VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ DUNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN BỘ NỘI VỤ
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Chính sách Đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức từ
thực tiễn Bộ Nội vụ” của luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi
cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Trần
Khánh Đức. Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết
quả của cuộc điều tra xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu trên thực tế, không
có sự sao chép mà không trích nguồn tác giả.
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu
toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
1.3
Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
15
1.4
Giải pháp, công cụ chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
16
1.5
Thể chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
20
1.6
Chủ thể chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
21
Những yếu tố tác động đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
22
1.7
3.1
3.2
Nội vụ
Thực trạng kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
50
công chức Bộ Nội vụ
Đánh giá chung chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
54
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
61
DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Phương hướng hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
61
Một số giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
61
công chức.
KẾT LUẬN
73
Chính sách công
ĐTBD
Đào tạo, bồi dưỡng
ĐTBD CBCC
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
ĐTBD CBCCVC
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
HCNN
Hành chính nhà nước
QLNN
Quản lý nhà nước
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) là bộ phận cấu thành của nguồn nhân lực
1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011- 2015. Để triển khai các
văn bản trên, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 490/QĐ-BNV ngày 22/3/2016
về việc ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và
người lao động của Bộ Nội vụ. Quy chế này đã và đang hỗ trợ các đơn vị trực thuộc
Bộ Nội vụ dễ dàng triển khai trong việc áp dụng công tác ĐTBD, triển khai đúng
người, đúng yêu cầu cả về nội dung cũng như đối tượng. Tuy nhiên, trong quá trình
thực thi không tránh khỏi những bất cập như cán bộ, công chức, viên chức
(CBCCVC) vừa đi học vừa đi làm không đảm bảo được chất lượng học tập, nội
dung và chất lượng đào tạo chưa cao, chương trình tài liệu còn lạc hậu chưa phù
hợp với yêu cầu tực tế công việc.
Từ các lý do nêu trên tác giả chọn đề tài “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức từ thực tiễn Bộ Nội vụ” làm luận văn thạc sĩ chính sách công với
mong muốn được đóng góp những kiến nghị, đề xuất của mình vào hoàn thiện
chính sách ĐTBD CBCC nói chung và ĐTBD CBCC của Bộ Nội vụ nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề Chính sách ĐTBD CBCC đã được rất nhiều tác giả trong nước
nghiên cứu, phân tích, đánh giá, có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu như sau:
- TS. Thang Văn Phúc và PGS.TS. Nguyễn Minh Phương (2005), “Cơ sở lý
luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức” của (Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, năm 2005).
- PGS.TS. Đỗ Phú Hải (2012), Những vấn đề cơ bản về chính sách công,
Học viện Khoa học Xã hội. Nội dung bài viết nói về khái niệm, nội dung, quy trình,
cách thức, đánh giá về chính sách công (CSC).
- PGS.TS. Văn Tất Thu (2014), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ
sau cách mạng tháng 8 đến nay” Tạp chí Quản lý nhà nước, số 01/2014.
- PGS.TS. Văn Tất Thu (2016), “Vấn đề chính sách phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao” Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 6/2016.
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ” (theo
tcnn.vn ngày 31/12/2015). Tác giả đã làm rõ quan điểm, quy trình về ĐTBD CBCC,
thực hiện cải cách trong ĐTBD CBCC nhằm nâng cao hiệu quả ĐTBD và năng lực
thực thi công vụ cho CBCC.
- TS. Vũ Thanh Xuân (2013), “Xây dựng đội ngũ giảng viên các cơ sở đào
tạo, bồi dưỡng của Bộ Nội vụ góp phần thực hiện các mục tiêu theo Quyết định
1734/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ”, Tạp chí Tổ chức nhà
nước Bộ Nội vụ, số 3/2013.
- PGS.TS. Trần Khánh Đức (2004), “Quản lý và kiểm định chất lượng đào
tạo nhân lực theo ISO & TQM”, NXB Giáo dục. Tác phẩm đã nêu tầm quan trọng
3
của quản lý chất lượng đào tạo, đưa ra các chỉ số và chuẩn trong đào tạo, phương
thức đánh giá, quản lý chất lượng, mô hình quản lý chất lượng cần phù hợp với thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
- TS. Lại Đức Vượng (2008), “Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức Hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý công mới
và hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ. Theo tác giả chất
lượng ĐTBD CBCC hành chính có thể được xác định bằng đánh giá kết quả công
tác quản lý và công tác tổ chức ĐTBD.
- PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều (2001), “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, số 16/2001. Bài viết đã làm
sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận, thực tiễn và đưa ra các giải pháp của việc nâng cao
chất lượng ĐTBD CBCC nhà nước.
- TS. Nguyễn Ngọc Vân (2011), “Nghiên cứu, xây dựng hệ thống tiêu chí
đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức”. Đề tài khoa học cấp Bộ,
Bộ Nội vụ, năm 2011
- Bộ Nội vụ (2016), Báo cáo số 2303/BC-BNV ngày 23/5/2016 báo cáo kết
quả 5 năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-BNV và triển khai Quyết định số
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời đứng trên quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về Nhà nước và pháp luật; yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và
triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công. Tiếp cận chu trình
chính sách từ hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự
tham gia của chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được áp dụng qua thực
tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách công chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, luật, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng,
Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan, tham khảo một số báo hình, báo viết, tạp chí
qua interner và một số tài liệu tham khảo khác.
- Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp đánh giá: đánh giá trong quá trình ĐTBD CBCC giai đoạn từ
5
2011 đến nay, thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề khó khăn và đưa ra các giải
pháp hoàn thiện nâng cao công tác ĐTBD CBCC tại Bộ Nội vụ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
- Các kết luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn
thiện những vấn đề lý luận về chính sách công nói chung, chính sách ĐTBD CBCC
ở nước ta nói riêng, góp phần cung cấp thêm cơ sở cho Bộ Nội vụ nhằm hoàn thiện
chính sách ĐTBD CBCC.
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước [34].
Trong cuốn từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1997, cán bộ được định nghĩa
là: người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, Đảng và
đoàn thể; là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân
biệt với người không có chức vụ [49].
Cán bộ ở đây được hiểu theo 2 cách: thứ nhất, là những người làm công tác
nghiệp vụ chuyên môn không chỉ trong cơ quan nhà nước mà còn trong cả hệ thống
chính trị. Bộ phận cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn ở đây được phát triển thông qua
con đường đào tạo từ nhà trường; thứ hai, cán bộ là người làm công tác có chức vụ
trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị. Đây chính là đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân
chủ, đề bạt, bổ nhiệm.
Cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, một đơn
vị nào đó. Họ có trách nhiệm đề ra phương hướng hoặc chủ trương, quy định quan
trọng, có tính chiến lược về đơn vị mình. Họ là người điều hành, chỉ đạo bằng
quyền hành qua các mệnh lệnh. Cán bộ lãnh đạo còn là người điều chỉnh những
chính sách cho phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh khách quan. Cán bộ lãnh đạo
7
được phân làm nhiều cấp; cấp tỉnh và cấp huyện. Cán bộ lãnh đạo của các cấp khác
nhau thì chịu tác động ảnh hưởng cũng khác nhau.
Cán bộ quản lý là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ chủ yếu gắn với
việc thực hiện chức năng quản lý; là người điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực
hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo. Họ được trao quyền đánh giá một cách
độc lập, chỉ đạo hoạt động công việc của người khác hay của một đơn vị, tổ chức
người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước (QLNN), hoạt động công
quyền mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan dịch vụ có tính
chất công cộng. Song có một điểm chung là các nước đều giới hạn công chức trong
phạm vi bộ máy HCNN. Các tổ chức hoạt động chính trị hay hoạt động doanh nghiệp
không phải là công chức nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một nhiệm vụ thường xuyên của
bộ máy nhà nước.
1.1.3. Khái niệm đào tạo
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nhà xuất bản Đà Nẵng,
2009, thì “đào tạo có nghĩa là quá trình làm con người trở nên có năng lực, có khả
năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định” [48].
Như vậy, theo định nghĩa này, đào tạo là một quá trình tác động tới năng lực,
khả năng của con người, để giúp cho người đó đạt được những tiêu chuẩn định trước.
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về ĐTBDCC đưa ra khái niệm: “đào tạo là
quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định
của từng cấp học, bậc học” [23]. Với khái niệm này, quá trình đào tạo gắn liền
với thời gian đào tạo tại trường học qua từng cấp học, bậc học.
Từ đó, có thể thống nhất khái niệm về đào tạo như sau: đào tạo là quá trình
truyền tải, trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp để họ có thể tự tạo được việc làm hoặc làm việc trong những
ngành nghề nhất định.
1.1.4. Khái niệm bồi dưỡng
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về ĐTBD CBCC đưa ra khái niệm rất rõ: “Bồi
dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [23].
Ở khái niệm này, chỉ ra hoạt động bồi dưỡng gắn liền với trang bị, cập nhật, nâng
9
cao kiến thức, kỹ năng vận dụng những kiến thức chung nhất ở một môi trường
Đại hội IX của Đảng xác định tiếp tục đổi mới công tác cán bộ: “Xây dựng đội
ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị,
gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt
động thực tiễn, gắn bó với nhân dân. Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn,
ĐTBD cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài”. Đại hội đã chỉ ra: “Xây dựng,
chỉnh đốn các học viện, trường, trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng hiệu quả
ĐTBD cán bộ, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp chống các biểu
hiện tiêu cực trong giảng dạy và học tập” và cần phải “Có chương trình, kế hoạch đào
tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên CBCC nhà nước”[4].
Vì vậy, ĐTBD CBCC là một quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng, chuyên
môn, nghiệp vụ dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm giúp cho CBCC đáp ứng yêu
cầu giải quyết công việc được các cơ quan nhà nước giao.
1.1.6. Khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chính sách là công cụ quản lý nhà nước góp phần thực hiện để đạt được mục
tiêu mong muốn và chúng ta có thể hiểu chính sách là tập hợp các quyết định, giải
pháp của các nhà quản lý nhằm tác động đến đối tượng thực thi chính sách để thực
hiện mục tiêu đề ra.
Có nhiều quan niệm về chính sách công, tuy nhiên theo định nghĩa của
PGS.TS Đỗ Phú Hải, 2012, (CSC) được hiểu như sau: “Chính sách công là một tập
hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể với
các giải pháp công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng
thể đã xác định” [30] .Vì vậy CSC là một công cụ quản lý của nhà nước thông qua
việc ban hành và thực thi các chính sách nhằm đạt được mục tiêu vai trò quản lý của
Nhà nước. Ở nước ta, CSC là do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề
ra. Chủ thể ban hành CSC là các cơ quan lập pháp, hành pháp của Nhà nước như
Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương và được thể hiện thông qua các
văn bản: Hiến pháp, Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư.
Mục tiêu của CSC là cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát triển
kinh tế - xã hội nhằm phục vụ lợi ích của người dân. Quy trình xây dựng, quản lý
tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự
giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Pháp luật của Nhà nước”. “Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách
nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao” [34]. Đồng thời CBCC
12
cũng có các quyền tương ứng với nghĩa vụ, nhiệm vụ được giao. Trong đó có quyền
“được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được
pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ” [34]. Đây chính là chính sách của Nhà nước
đối với CBCC Nhà nước, những người làm việc cho Nhà nước. Và việc Nhà nước
bảo đảm cho công chức có quyền được ĐTBD nâng cao trình độ chính trị, chuyên
môn, nghiệp vụ là bổn phận và nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước đối với CBCC. Nhà
nước muốn và yêu cầu CBCC phải trung thành với Nhà nước, tôn trọng và tận tụy
với nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước thì Nhà
nước phải có chính sách đối xử với CBCC một cách thích hợp và đúng mực.
Thứ hai, do vai trò, tầm quan trọng của CBCC, của đội ngũ CBCC trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy
Nhà nước nói chung, của hệ thống chính trị nói riêng xét cho cùng được quyết định
bởi năng lực, phẩm chất, hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC. Chính đội ngũ
CBCC, nhất là công chức lãnh đạo quản lý là lực lượng tham mưu cho Đảng và
Chính phủ trong hoạch định xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật
của Nhà nước, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ ba, để có được đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước xây dựng Nhà nước phải đặc
biệt quan tâm đến công tác ĐTBD họ. Nhà nước phải có thái độ quan điểm đúng về
công tác ĐTCBCC. Nói cách khác, Nhà nước phải có chính sách ĐTBD CBCC hợp
lý, đủ mạnh. Nếu không có chính sách ĐTBD CBCC một cách đúng đắn, hợp lý và
đủ mạnh khó có thể đào tạo, xây dựng được đội ngũ CBCC có đủ trình độ, năng lực,
phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.
tế. Nếu không có các giải pháp hữu hiệu, hợp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác ĐTBD CBCC chúng ta khó có thể xây dựng được đội ngũ CBCC như mục
tiêu đề ra trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao.
Thứ tám, chất lượng, hiệu quả ĐTBD CBCC phụ thuộc vào nội dung, chương
trình, hình thức, phương pháp ĐTBD CBCC; phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội
ngũ giảng viên làm công tác ĐTBD CBCC. Để công tác này đạt được mục tiêu, yêu
cầu đặt ra Nhà nước phải có chính sách đầu tư kinh phí, thời gian... Vấn đề ĐTBD
CBCC chỉ có thể giải quyết thành công bằng chính sách của Nhà nước.
14
Tóm lại, từ các phân tích nêu trên cho thấy ĐTBD CBCC thực sự trở thành
vấn đề chính sách, và vấn đề này chỉ có thể giải quyết thành công bằng chính sách
của Nhà nước.
1.3. Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức
Mục tiêu của CSC nói chung là cái đích chủ thể chính sách hướng tới để giải
quyết nhằm đạt được kết quả xác định mục tiêu chung của chính sách ĐTBD CBCC
nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có đủ trình độ, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Thực hiện nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nội vụ đã tổ chức Hội
nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg và triển khai Quyết
định số 1374/QĐ-TTg. Hội nghị đã thống nhất 5 nhiệm vụ, giải pháp triển khai,
thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg, bao gồm:
Một là, các Bộ, ngành và địa phương khẩn trương xây dựng và ban hành Kế
hoạch ĐTBD CBCC giai đoạn 2011 - 2015. Kế hoạch cần xác định các mục tiêu và
giải pháp cụ thể, khả thi để triển khai, hoàn thành tốt mục tiêu đề ra.
Hai là, tiến hành ngay việc biên soạn mới hệ thống chương trình ĐTBD
CBCC, bảo đảm không trùng lặp và sát với yêu cầu nhiệm vụ của CBCC.
Ba là, Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh việc biên soạn các chương trình bồi
- Đảm bảo yêu cầu thực tế của đơn vị và như cầu công việc.
- Phối kết hợp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức ĐTBD.
- Bảo đảm quyền và nghĩa vụ, công bằng của CBCC được tham gia ĐTBD.
- Đề cao vai trò tự học và quyền của CBCC trong việc lựa chọn chương trình
ĐTBD theo vị trí việc làm.
- Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả trong công tác ĐTBD.
1.4. Giải pháp, công cụ chính sách đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức
1.4.1. Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Giải pháp chính sách công nói chung, giải pháp ĐTBD CBCC nói riêng là
cách thức chủ thể chính sách sử dụng tác động đến đối tượng chính sách để đạt
được mục tiêu chính sách. Giải pháp chính sách ĐTBD CBCC là cách thức Nhà
nước sử dụng để tác động đến công tác ĐTBD góp phần xây dựng đội ngũ CBCC
chuyên nghiệp vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng lực xây
16
dựng hệ thống chính trị Nhà nước pháp quyền XHCN tiên tiến, hiện đại. Để đạt
được mục tiêu chính sách cần phải sử dụng các giải pháp cụ thể sau:
Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
ĐTBD CBCC:
Để làm được điều này thì căn cứ vào số lượng và chất lượng đội ngũ
CBCBVC, tổ chức kiểm tra, rà soát thường xuyên trình độ, nghiệp vụ tổ chức đánh
giá phân loại đội ngũ CBCC nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC làm cơ sở để
xây dựng kế hoạch ĐTBD CBCC.
Hai là, xác định nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức ĐTBD CBCC:
Chất lượng chương trình ĐTBD phụ thuộc rất lớn vào nội dung chương trình
một chương trình đủ tiêu chuẩn không chỉ về mặt lý luận mà còn sát với thực tiễn,
bổ sung kiến thức, kỹ năng xây dựng nội dung, chương trình ĐTBD CBCC phải
được thiết kế phù hợp với nhu cầu người học, nội dung, biên soạn mới các chương
trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch bảo đảm không trùng lặp, có kết cấu
xem xét giới hạn cho phù hợp góp phần không nhỏ đến việc thực thi chính sách
ĐTBD CBCC.
Năm là, mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐTBD CBCC.
Để tăng cường hội nhập quốc tế phát triển nền công vụ, hành chính phải
thường xuyên trao đổi với các nước về nội dung chương trình, nguồn nhân lực để
nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC ngành Nội vụ nhằm giúp CBCC có được phương
pháp làm việc khoa học và có kỹ năng thích ứng nhanh với thay đổi môi trường làm việc
trong nước và quốc tế, có khả năng thích ứng, thích nghi tốt để hội nhập quốc tế. Đây
là cơ hội tạo động lực thúc đẩy cả người dạy và người học nâng cao kiến thức, kỹ
năng, phương pháp cần thiết, hiện đại trong quá trình hội nhập quốc tế.
Sáu là, đãi ngộ, trọng dụng, sử dụng CBCC sau khi được ĐTBD.
Tại điều 23 Nghị định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05 tháng 3 năm
2010 quy định về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức quy
định “Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm: ngân sách nhà nước,
kinh phí của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức và tài trợ của tổ chức, cá
nhân nước ngoài”[23].
CBCC sau khi được tham gia các khóa ĐTBD trong nước và nước ngoài,
ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn bản thân mà còn phát triển năng lực của tổ
18
chức mạnh mẽ và đồng đều. Vì vậy các tổ chức cần bố trí, sử dụng CBCC một cách
hợp lý để họ có cơ hội thể hiện và khẳng định bản thân.
Bảy là, đánh giá chất lượng ĐTBD CBCC.
Không nên coi nhẹ việc đánh giá, muốn biết tiêu chuẩn ĐTBD đạt hiệu quả,
đáp ứng hay không thì các bộ phận chịu trách nhiệm phải thường xuyên đánh giá,
thu thập thông tin phản hồi từ các khóa ĐTBD xem xét chất lượng, hiệu quả nhằm
đưa ra những quyết định điều chỉnh kịp thời và được thực hiện ở tất cả các khâu
trong quá trình đào tạo để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng một cách
cụ thể và khách quan.
đào tạo, bồi dưỡng công chức (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2010 và bãi bỏ
Chương III Nghị định số 54/2005/NĐ- CP ngày 19/4/2005);
- Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài
Chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà
nước dùng cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức;
- Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2011 quy định về việc
phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
- Quyết định số 163/2006/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức giai đoạn 2016 - 2025;
- Quyết định số 31/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt đề án ĐTBD Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã giai đoạn 2006 - 2010;
- Thông tư số 11/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ
về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05
tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức;
- Bộ Nội vụ - Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Quyết định 1347/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
công chức giai đoạn 2011 – 2015;
- Bộ Nội vụ - Báo cáo số 2303/BC-BNV ngày 23/5/2016 báo cáo kết quả 5
năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-BNV và triển khai Quyết định số 163/QĐTTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025”.
20
Các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quản lý
như trên đã tạo thành cơ sở pháp lý khá đầy đủ để hoạch định, xây dựng và tổ chức
thực hiện chính sách ĐTBD CBCC. Để chính sách ĐTBD CBCC có hiệu lực, hiệu
quả khi xây dựng chính sách cần khai thác triệt để các quy định trong thể chế về
ĐTBD CBCC.