BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỨA THỊ THANH HÕA
ĐỀ TÀI
BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỨA THỊ THANH HÕA
ĐỀ TÀI
BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
nghiên cứu kiến thức để em có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình. Nếu
không có những hƣớng dẫn, giúp đỡ của cô em nghĩ em sẽ gặp rất nhiều khó khăn để
hoàn thành luận văn. Tận đáy lòng mình, em rất biết ơn cô!
Lời cuối cùng, em cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến bố mẹ và gia đìnhnhững ngƣời luôn bên em động viên và giúp đỡ trong cuộc sống cũng nhƣ đã tạo điều
kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2017
Học viên
Hứa Thị Thanh Hòa
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Việt
BMKD
Bí mật kinh doanh
CTMT
Chƣơng trình máy tính
ĐƢQT
Điều ƣớc Quốc Tế
nhất Hoa Kỳ 1979
WCT
WIPO
The Uniform Trade Secret
Act 1979
Hiệp ƣớc WIPO về quyền tác giả
The WIPO Copyright
trong thời đại kĩ thuật số
Treaty
Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới
World Intellectual Property
Organization
MỤC LỤC
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH VÀ
ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH .................. 6
1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHẦN MỀM MÁY TÍNH...........................................................6
1.2. ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH..........................21
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ................................................................................... 27
tƣợng mang bản chất phức tạp, chứa đựng hàm lƣợng đầu tƣ lớn về vật chất lẫn trí tuệ.
Dự báo trong tƣơng lai về tiềm năng phát triển một thị trƣờng rộng lớn liên quan tới
lĩnh vực này…. Cùng với đó những tranh luận của các luật gia, các nhà nghiên cứu trên
toàn cầu về lựa chọn cơ chế bảo hộ thích hợp nhất cho PMMT đƣợc khởi xƣớng, mỗi
quan điểm đều có những lí lẽ riêng của mình và có những đề xuất giải quyết thuyết
phục. Tuy nhiên rõ ràng rằng mỗi cơ chế bảo hộ PMMT vẫn tồn tại những hạn chế nhất
định và việc lựa chọn ra cơ chế bảo hộ nào là toàn diện nhất là vấn đề không dễ dàng.
Ở Việt Nam, trong những năm qua ngành công nghệ thông tin nói chung và
công nghệ phần mềm tuy còn non trẻ, nhƣng lại có sự phát triển với tốc độ chóng mặt
trở thành một phần gắn liền với mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Điểm đáng chú ý ở đây
đó là sự phát triển này đi liền với với nguyên tắc “cung cầu” của thị trƣờng. Ngày nay
nhu cầu sử dụng PMMT ngày càng tăng cao vì những mặt tích cực mà PMMT mang
lại cho ngƣời sử dụng. Để đáp ứng “nhu cầu” của thị trƣờng đòi hỏi phải có nguồn
“cung” tƣơng ứng. “Nguồn cung” này đƣợc thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng hàng
loạt doanh nghiệp, nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin, những ngƣời trực tiếp
sáng tạo ra các sản phẩm phần mềm. Cùng với đó là sự thu hút hàng loạt các doanh
nghiệp nƣớc ngoài đến đầu tƣ và mở rộng thị trƣờng trong lĩnh vực PMMT.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu tất yếu đặt ra ở đây là cần phải xác định cơ chế bảo
hộ hợp lí đối với PMMT, nhằm mục đích thúc đẩy sáng tạo trí tuệ và xây dựng hành
lang pháp lý đủ mạnh làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngành công nghệ thông
tin nói riêng và nền kinh tế đất nƣớc nói chung.
Để làm đƣợc điều đó, việc phân tích, nghiên cứu và tìm hiểu các quy định về bảo
hộ PMMT trong pháp luật của các quốc gia tiêu biểu, có nền công nghệ thông tin phát
triển mạnh và nhiều kinh nghiệm bảo hộ PMMT nhƣ: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản… là
hết sức cần thiết. Giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm tốt nhất, để hoàn thiện
các quy định pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ PMMT. Có nhƣ vậy,
2
3
khoa học (số 596); Trần Văn Hải (2009), “CTMT nên đƣợc bảo hộ là đối tƣợng nào
của quyền SHTT”, Tạp chí Hoạt động khoa học (số 597).v.v.
Ngoài ra còn có những luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề này nhƣ: Phạm
Minh Sơn (2006), Quyền tác giả đối với chương trình máy tính một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội hay Trƣơng Thị Tƣờng Vi (2010), Bảo hộ
quyền tác giả đối với chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam, Khoa Luật Đại
học Quốc Gia Hà Nội .v.v.
Các công trình nghiên cứu khoa học trên một mặt chỉ tập trung phân tích các
quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ PMMT mà không đi sâu nghiên cứu
các quy định cụ thể của pháp luật của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển và
nhiều kinh nghiệm trong vấn đề bảo hộ PMMT. Tuy nhiên, những bài viết của các tác
giả đã phân tích cơ bản về pháp luật Việt Nam và đề xuất những phƣơng hƣớng hoàn
thiện pháp luật trong tƣơng lai, đó là cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu, phát triển, so
sánh với pháp luật nƣớc ngoài nhằm xây dựng và hoàn thiện luận văn của mình.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn tập trung vào phân tích các cơ chế bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với PMMT (gọi tắt là bảo hộ PMMT) theo quy định pháp luật
của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể là các quy định về bảo hộ PMMT thông qua
cơ chế bảo hộ thông tin bí mật, sáng chế và quyền tác giả. Thông qua đó đối chiếu, so
sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, thực trạng bảo hộ PMMT tại Việt Nam,
để tìm ra những điểm mới, những điểm tiến bộ trong pháp luật của các quốc gia trên
thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt
Nam hiện hành về bảo hộ PMMT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi và giới hạn của một luận văn Thạc sĩ, tác giả không đi sâu vào
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến PMMT và
bảo hộ PMMT.
- Luận văn làm sáng tỏ đƣợc quy định pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo
hộ PMMT.
- Đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về bảo hộ PMMT trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm các quy định của pháp luật nƣớc
ngoài.
5
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tổng hợp và phân tích khái niệm về PMMT. Trên cơ sở đó, tìm hiểu
quy định về bảo hộ PMMT theo pháp luật một số nƣớc tiêu biểu. Từ đó rút ra các bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam và đƣa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
nhằm tăng cƣờng hiệu quả bảo hộ PMMT.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo, luận cứ đề xuất, bổ sung những vấn đề lý luận bảo hộ PMMT, đặc biệt là lý luận
về bảo hộ PMMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
* Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu để các cá nhân, doanh
nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực PMMT nghiên cứu, tham khảo và học hỏi
nhằm có cái nhìn tổng quan về việc lựa chọn đƣợc cơ chế bảo hộ đối với PMMT đƣợc
cho là tối ƣu và đem lại hiệu quả bảo hộ tốt nhất trên cơ sở tham khảo một số hê thống
pháp luật về bảo hộ PMMT trên thế giới.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục. Nội
dung luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau:
Chương 1. Một số vấn đề lí luận về phần mềm máy tính và điều ƣớc quốc tế về
bảo hộ phần mềm máy tính
có vị trí hết sức quan trọng đƣợc coi là “linh hồn” của máy tính quyết định tới hiệu
năng của máy tính. Thì về mặt kinh tế, phần mềm có khả năng đem lại cho chủ sở hữu
phần mềm những lợi ích vật chất vô cùng to lớn, thậm chí có những phần mềm mà bản
thân giá trị thƣơng mại của nó lên tới hàng triệu đô la.
7
Hiện nay, không những trong đời sống hàng ngày mà ngay cả về mặt mặt pháp
lý, vẫn đang tồn tại song song hai thuật ngữ “phần mềm máy tính” (computer
software) và “chương trình máy tính” (computer program). Hai khái niệm này đƣợc sử
dụng thƣờng xuyên, không có sự phân biệt một cách rõ ràng. Thậm chí trong ngôn ngữ
hàng ngày, nhiều ngƣời sử dụng đồng nhất và coi hai thuật ngữ trên là cùng chỉ một đối
tƣợng.Tuy nhiên, nhận định này không chính xác bởi giữa chúng luôn tồn tại những
điểm khác biệt nhau.
Vì vậy khi tìm hiểu về PMMT theo hƣớng nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt trong
vấn đề bảo hộ PMMT việc tiếp cận khái niệm PMMT dƣới hai góc độ khoa học công
nghệ và pháp luật là thực sự cần thiết nhằm giúp chúng ta hiểu rõ nội hàm khái niệm
PMMT một cách toàn diện, đầy đủ và chính xác nhất.
1.1.1.1. Dưới góc độ khoa học công nghệ
Dƣới góc độ khoa học công nghệ có nhiều khái niệm về PMMT đƣợc đƣa ra
nhƣng về cơ bản có nội dung tƣơng tự nhƣ nhau:
Theo từ điển Computer Hope: “PMMT là một tập hợp các câu lệnh, chỉ thị cho
phép người sử dụng tương tác với máy tính, phần cứng của máy tính để thực hiện một
nhiệm vụ hay một vấn đề cụ thể nào đó”(1)
Theo giáo trình cấu trúc máy tính – Đại học Thái Nguyên: “Phần mềm là hệ các
chương trình trong máy tính giúp người sử dụng (user) thực hiện một công việc nào
đó”
Theo giáo trình Nhập môn công nghệ phần mềm – Đại học Hàng Hải: “Phần
mềm là một tập hợp bao gồm: Các lệnh (CTMT) khi thực hịên thì đưa ra hoạt động và
Các "câu" này đƣợc gọi là các mệnh đề của chƣơng trình (program statement). Do đó,
các lập trình viên dễ dàng đọc và dễ lập trình hơn so với ngôn ngữ máy. Ngôn ngữ cấp
cao thƣờng không phụ thuộc vào máy tính, nghĩa là các chƣơng trình viết bằng ngôn
ngữ cấp cao có thể chạy trên các loại máy tính khác nhau (sử dụng các bộ vi xử lý khác
nhau).(2)
Thứ hai, cấu trúc dữ liệu bao gồm cấu trúc làm việc và cấu trúc lƣu trữ. Đây là
cơ sở để xác định phƣơng pháp tổ chức dữ liệu sao cho CTMT đƣợc viết bằng ngôn
ngữ lập trình có thể thao tác đƣợc đúng và hiệu quả.
Thứ ba, các tài liệu liên quan gồm hƣớng dẫn kỹ thuật, tài liệu tham khảo và tài
liệu phát triển. Đây là tài liệu giải thích phần mềm làm việc nhƣ thế nào? Hƣớng dẫn
sử dụng, giải thích cách dùng phần mềm đó ra sao? Các tài liệu này không những giúp
(2)
Ngôn ngữ lập trình, truy cập ngày
10/04/2017.
9
ngƣời sử dụng biết và hiểu sâu sắc cách dùng PMMT mà còn là cơ sở để họ đƣa ra
những ý kiến đề xuất hợp lí góp phần xây dựng hoàn thiện PMMT.
Nhƣ vậy, trong ba yếu tố tạo nên một PMMT thì CTMT là yếu tố hạt nhân quan
trọng nhất, nó giống nhƣ vai trò của “động cơ” trong một cỗ máy, các yếu tố còn lại là
dữ liệu và tài liệu chỉ đóng vài trò bổ sung cho CTMT.(3)
Qua các phân tích trên, có thể thấy dƣới góc độ khoa học công nghệ khái niệm
PMMT có nội hàm rộng hơn khái niệm CTMT. Bởi lẽ, chính bản thân CTMT kết hợp
cùng với tài liệu mô tả chƣơng trình và tài liệu hỗ trợ đã tạo thành tổ hợp các yếu tố
chính cấu tạo nên PMMT.
1.1.1.2. Dưới góc độ pháp luật
Sự ra đời của máy tính và PMMT đƣợc coi là một cuộc cách mạng trong lĩnh
Luật quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “Chương trình máy tính là tổng
thể các chỉ dẫn hoặc câu lệnh được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong một
máy tính để tạo ra một kết quả nhất định”.(6)
Trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay và để điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực công nghệ phần mềm, pháp luật Việt Nam đã xây dựng các
quy định về PMMT đƣợc ghi nhận trong nhiều văn bản luật.
Khoản 1, Điều 2 Quyết định 128/2000/QĐ – TTG ngày 20 tháng 11 năm 2000
của Thủ tƣớng Chính phủ về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tƣ và
phát triển công nghiệp phần mềm định nghĩa: “Phần mềm được hiểu là chương
trình, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông tin số hóa”.
Tuy nhiên khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 – Sau
đây gọi tắt là Luật SHTT 2005) ra đời và có hiệu lực các nhà làm luật lại không tiếp tục
sử dụng thuật ngữ “phần mềm” mà thay vào đó lại sử dụng thuật ngữ “chương trình
máy tính”. Cụ thể, khoản 1, Điều 22 quy định: “Chương trình máy tính là tập hợp các
chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác,
khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính
thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể. Chương trình máy tính
được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã
máy”.
(4)
Trần Văn Hải (2012), “Bảo hộ chƣơng trình máy tính nhƣ đối tƣợng độc lập của quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp
chí nhà nước và pháp luật, (11). tr.33-42.
(5)
Khoản 10.2, Điều 2, Luật quyền tác giả Nhật Bản.
(6)
Điều 101, Luật quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
12
1.1.2.1. Phần mềm máy tính liên quan tới nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Đặc điểm này của PMMT xuất phát từ lí do để xây dựng một PMMT phải trải qua
nhiều công đoạn và ở mỗi công đoạn đều có mối liên quan tới những đối tƣợng khác
của quyền SHTT nhƣ: bí mật kinh doanh, sáng chế, tác phẩm có bản quyền, nhãn
hiệu(7). Cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, bí mật kinh doanh: PMMT ra đời xuất phát điểm đầu tiên là việc các
doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông qua nắm bắt, nghiên cứu
nhu cầu xã hội sẽ đƣa ra các ý tƣởng phát triển một phần mềm mới vừa đáp ứng đƣợc
yêu cầu thiết yếu của thị trƣờng vừa có khả năng khai thác giá trị thƣơng mại. Để làm
đƣợc điều này, các doanh nghiệp sẽ tiến hành các cuộc thảo luận, phân tích, đánh giá
và thể hiện các ý tƣởng của mình qua các bản kế hoạch. Sau khi đã có những ý tƣởng,
lập trình viên sẽ thiết kế cấu trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tƣợng rồi viết
mã nguồn và dịch sang mã máy. Để tạo sự đột phá trên thị trƣờng, trƣớc khi những
phần mềm này đƣợc công bố các bản kế hoạch, bản thiết kế, các dòng mã chắc chắn sẽ
không đƣợc doanh nghiệp công bố công khai mà đƣợc giữ kín thông tin nhƣ là một
trong những bí mật kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ: các nhà đầu tƣ UBer đã xây
dựng ý tƣởng và sản xuất nên phần mềm Uber cung cấp ứng dụng gọi taxi có khả năng
kết nối ngƣời dùng của hãng với các chủ xe hơi riêng (là đối tác của Uber). Uber cung
cấp nhiều loại xe khác nhau, từ xe sang cho tới loại giá rẻ. Phần mềm này đã đem lại
cho Uber thành công vang dội đƣa UBer trở thành một trong những Startup công nghệ
có giá trị thƣơng mại lớn nhất trên thế giới hiện nay.
Thứ hai, sáng chế: PMMT sau khi lên ý tƣởng cần trải qua công đoạn thiết kế
cấu trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tƣợng. Bằng cách tạo ra các module và
sắp xếp nó theo một trật tự nhất định để luồng dữ liệu đƣợc xử lí một cách trôi chảy
nhất và công việc đƣợc thực hiện một cách nhanh nhất từ đó thiết kế các phép toán để
thực hiện các công việc này. Nhờ đó PMMT có những tính năng mới, sáng tạo và hiệu
Thứ nhất, PMMT luôn mang tính sáng tạo bởi PMMT là một loại tài sản trí tuệ.
Mà tài sản trí tuệ luôn có tính sáng tạo và đổi mới. Đặc tính đảm bảo tài sản trí tuệ phải
là một đối tƣợng mới, nó có thể là một đối tƣợng chƣa từng biết đến nhƣng cũng có thể
chỉ là một sự khác biệt, riêng có hoặc là một đối tƣợng đã biết nhƣng bổ sung cái mới.
(8)
NguyễnTuấn Dũng (2014), Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính và
kinh nghiệm áp dụng cho pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Luật Quốc Tế, Đại học Luật Hà Nội, Hà
Nội, tr. 18.
(9)
Đào Minh Đức (2006), “Quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm”, Tạp chí thế giới vi tính, (12), tr. 40.
(10)
Nguyễn Nhƣ Hà (2007), “Một hƣớng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, (12 - 236), tr.25.
14
(11)
Một PMMT có thể đƣợc xây dựng bởi một hoặc nhiều tác giả, họ nắm bắt nhu cầu
của thị trƣờng và đƣa ra các ý tƣởng, có thể là ý tƣởng phát triển từ những cái đã có
hoặc các ý tƣởng sáng tạo mới nhằm mục tiêu phát triển ra PMMT đáp ứng nhu cầu
của cuộc sống.
Thứ hai, tính sáng tạo là điểm chung của tất cả tài sản trí tuệ, tuy nhiên đối với
PMMT tính sáng tạo này không dựa theo một nguyên tắc nhất định hay nói cách khác
PMMT luôn phát triển, sửa đổi, bổ sung và nâng cấp không theo một khuôn mẫu cố
định, một nguyên tắc “bất di bất dịch” nào mà thay vào đó nó đƣợc tạo thành tùy vào
hình thức thể hiện tác phẩm chứ không bảo hộ nội dung tác phẩm. Chính bởi vậy, khi
sao chép một tác phẩm văn học nghệ thuật thì chất lƣợng và giá trị của bản sao đó sẽ có
sự thay đổi.Ví dụ: hiện nay trong lĩnh vực xuất bản sách, đặc biệt là giáo trình đại học
và sách giáo khoa. Có sự xuất hiện tràn lan của những đầu sách lậu sao chép hoàn toàn
nội dung và hình thức của sách có bản quyền. Tuy nhiên, việc xác định đƣợc đâu là
sách lậu, đâu là sách có bản quyền không gặp khó khăn bởi lẽ phần lớn sách lậu là
những cuốn sách đƣợc in với chi phí rất rẻ, chất lƣợng thấp, nhìn bằng mắt thƣờng có
thể nhận ra.
Đối với PMMT một thực tế không thể phủ nhận đó là trong tất cả các loại tác
phẩm đƣợc bảo hộ bằng quyền tác giả thì PMMT luôn là đối tƣợng bị xâm phạm nhiều
nhất, không những ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Bởi lẽ PMMT là một loại tài
sản trí tuệ chúng ta không thể cầm, nắm, hay thực hiện các tác động vật lý lên nó,
PMMT là một sản phẩm chỉ tồn tại trong những cấu tạo vật chất nhất định nhƣ: Đĩa
CD, ổ cứng, USB… và đƣợc phân phối chủ yếu qua các kênh truyền thống nhƣ (hệ
thống bán lẻ, hệ thống doanh nghiệp…). Thậm chí chỉ cần một cú click chuột, ngƣời sử
dụng có thể sở hữu một PMMT mà không gặp bất cứ khó khăn nào. Chính vì vậy,
PMMT rất dễ bị sao chép một cách dễ dàng với số lƣợng lớn, khó phát hiện và bảo vệ.
Mặt khác chất lƣợng của PMMT sao chép lậu và của bản gốc là hoàn toàn nhƣ nhau rất
khó có thể phân biệt, xác định và không dễ dàng để có thể nhận biết nhƣ một tác phẩm
văn học nghệ thuật bị sao chép. Chính đặc điểm này của PMMT đã dẫn tới các hành vi
xâm phạm quyền SHTT đối với PMMT ngày càng trở nên phổ biến và việc bảo hộ
cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
1.1.3. Phân loại phần mềm máy tính
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại PMMT. Tuy nhiên, thƣờng có hai cách phân
loại PMMT nhƣ sau:
16
Thứ nhất, căn cứ vào phương thức hoạt động và lĩnh vực xử lý PMMT được chia
(13)
Thế nào là phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng?,
/>BB%87_th%E1%BB%91ng,_ph%E1%BA%A7n_m%E1%BB%81m_%E1%BB%A9ng_d%E1%BB%A5ng%3F
, ngày truy cập 17/04/2017.
17
tổ chức. Ví dụ: phần mềm quản lý bán hàng, phần mềm quản lý nhân viên…. Đƣợc gọi
là phần mềm đặt hàng. Còn những phần mềm đƣợc viết dựa trên nhu cầu chung của
nhiều ngƣời, không mang tính đặc thù cho một đối tƣợng riêng biệt đƣợc viết hoàn
chỉnh và thƣờng kèm theo phƣơng tiện để cài đặt lên máy tính, ngƣời sử dụng chỉ cần
mua và thông qua một số thiết lập cơ bản là có thể sử dụng đƣợc. Ví dụ: phần mềm
dùng cho việc xử lý văn bản có Microsoft Word, phần mềm thiết kế ảnh có Photoshop,
phần mềm dùng cho thiết kế bổ trợ máy tính có AutoCAD.v.v. Hiện nay, các chủng
loại phần mềm ứng dụng phát triển rất đa dạng, có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhiều
đối tƣợng trong mọi lĩnh vực khác nhau.
Thứ hai, căn cứ vào tiêu chí quyền sử dụng, PMMT có thể được phân loại như
sau:
- Phần mềm thƣơng mại: Đây là phần mềm đƣợc sản xuất ra để bán và thu lợi
nhuận. Ví dụ: các phần mềm đóng gói hiện nay của Microsoft nhƣ Microsoft Office.
Thông thƣờng, để tạo ra các phần mềm này nhà sản xuất phần mềm sẽ phải đầu tƣ một
khoản chi phí rất lớn để nghiên cứu, sản xuất và phát triển phần mềm. Do đó, họ cần
phải thu đƣợc lợi nhuận để bù lại những chi phí đã bỏ ra và để tái đầu tƣ các nhà sản
xuất cũng sẽ trích một phần trong số lợi nhuận để sáng tạo ra sản phẩm và công nghệ
mới. Vì vậy, những phần mềm này không thể miễn phí và giá thành của chúng cũng
không hề rẻ. Ngƣời dùng muốn sử dụng phải trả một khoản tiền để mua bản quyền
phần mềm và ngƣời mua không đƣợc phép tự ý phân phối hay sao chép phần mềm đó.
- Phần mềm thử nghiệm (giới hạn thời gian sử dụng): Đây là những phần mềm
thƣơng mại nhƣng chỉ là những phiên bản thử nghiệm (demo) nhằm tiếp cận và giới
và phức tạp. Để có thể đƣa ra đƣợc những biện pháp chế tài tƣơng xứng với hành vi
xâm phạm PMMT cũng nhƣ củng cố kiến thức cho mọi ngƣời trong việc sử dụng
PMMT có bản quyền chúng ta cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của vấn đề bảo hộ
đối với PMMT.
Thứ nhất, đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với PMMT
Bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT đang là cơ chế đƣợc lựa chọn ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Việc tiến hành bảo hộ theo cơ chế này đã khuyến khích sự sáng
tạo, thông qua các quy định của pháp luật tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể sử
dụng, khai thác các lợi ích có đƣợc từ chính PMMT do mình tạo ra, tạo động lực để
hình thành các ý tƣởng mới, tạo ra các sản phẩm phần mềm có tính ứng dụng cao, đáp
(14)
Theo Tổ chức Sáng kiến Nguồn mở (OSI - Open Source Initiative).
19
ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội. Hơn nữa khi đƣợc pháp luật bảo hộ, tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả còn đƣợc quyền ngăn cản ngƣời khác khai thác, sử dụng trái phép
tác phẩm của mình để thu lợi khi không đƣợc tác giả, chủ sở hữu cho phép. Đặc biệt,
thông qua cơ chế bảo hộ sẽ giúp lấy lại công bằng cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
khi phát hiện ra các hành vi xâm phạm đến quyền của họ. Với các quy định pháp luật
về bảo hộ hộ có thể tiến hành khởi kiện đòi bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và tinh thần
do các hành vi xâm phạm gây ra đối với PMMT, khẳng định chắc chắn quyền sở hữu
đối với thành quả sáng tạo của mình.(15)
Thứ hai, đối với doanh nghiệp
Để xây dựng và phát triển một PMMT hoàn chỉnh ra thị trƣờng, các doanh
nghiệp với vai trò là nhà sản xuất ra PMMT ngoài việc bỏ ra thời gian, công sức, trí
tuệ, nhân lực còn phải đầu tƣ một khoản chi phí kinh tế rất lớn trong toàn bộ quá trình,