VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ ANH THƯ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ ANH THƯ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Đỗ Thị Kim Định
HÀ NỘI, năm 2018
2
3
làm công tác quản lý phần lớn tuổi đời không cao, kinh nghiệm về quản trị trường
đại học chưa nhiều. Trong xu thế xã hội hóa giáo dục, với vị thế là trường đại học
địa phương, Nhà trường đứng trước nhiều khó khăn, thử thách trong công tác tuyển
sinh, nâng cao chất lượng dạy và học, xu hướng tự chủ trường đại học; công tác đào
tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao về giảng dạy, tham gia
quản lý tại trường. Trong thời gian tới, để hoàn thành sứ mệnh trở thành một trung
tâm đào tạo, bồi dưỡng và NCKH có uy tín, ngang tầm với các trường đại học lớn
trong vùng, vững vàng tiếp cận, hoà nhập với các trường đại học trong khu vực và
trên thế giới, bên cạnh sự đoàn kết, nỗ lực không ngừng của tập thể lãnh đạo và GV
Nhà trường, trường ĐH Quảng Nam cần có những chính sách đào tạo đại học phù
hợp trong điều kiện phát triển mới. Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên
chọn đề “Thực hiện chính sách đào tạo đại học tại trường ĐH Quảng Nam” làm đề
tài luận văn thạc sĩ ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu thực trạng đào tạo đại học trong bối cảnh nền giáo dục nước nhà
thời điểm hiện tại, xu hướng phát triển các ngành trong tương lai, tìm ra hướng đi
cho đào tạo đại học của tỉnh nhà hay của từng trường cụ thể là bài toán khá nan giải
và cấp thiết đối với từng cơ sở đào tạo đại học hiện nay. Đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu, các hội thảo, các bài tham luận về chính sách công, chính sách đào tạo
đại học ở Việt Nam. Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu sau:
PGS.TS Nguyễn Hữu Hải (chủ biên, 2014), Chính sách công – những vấn đề
cơ bản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách trang bị những kiến thức cơ
bản về chính sách công, công tác hoạch định và thực thi chính sách công; những kỹ
năng cơ bản về hoạch định, phân tích, tổ chức thực thi, kiểm tra, đánh giá chính
sách công giúp cho độc giả có thể vận dụng vào quản lý chính sách công, nhận thức
đúng tác dụng của phân tích chính sách để luôn quan tâm tìm kiếm các công cụ,
phương pháp phân tích chính sách công trong quản lý nhà nước.
PGS.TS. Lê Hữu Ái (chủ biên), “Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay: thực
trạng và giải pháp nâng cao chất lượng”. Trong công trình này, các tác giả đã tập
trung phân tích những bất cập, yếu kém của giáo dục đại học ở nước ta hiện nay,
đặc biệt là khía cạnh chất lượng giáo dục và đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết luận
chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giáo dục đại học trong phát triển
5
kinh tế ở nước ta hiện nay.
PGS. TS Lâm Quang Thiệp, báo cáo nghiên cứu “Tổng quan về chính sách
giáo dục đại học Việt Nam và ý nghĩa đối với phát triển giáo dục đại học định
hướng nghề nghiệp ứng dụng”. Báo cáo đã đưa ra một bức tranh tổng quan về chính
sách giáo dục đại học, phân tích những diễn biến, những bước phát triển mới trong
chính sách giáo dục đại học. Báo cáo đã góp phần một mặt giúp lãnh đạo các trường
có một cái nhìn toàn cảnh để định vị vai trò, sứ mạng của trường mình một cách phù
hợp, mặt khác giúp các nhà hoạch định chính sách ở các Bộ thấy rõ những điều còn
thiếu và cần được xây dựng.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong thời gian qua đều khẳng định vai trò
quan trọng của chính sách công, trong đó có chính sách đào tạo đại học. Tuy nhiên,
những bài viết trên chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu chính sách ở tầm rộng lớn,
nghiên cứu cả hệ thống chính sách hoặc nghiên cứu ở quy mô toàn quốc. Cho đến
nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về thực hiện chính sách đào tạo đại học tại
trường ĐH Quảng Nam. Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học về
thực hiện chính sách tại trường ĐH Quảng Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ
sở cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về những mặt tích cực và hạn chế của
hoạt động thực hiện chính sách đào tạo tại trường ĐH Quảng Nam từ đó đề xuất
những giải pháp phù hợp để hoạt động thực thi chính sách ngày càng chất lượng và
hiệu quả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về đào tạo đại học tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống
giáo dục quốc dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, mô tả, so sánh; phương pháp thu
thập thông tin.
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra các
khái niệm về chính sách, chính sách đào tạo đại học, đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình thực hiện chính sách đào tạo đại học.
Chương 2: Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, tổng hợp, phân tích,
7
đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo đại học từ thực tiễn Trường ĐH
Quảng Nam.
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp để rút ra
những giải pháp thực hiện chính sách đào tạo đại học từ thực tiễn Trường ĐH
Quảng Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn đề lý luận
về chính sách đào tạo đại học.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài không những góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học chính sách công mà
còn cung cấp các luận cứ để bổ sung, hoàn thiện lí luận, quan điểm, chủ trương,
chính sách về định hướng xây dựng chính sách đào tạo đại học tại trường ĐH
Quảng Nam nói riêng và trường đại học ở Việt Nam nói chung. Luận văn cũng giúp
cho UBND tỉnh Quảng Nam, các sở, ban, ngành liên quan, các nhà hoạch định
trình truyền đạt này phải là một quy trình khép kín với những chuẩn mực và hệ
phương pháp dạy và học cụ thể, trong một khoản thời gian nhất định. Tùy theo mỗi
cấp học, ngành học mà mục tiêu đào tạo, chương trình học, nội dung môn học, thời
gian đào tạo tương ứng. Kết thúc khóa học, nếu người học đáp ứng được yêu cầu thì
được cấp bằng hay chứng chỉ.
Đại học, theo Luật Giáo dục đại học 2012 định nghĩa rằng: “Đại học là cơ sở
giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện NCKH
thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào
tạo các trình độ của giáo dục đại học” [33]
Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại
học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ, được thực hiện theo hai hình thức là giáo dục
chính quy và giáo dục thường xuyên.
Vậy Đào tạo đại học là khái niệm chỉ hệ thống các biện pháp, các tổ chức đào
9
tạo, hoạt động giảng dạy, truyền thụ kiến thức của người thầy đến người trò ở trình
độ đại học.
Đào tạo đại học và đào tạo sau đại học là bậc đào tạo sau cùng trong hệ thống
giáo dục và đào tạo của một quốc gia: đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm
các nhà khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở
các trình độ khác nhau. Đào tạo đại học không trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất vì vậy chúng không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất. Tuy nhiên, theo
phân công lao động xã hội, đào tạo đại học là nơi duy nhất có đủ điều kiện và đủ
khả năng cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng và trình độ chuyên môn cao
cho nền kinh tế. Đào tạo đại học làm tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc
trang bị cho họ tài khéo kéo, sự hiểu biết để làm ra nhiều của cải vật chất hơn cho
bản thân, gia đình và xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm chính sách, chính sách đào tạo đại học
Chính sách là một thuật ngữ sử dụng rất phổ biến hiện nay, theo cách hiểu
cùng là những phản hồi đối với các chính sách đang được áp dụng, từ đó có thể dẫn
tới việc xem xét lại hay chấm dứt chính sách công đó.
Là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, thực hiện chính sách là
quá trình thực thi các chương trình hoặc các chính sách; nó biểu thị bằng việc
chuyển các kế hoạch thành thực tế, là quá trình quá trình chuyển hóa toàn bộ ý chí
của chủ thể chính sách thành hiện thực. Nói cách khác, “thực hiện chính sách bao
gồm các hoạt động có thể thức được chính phủ thực hiện hướng tới đạt các mục
đích và mục tiêu tuyên bố trong chính sách” [30].
Từ đó, ta có thể hiểu thực hiện chính sách đào tạo đại học là quá trình biến các
chính sách đào tạo đại học thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động
có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hoá mục tiêu đã đề ra. Tổ chức thực
hiện chính sách là tất yếu khách quan, là một bước quan trọng trong chu trình chính
sách, là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với
các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu, định hướng của chính sách.
1.1.2. Vai trò của thực hiện chính sách đào tạo đại học
1.1.2.1. Thực hiện chính sách đào tạo đại học nhằm biến ý đồ chính sách
thành hiện thực
Trong quá trình quản lý điều hành quốc gia, nhà nước phải đối xử với nhiều
11
đối tượng, nhiều thành phần, nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau. Do địa vị chính trị,
kinh tế, xã hội và pháp lý của từng đối tượng không giống nhau, nên vai trò của
chúng đối với quá trình phát triển xã hội cũng khác nhau. Để phát huy tác dụng của
các đối tượng trong quá trình vận động đến mục tiêu, nhà nước phải có thái độ ứng
xử một cách thích hợp với mỗi vấn đề phát sinh trong từng giai đoạn cụ thể. Công
cụ được nhà nước dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng
quản lý đó chính là chính sách. Tùy theo yêu cầu quản lý phát triển nền kinh tế – xã
hội ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban hành các chính sách công để thể hiện ý
kỹ năng và khả năng thực hiện công việc sau đào tạo.
Vì thế, các cơ sở giáo dục đại học khi xây dựng, ban hành các chương trình
đào tạo cần nêu rõ mục tiêu, yêu cầu kiến thức, kỹ năng cần đạt được của từng
chương trình. Bên cạnh đó việc ban hành và công bố chuẩn đầu ra cho từng chương
trình đào tạo cũng chính là cam kết của nhà trường với xã hội về chất lượng đào tạo
của cơ sở giáo dục. Việc thực hiện tốt chính sách đào tạo đại học ở từng trường sẽ
tạo động lực cho việc hoàn thành các mục tiêu chung về chính sách giáo dục đào tạo
và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.1.2.3. Thực hiện chính sách đào tạo đại học nhằm khẳng định tính đúng đắn
của chính sách
Trong chu trình chính sách công thì thực thi chính sách đóng vai trò thẩm định
tính hiệu quả của các chính sách khi đã được hoạch định, xây dựng. Thực thi chính
sách chính là bước đầu tiên cho thấy tính đúng đắn hay không của vấn đề chính
sách. Chính sách đúng đắn là chính sách đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (tiêu chuẩn)
của một chính sách, tập trung giải quyết tốt những vấn đề kinh tế, xã hội được đặt
ra. Tuy nhiên, một chính sách sau khi hoạch định được xem là tốt thì giá trị của nó
cũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn mà thôi. Tính
chuẩn mực của chính sách ở giai đoạn này cũng mới chỉ là sự thừa nhận của chủ thể
ban hành chính sách. Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong
đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là
được cả xã hội thừa nhận, đặc biệt là các đối tượng thụ hưởng chính sách.
Việc thực hiện các chủ trương, chính sách đào tạo đại học trong những năm
qua đã góp phần đào tạo ra lực lượng lao động chất lượng cao phục vụ đắc lực cho
sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
13
1.2. Nội dung của thực hiện chính sách đào tạo đại học
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo đại học
tiêu của chính sách đào tạo đại học đã đề ra.
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đào tạo đại học
Phổ biến, tuyên truyền chính sách là công đoạn truyền bá chính sách qua
nhiều kênh khác nhau có thể là trực tiếp, gián tiếp hay thông qua phương tiện
thông tin đại chúng nhằm mục đích làm cho các đối tượng chịu tác động trong
chính sách, cán bộ, CC và người dân hiểu ý nghĩa của chính sách và thực thi tốt
chính sách đó.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách là công việc mang tính thường xuyên và
liên tục và đóng vai trò rất quan trọng. Nếu công tác phổ biến, tuyên truyền chính
sách không được thực hiện tốt (thiếu năng lực phổ biến, tuyên truyền) thì dễ có
nguy cơ làm cho chính sách bị biến dạng, làm giảm uy tín, niềm tin của nhân dân
vào Đảng, Nhà nước. Đối với người dân, việc phổ biến, tuyên truyền chính sách đào
tạo đại học giúp cho người dân hiểu rõ được tầm quan trọng, mục tiêu, tính chất,
quy mô của chính sách cũng như quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong
việc nhấn mạnh vai trò cốt yếu của chính sách giáo dục, đào tạo nhất là đào tạo đại
học trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia.
Đối với các cơ sở giáo dục:
- Giúp cho nhà trường nắm bắt nhu cầu thị trường lao động, chuyển hướng đào
tạo đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và
quốc tế.
- Đẩy mạnh các hoạt động NCKH trong đội ngũ GV, SV, ứng dụng tốt các
phương tiện kỹ thuật trong dạy học, đổi mới phương pháp giảng dạy đem lại hiệu
quả cao, đầu tư CSVC, thực hành… nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
- Thu hút, đào tạo bồi dưỡng GV có năng lực và trình độ cao phục vụ trong
công tác giảng dạy.
- Chú trọng đến công tác liên kết, hợp tác đào tạo và NCKH giữa các cơ sở
giáo dục trong nước và quốc tế.
Đối với NLĐ:
tạo của nhà trường là hình thức tạo nên “thương hiệu” của cơ sở giáo dục trên thị
trường lao động hiện nay.
Tên phạm vi toàn quốc, cho đến nay hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta
16
đã tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Theo thống kê của Bộ GD-ĐT,
tính đến hết năm học 2016-2017, nước ta hiện có 235 trường đại học, học viện (bao
gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước
ngoài), 37 Viện NCKH được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao
đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm. Đội ngũ GV các trường ngày càng
được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ, nhiều GV được tham gia tu nghiệp nước ngoài, trang thiết bị CSVC được chú
trọng đầu tư. Tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch rất lớn giữa các trường trọng điểm
quốc gia với các trường đại học địa phương.
Như vậy, để thực hiện chính sách đào tạo đại học có hiệu quả cần phải có sự
phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các ngành, các cấp, chính
quyền địa phương và quá trình này ảnh hưởng đến kết quả thực hiện mục tiêu chính
sách. Thực hiện chính sách đào tạo đại học có hiệu quả là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị, với vai trò tham mưu tích cực của ngành Giáo dục – Đào tạo. Do
vậy, công tác phối hợp và phân công cụ thể các ngành chức năng là hết sức quan
trọng, việc triển khai và thực hiện cần có sự đồng bộ, tránh chồng chéo, rườm rà,
trách nhiệm không rõ ràng.
1.2.4. Duy trì chính sách đào tạo đại học
Duy trì chính sách là hoạt động đảm bảo chính sách tồn tại được và phát huy
hiệu quả của nó trong môi trường thực tế. Muốn vậy, cần phải có sự đồng tâm, hợp
lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại. Đây là nhiệm vụ
của các cơ quan nhà nước chủ trì tổ chức thực hiện chính sách đào tạo đại học. Nếu
việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo đại học gặp phải khó khăn do môi trường
1.2.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách đào tạo đại học
Việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách đào tạo đại học
nhằm đảm bảo cho các hoạt động của chính sách được diễn ra bình thường theo
đúng quy định pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện bất kỳ chính sách nào, kể cả chính sách đào tạo đại học cũng phải
quy định cụ thể công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện chính sách đào
tạo đại học tại các cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc
ban hành các quy định về cơ chế tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công lập, quy
định về khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân, quyền tố cáo của các cá nhân đối
18
với các hành vi vi phạm về chính sách, quy định điều lệ trường đại học, quy định
xác định chỉ tiêu tuyển sinh, quy định về chuẩn đầu ra cho SV tại các cơ sở giáo
dục, quy định về kiểm định chất lượng giáo dục, hay quy định về công tác NCKH
hợp tác quốc tế,… nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách giáo dục đại học cần
được các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thường
xuyên góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực hiện mục tiêu chính sách.
Thực tế khi triển khai thực hiện chính sách đào tạo đại học, các chủ thể được
phân công thực hiệc không phải chủ thể nào cũng làm tốt và nhanh như nhau, nên
cần có hoạt động theo dõi tiến độ thực hiện, đôn đốc, nhắc nhở để vừa thúc đẩy
các chủ thể nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, kiểm tra tháo gỡ những khó khăn, vướng
mắc để tiếp tục hướng dẫn thực hiện chính sách một cách hoàn thiện hơn, thông
qua các công cụ hữu ích giúp cho các chủ thể triển khai thực hiện chính sách đào
tạo đại học đạt kết quả tốt.
1.2.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đào
tạo đại học
Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về chỉ
đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan nhà nước trong hệ thống
các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền vì thế tầm nhìn và quyết
sách của Đảng ảnh hưởng rất lớn đến nội dung (thời điểm xuất hiện chính sách,
công cụ thực hiện chính sách, quy mô chính sách, mức ngân sách đầu tư cho chính
sách,...), hình thức chính sách.
Văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị là những định hướng chính trị, thái độ chính trị của chủ thể
đối với hệ thống chính trị cũng như đối với vai trò của bản thân chủ thể đó trong hệ
thống chính trị. Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách nói chung và
chính sách đào tạo đại học nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức con
người, thúc đẩy họ hướng tới những hành động tích cực, phù hợp với lý tưởng chính
trị xã hội, từ đó tác động đến mọi mặt đời sống xã hội
Hiến pháp 2013
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia. Nước ta từ khi lập quốc đến
nay trải qua 5 đời Hiến pháp, mỗi bản Hiến pháp đều gắn liền với các mốc lịch sử
quan trọng, gồm các bản Hiến pháp năm: 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung
20
năm 2001), 2013.
Vì là đạo luật cơ bản, do đó Hiến pháp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình xây dựng và hoạch định chính sách. Chính sách phát triển giáo dục một
lần nữa được khẳng định trong Hiến pháp là quốc sách hàng đầu với mục đích
“nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Mục đích này
trước hết nhằm nâng cao trình độ nhận thức, năng lực trí tuệ của nhân dân, bao gồm
cả trình độ văn hóa, kỹ thuật, khoa học và công nghệ. Trình độ dân trí không chỉ là
trình độ nhận thức mà bao hàm cả chí khí dân tộc, là sức mạnh tinh thần, là lòng
yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam ngàn năm văn hiến. Đặc biệt, phát hiện,
bồi dưỡng nhân tài là vấn đề cốt lõi của một quốc gia.
Thể chế chính trị
ở các cơ sở giáo dục đó là:
Năng lực chủ thể thực hiện chính sách đào tạo đại học
Năng lực của đội ngũ cán bộ, CC, VC tham gia thực hiện chính sách đào tạo
quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo. Muốn
nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện chính sách công cần phải có các giải pháp
đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ này khi tham gia thực
hiện chính sách.
Với tính chất công viêc cũng như yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ đối với
cán bộ, CC, VC ở các cơ quan thực thi chính sách là khác nhau nên năng lực của
chủ thể thực hiện chính sách cũng không hoàn toàn giống nhau. Năng lực của chủ
thể thi hành chính sách đào tạo được thể hiên thông qua nhiều khía cạnh như: năng
lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, năng lực phổ biến, tuyên
truyền chính sách, năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách,
năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách, năng lực duy trì chính sách,
năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách.
Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo
Quy trình thực thi chính sách đào tạo là một khâu hợp thành chu trình chính
sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại. So
với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan
trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội. Do đó, mỗi
bước trong tổ chức thực thi chính sách đề có tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn đối với
22
quá trình thực hiện chính sách đào tạo đại học.
Cũng như các chính sách khác của Đảng và Nhà nước, chính sách giáo dục –
đào tạo bao giờ cũng thể hiện quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp. Vì vậy, rất có thể
một chính sách đưa ra vấp phải sự phá hoại, sự chống đối của các lực lượng thù
địch trong và ngoài nước; sự kìm hãm của những yếu tố bảo thủ, lạc hậu.... Điều đó
của quốc gia. Đào tạo đại học không chỉ gói gọn trong việc giảng dạy đơn thuần các
kiến thức chuyên môn mà còn chú trọng cho người học rèn luyện về sức khỏe, giáo
dục những giá trị đạo đức, kỹ năng sống, làm việc, khả năng hòa nhập với môi
trường làm việc và hội nhập quốc tế.
Thực hiện chính sách đào tạo đại học gồm những nội dung cơ bản như: xây
dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo; phổ biến, tuyên truyền thực
hiện chính sách đào tạo đại học; phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo
đại học; duy trì chính sách đào tạo đại học; điều chỉnh chính sách đào tạo đại học;
theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chính sách đào tạo đại học; đánh giá, tổng kết, rút
kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đào tạo đại học. Việc tuân thủ các các
bước trong quy trình thực hiện chính sách đào tạo đại học, áp dụng một cách linh
hoạt, sáng tạo tại cơ sở giáo dục góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo đại học
tại Trường Đại học Quảng Nam
2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh ven biển miền Trung, với diện tích đất tự nhiên
10.438km2, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên
125 km bờ biển, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và
nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; tổng số dân trên địa bàn Quảng Nam là
1.460.164 người, với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân
số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Quảng Nam có lực
lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong