phê duyệt. Sau đó, Sở Nội vụ tiến hành mở các lớp
ĐTBD với sự tham gia các cơ sở đào tạo.
đặt ra; nhất là những vấn đề liên quan về đất đai, quản lý trật tự xã hội,
tôn giáo, dân tộc.
Báo cáo chính trị tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thức
của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác giáo
dục lý luận chính trị, học tập
XII
nghị
quyết của Đảng cần được đổi mới mạnh mẽ. Thực hiện nền nếp
việc
bồi dưỡng lý luận,
cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng
viên,
nhất là cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp….” [11, tr135].
19
và đảm bảo mọi điều kiện cho tổ chức thực hiện chính sách ĐTBD cho đội
ngũ CBCCS.
- Chính quyền cấp cơ sở: dựa trên nhu cầu thực tế của địa phương tiến
hành rà soát, thống kê về nhu cầu và số lượng cán bộ cần phải ĐTBD. Hỗ trợ
về thời gian, vật chất (nếu có) cho người tham gia ĐTBD.
1.2.4. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện
Theo dõi tiến độ thực hiện, đôn đốc nhắc nhở các đơn vị có liên quan nỗ
lực hoàn thành nhiệm vụ.
Kiểm tra là hoạt động nhằm nắm bắt thông tin, diễn biến trong quá trình
thực hiện chính sách ĐTBD cho CBCCS. Kiểm tra việc thực hiện nội dung
chương trình, công tác cử người tham gia ĐTBD, công tác phân công, cử cán
bộ giảng viên tham gia giảng dạy nhằm đảm bảo chất lượng ĐTBD, cử đúng
đối tượng và góp phần nâng cao từng bước đội ngũ CBCCS.
Công tác kiểm tra còn giúp cho CBCCS được cử đi học tập yên tâm về
tư tưởng để hoàn thành chương trình đào tạo. Hoạt động kiểm tra cũng nhằm
kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách
trên để kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh như cử tuyển, nội
dung đào tạo, thời gian thực hiện chương trình. Ở cấp cơ sở mọi hoạt động
thường xuyên diễn ra trong từng giờ. Do đó thực hiện chính sách trên phải có
phương pháp mềm dẻo phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn. Ví dụ địa phương
có vấn đề nóng về khiếu kiện đất đai thì phải để cán bộ đang học tập về địa
phương giải quyết hoặc khi có thiên tai lớn có thể phải dừng học tập để tập
trung sức lực, trí tuệ thực hiện các công tác cấp bách đó.
1.2.5. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Đánh giá kết quả ĐTBD là một phần quan trọng trong quá trình ĐTBD.
Đánh giá kết quả ĐTBD là để xem xét mức độ thỏa mãn các mục tiêu ĐTBD
và đưa ra những điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả cho các
21
22
nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách ĐTBD đội ngũ CBCCS, đòi hỏi
các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phải thiết kế được chương
trình ĐTBD phù hơp với khung năng lực của từng vị trí việc làm, phù hợp với
điều kiện kinh tế xã hội của cơ sở hoặc vùng. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc
thực hiện chính sách ĐTBD cụ thể sau:
1.3.1. Các yếu tố khách quan
Một là, môi trường thực thi chính sách ĐTBD CBCCS đó là toàn
bộ các thành phần vật chất, phi vật chất tham gia thực hiện chính
sách như: các điều kiện vật chất, kỹ thuật trong nền kinh tế; các nhóm
lợi ích có được từ việc thực thi chính sách này; bầu không khí chính
trị, trật tự xã hội ở địa phương. Nhìn chung
môi trường thực hiện
chính sách ĐTBD ở các địa phương của nước ta có nhiều thuận lợi. Đó
là, hệ thống chính trị ổn định; Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư cơ
ở vật chất, kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục nói chung và ĐTBD CBCCS
nói riêng. Ngoài một số điểm nóng về trật tự trị an do khiếu kiện về đất đai,
nói chung các cơ sở ở nước ta đều ổn định về trật tự xã hôi. Các tổ chức
Đảng, đoàn thể cùng chính quyền địa phương thống nhất trong thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và thực hiện đúng chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước. Đây là một yếu tố khách quan thuận lợi để thực hiện
chính sách ĐTBD CBCCS ở nước ta.
Hai là, đối tượng thực hiện chính sách: việc tuyển chọn đội ngũ cán bộ
ngay ban đầu đóng vai trò quyết định. Phải tuyển chọn đúng đối tượng đi học
để ĐTBD CBCCS đạt hiệu lực, hiệu quả.
Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ CBCCS sẽ ảnh hưởng đến