Quy chế pháp lý về ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THU THẢO

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO
PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS Vũ Thị Lan Anh

Hà Nội - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Quy chế pháp lý về người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh. Các kết quả nêu trong
luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Ngƣời cam đoan

Trần Thị Thu Thảo


1.2.3. Nguồn pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ......22
1.2.4. Nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp……………………………………………………………………….25
1.2.5. Quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo
pháp luật một số quốc gia trên thế giới .....................................................................25
Chƣơng 2 NỘI DUNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO
PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ................29
2.1. Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ....29
2.1.1. Quy định của pháp luật về xác lập quyền đại diện của ngườvi đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp ...............................................................................29
2.1.2. Quy định của pháp luật về số lượng người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp .............................................................................................................33
2.1.3. Quy định của pháp luật về thời hạn và phạm vi đại diện của người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp ...............................................................................34


2.1.4. Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp .......................................................................................36
2.1.5. Quy định của pháp luật về trường hợp vượt quá phạm vi đại diện và x lý
vi phạm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ....................................37
2.2. Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp .............................................................................................................39
2.2.1. Một số kết quả đạt được từ thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý về người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp .......................................................................39
2.2.2. Một số hạn chế trong thực tiễn thực hiện của người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp và nguyên nhân ............................................................................53
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP N NG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ PHÁP
LÝ VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP .........59
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý về người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp .......................................................................59

3.4.2. Giải pháp đối với Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ ...............................71
3.4.3. Giải pháp đối với một số Hiệp hội nghề nghiệp ........................................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

STT

Viết đầy đủ

1.

BLDS

Bộ luật dân sự

2.

LDN

Luật doanh nghiệp

3.

TNHH


nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh”. Để
đạt được mục tiêu đó thì cần phải tuân thủ nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc về
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp; nguyên tắc bảo đảm điều kiện kinh doanh
phải rõ ràng minh bạch, dễ thực hiện, loại bỏ các thủ tục hành chính phức tạp bất hợp
lý. Trong bối cảnh đó, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (sau đây gọi chung là
Luật doanh nghiệp năm 2014) thay thế Luật doanh nghiệp năm 2005; Bộ luật Dân sự
số 91/2015/QH13 (sau đây gọi chung Bộ luật Dân sự năm 2015) ra đời thay thế Bộ
luật Dân sự số 33/2005/QH11 (sau đây gọi chung là Bộ luật Dân sự năm 2005) đã trao
quyền tự chủ cho doanh nghiệp đặc biệt đề cao chế định người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự do lựa chọn số lượng người đại diện của mình
nâng cao vai trò của người đại diện theo pháp luật đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự thay đổi của nhiều nguyên tắc,
trong đó có nhiều nguyên tắc mà Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa kịp dự liệu như:
Nguyên tắc pháp luật bảo đảm nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bởi luật
trong những trường hợp đặc biệt như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận; Pháp luật chưa
tạo được cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình,
của bên thiện chí, bên yếu thế trong quan hệ dân sự. Pháp luật dân sự còn hạn chế


2

nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn bất
hợp lý, thiếu tính khả thi. Riêng đối với các quy định về đại diện thì Bộ luật Dân sự
năm 2005 còn nhiều thiếu sót như chưa có quy định về việc pháp nhân có thể là đại
diện theo ủy quyền là không phù hợp với nhu cầu chính đáng của các doanh nghiệp về
đại diện, chưa bảo đảm tính hiệu quả trong quản lý, nhất là trong điều kiện các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay đang có nhu cầu và khả năng mở rộng quy mô, địa bàn hoạt
động của mình và có sự cạnh tranh của nhiều công ty xuyên quốc gia. Chính vì vậy,
cần nghiên cứu về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp để hiểu
được sự thay đổi của pháp luật và những ưu điểm nhược điểm trong thực tiễn áp dụng.

thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho
chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty. Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith
đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền
sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control). Hay tác
phẩm Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân (The Modern Corporation and Private
Property) của Adolf A. Berle và Gardiner C. Means2: Hai tác giả cũng cho r ng, mô
hình công ty hiện đại ngày nay là đại diện của một hình thức mới về tài sản, mà tài sản
đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm
thuê) hơn là các cổ đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản). Nhìn chung, các tác
giả nói trên đã chỉ ra xu hướng phát triển của các công ty hiện đại cần có sự phân tách
giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty. Tuy nhiên, các học thuyết nói trên
chỉ dừng lại ở các quan hệ tài chính giữa các cổ đông (người được đại diện) và giám
đốc điều hành công ty (người đại diện).
Ở Việt Nam chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được
nghiên cứu ở nhiều phạm vi và góc độ khác nhau. Cụ thể như sau:
Nghiên cứu trong một số luận văn, luận án như: Nguyễn Văn Thắng (2007),
Người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp 2005, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Vũ Thị Bích Thùy (2014), Đại diện
theo pháp luật của công ty cổ phần ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật
Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Hồ Ngọc Hiển (2012), Đại diện cho thương nhân
1

http://www.saga.vn/adam-smith-va-su-giau-co-cua-cac-quoc-gia~31895, truy cập ngày
28/5/2017
2
http://text.xemtailieu.com/tai-lieu/quan-tri-cong-ty-tai-tong-cong-ty-tai-chinh-co-phandau-khi-viet-nam-43560.html, truy cập ngày 28/5/2017


4



5

hoặc những bài viết ngắn trong Bộ luật Dân sự năm 2005 mà chưa có bài viết nào
nghiên cứu tổng thể các góc độ về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014.
Chính vì vậy, tác giả trong luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống về vấn đề này để làm rõ những góc cạnh của chế định và bổ sung vào những
nghiên cứu đã có.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng các quy định pháp luật về chế định người đại diện của doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: luận văn nghiên cứu quy chế pháp lý người đại
diện theo pháp luật hiện hành của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm
2014. Các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực như Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật doanh
nghiệp năm 2005 chỉ được giới thiệu để làm rõ những điểm mới, tiến bộ của các văn
bản pháp luật mới ban hành. Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp tập trung vào các vấn đề: xác lập quyền đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp; số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; thời hạn
và phạm vi đại diện; quyền và nghĩa vụ của người đại diện và vấn đề x lý vi phạm
của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực
tiễn các quy định về người đại diện của doanh nghiệp theo Bộ luật Dân sự năm 2015
và Luật doanh nghiệp 2014, từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nh m nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định người đại diện của
doanh nghiệp.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể sau: (i) Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ đại diện và
người đại diện của doanh nghiệp; (ii) Phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm

người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả thực hiện quy định
pháp luật dân sự và quy định pháp luật doanh nghiệp về chế định.


7

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 03
chương như sau:
- Chƣơng

1: Khái quát chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

và quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
- Chƣơng

2: Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của

doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng.
- Chƣơng

3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý về người đại

diện theo pháp luật của doanh nghiệp.


8

Chƣơng 1

Nguyễn Vũ Hoàng (2013), Chế định đại điện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra
trong thực tiễn áp dụng, Tạp chí Luật học (2), tr. 2.
6
Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Made Simple Books,
London, p.166.
7
Ngô Huy Cương (2009), Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ
góc độ Luật so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4), tr.26-28.
4


9

quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại
8

diện (agent) và người thứ ba (third party) . Đối với pháp luật công ty, các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện. Theo lý thuyết
về đại diện của mình, Jensen và Mecklin cho r ng: “Lý thuyết đại diện liên quan đến
một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác (thành viên
HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết định
cho đại diện. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa
lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích
9

của người chủ” . Sự phát triển của vấn đề phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý,
kiểm soát công ty làm tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về người chủ và người đại
diện. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ đông
(những người chủ sở hữu – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý
công ty (người thụ ủy – agents) để thực hiện việc quản lý công ty cho họ, mà trong đó

10

với các hệ thống pháp luật trên thế giới, có lẽ xuất phát từ việc vấn đề đại diện của
pháp luật Việt Nam có nguồn gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với BLDS Pháp13.
Từ những học thuyết nói trên, tác giả đồng tình với khái niệm đại diện trong
BLDS năm 2015 của Việt Nam như sau: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây
gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác
(sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng
kí thành lập theo quy định của pháp luật nh m mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp có
thể có tư cách pháp nhân (công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp
danh) hoặc không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân). Nếu là pháp nhân,
doanh nghiệp là pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 75 BLDS năm 2015.
Do là một tổ chức, là một thực thể pháp lý, không phải là con người cụ thể nên tổ
chức đó cần có cá nhân đại diện cho mình, thay mặt mình thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của tổ chức. Khi thực hiện chức năng đại diện, người đại diện phải nhân
danh và vì lợi ích của doanh nghiệp (Điều 134 BLDS năm 2015).
Ở Việt Nam, khái niệm người đại diện theo pháp luật được quy định tại khoản
1 Điều 13 LDN năm 2014: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá
nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao
dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, toà án và các quyền và nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trước hết phải là con
người cụ thể nên mang đầy đủ năng lực cá nhân, con người. Cụ thể, đó là năng lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả
năng của cá nhân b ng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trước hết có đầy đủ năng lực này và

các thủ tục tố tụng phải là người đại diện theo pháp luật. Nếu người này không tham
gia được thì có thể uỷ quyền cho người khác những người không có quyền đương
nhiên như người đại diện theo pháp luật. Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật có
thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp ngoài những quyền và
nghĩa vụ đã phân tích ở trên. Người đại diện của doanh nghiệp là người có trách
nhiệm thực hiện các công việc vì quyền và lợi ích của doanh nghiệp.
Thứ ba, người đại diện chỉ được nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện


12

giao dịch trong phạm vi đại diện. Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ
có hiệu lực pháp lý đối với người được đại diện khi và chỉ khi giao dịch đó phù hợp
với phạm vi đại diện. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết
mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đại diện. Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của
doanh nghiệp, của người đại diện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được
thực hiện như thế nào phụ thuộc vào việc người đại diện có thực hiện đúng phạm vi
đại diện của mình hay không. Do đó, đòi hỏi người đại diện phải minh bạch trong
việc cung cấp thông tin về phạm vi đại diện trước khi xác lập các giao dịch, nhất là
trong điều kiện BLDS năm 2015 và LDN năm 2014 cho phép một doanh nghiệp có
nhiều người đại diện theo pháp luật.
Thứ tư, công ty TNHH, CTCP có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo
pháp luật. Số lượng người đại diện theo pháp luật do doanh nghiệp tự quyết định, trừ
doanh nghiệp tư nhân. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại điều lệ công ty. Đây là
quy định hoàn toàn mới, lần đầu tiên được LDN ghi nhận nh m tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh với bên ngoài thông qua
các đại diện theo pháp luật. Nếu như trước đây, theo LDN năm 2005, mỗi doanh
nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, tất cả những người khác muốn thực
hiện các giao dịch nhân danh công ti đều phải có uỷ quyền của người đại diện theo

chí là thiệt hại về kinh tế cho các chủ thể. Đó cũng là điểm hạn chế lớn của Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế 198915.
- Pháp luật công ty Việt Nam đã có bước phát triển mới khi ban hành Luật
Công ty 1990 và LDN tư nhân 1990. Trong hai đạo luật này đã có những quy định
mang đặc trưng cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Mặc dù có
những điểm tiến bộ nhưng do ban hành vào những năm đầu của công cuộc đổi mới
14

Điều 12 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 quy định: Cơ quan lãnh đạo của xí
nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị. Mỗi bên chỉ định người của mình tham gia Hội đồng
quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp vốn nhưng ít nhất có hai thành viên trong Hội
đồng. Chủ tịch Hội đồng do hai bên thoả thuận c ra Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám
đốc do Hội đồng quản trị c ra để điều hành các hoạt động hàng ngày của xí nghiệp và chịu
trách nhiệm trước Hội đồng về hoạt động của xí nghiệp. Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám
đốc thứ nhất là công dân Việt Nam.
15
Bùi Ngọc Cường (2001), “Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế nước ta hiện nay”,
Tạp chí Khoa học Pháp lý, (4), tr. 20.


14

nên các quy định về người đại diện của doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở những chế
định cơ bản nhất, còn mang tính nguyên tắc và chưa được cụ thể hoá16.
- BLDS 1995 và LDN 1999 đã quy định có sự tách biệt giữa hệ thống pháp
luật điều chỉnh quan hệ dân sự và hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
Song về thực chất, sự phân biệt này trong luật thực định chưa được làm rõ từ luật vật
chất cho tới luật hình thức, chưa có một hệ thống lý thuyết rõ ràng của hai ngành luật
dân sự và luật kinh tế17. Vì thế, pháp luật về đại diện đã được ghi nhận song vẫn chưa
có sự thống nhất với nhiều hạn chế về nội dung và phạm vi điều chỉnh.

các
nước.
Tại
địa
chỉ:
http://tranductuan.files.wordpress.com/2013/04/5-luat-thuong-mai-so- sanh.doc
18
Hồ Ngọc Hiển (2012), Đại diện cho thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 97.


15

năm 2015 quy định về nguyên tắc đại diện, số lượng đại diện và phạm vi thời hạn đại
diện để thống nhất với LDN. LDN năm 2014 đã quy định đầy đủ việc xác lập đại
diện, vấn đề quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Vấn
đề nào chưa được ghi nhận trong LDN thì có thể áp dụng nguyên tắc chung của
BLDS năm 2015.
Ngoài ra chế định về đại diện còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật
khác như Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng…. hình thành nên
một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ đại diện, có sự tương thích
nhất định với các quy định của pháp luật Việt Nam và nước ngoài.
Tóm lại, sự hình thành và phát triển chế định người đại diện theo pháp luật
doanh nghiệp ở nước ta đã phát triển theo từng giai đoạn lịch s của đất nước. Ở giai
đoạn đầu các chế định này xuất hiện và phát triển sơ khai nhưng tính đến nay đã đi
vào hoàn thiện và phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển.
1.1.4. Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thể hiện qua các
yếu tố sau đây:
Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là vị trí bắt buộc,

đại diện chính là người nhân danh doanh nghiệp trong các mối quan hệ đối ngoại.
Tầm quan trọng của chữ ký người đại diện theo pháp luật trên một văn bản của công
ty n m ở chỗ ràng buộc công ty vào nội dung văn bản. Hành vi của người đại diện
chính là chứng cứ pháp lý để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
thông qua hành vi của người đại diện, các cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát,
đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để có những biện pháp x lý,
can thiệp kịp thời nh m đảm bảo doanh nghiệp phát triển lành mạnh theo khuôn khổ
pháp luật.
1.2. Khái quát về quy chế pháp lý về ngƣời đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp
. . . Khái niệm qu ch pháp l về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm
Thuật ngữ “quy chế pháp lý” thông thường được dùng để chỉ tổng thể các quy
phạm pháp luật liên quan tới một đối tượng điều chỉnh nhất định. Theo Đại từ điển
tiếng Việt quy chế là:“Quy chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi
người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó”20. Theo Từ
điển Luật học: “Quy chế là một văn bản hoặc toàn thể các văn bản có chứa quy phạm
20

Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr. 550.


17
pháp luật hoặc quy phạm xã hội do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban
hành theo thủ tục, trình tự nhất định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các thành
viên của cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế”21. Qua nghiên cứu
cho thấy, quy chế pháp lý là một thuật ngữ được s dụng nhiều trong khoa học pháp
lý. Quy chế pháp lý có nghĩa khác với nội quy. Quy chế chính là thuật ngữ chỉ tổng
thể các quy định được đặt ra để điều chỉnh một đối tượng nhất định, có hiệu lực bao
trùm toàn bộ một hệ thống pháp luật nhất định. Còn nội quy được dùng để chỉ quy tắc



18
hữu. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều
muốn tối đa hóa lợi tích của mình, thì có cơ sở để tin r ng người quản lý công ty sẽ
không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công
ty. Làm thế nào để đảm bảo r ng người đại diện chỉ hành động duy nhất vì lợi ích
người chủ (principal) là một thách thức lớn lao.
Nguyên nhân của hiện tượng trên là, trong mỗi công ty đều có những mối quan
hệ ẩn chứa sự xung đột lợi ích ở những mức độ khác nhau, giữa một bên là cổ đông
với tư cách là người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công
ty với tư cách là người trực tiếp quản lý, s dụng vốn, tài sản của công ty. Trên cả
phương diện lý luận và thực tiễn, tất cả các cổ đông,thành viên công ty nói chung –
bất kể là cổ đông/thành viên góp nhiều vốn hay ít vốn – đều có thể phải đối mặt với
việc bị “bóc lột” bởi những người quản lý điều hành công ty.24 Các đặc tính của tự
nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết r ng, các cổ đông thường xuyên giám sát
hoạt động của người quản lý công ty nh m đảm bảo lợi ích của mình, b ng cách thiết
lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu
quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty25.
Mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện còn được nhìn ở khía cạnh
khác. Dưới lăng kính của lý thuyết về người quản gia (stewardship theory) cho chúng
ta một góc nhìn trái ngược hẳn. Lý thuyết người quản gia phản ánh các ý tưởng cổ
điển về kiểm soát quản trị. Thành viên HĐQT có trách nhiệm pháp lý với cổ đông
chứ không phải với chính mình, cũng không phải với các nhóm có quyền lợi khác.
Ngược với lý thuyết đại diện, lý thuyết người quản gia tin r ng thành viên HĐQT
không luôn luôn hành động theo hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ, họ có thể và
thực sự đã hành động một cách có trách nhiệm với sự độc lập và chính trực. Như
Cairns đã nói, “Không một người nào, với tư cách là đại diện, lại được phép đặt mình
vào vị trí mà lợi ích và trách nhiệm của bản thân mâu thuẫn nhau”. 26Chuyên ngành
cơ bản n m sau lý thuyết người quản gia là các nghiên cứu pháp lý và tổ chức. B ng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status