BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ YẾN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở TÒA ÁN
NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ YẾN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở TÒA ÁN
NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Bộ luật Tố tụng dân sự
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
TAND
Toà án nhân dân
TCLĐ
Tranh chấp lao động
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH
CỦA PHÁP LUẬT ....................................................................................... 6
2.3. Các chủ thể tham gia quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân tại Tòa án nhân dân ....................................................................... 32
2.3.1. Hội đồng xét xử ......................................................................... 32
2.3.2. Các bên tranh chấp lao động cá nhân ...................................... 34
2.3.3. Tổ chức đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích các bên tranh chấp
lao động cá nhân…… ............................................................................ 34
2.3.4. Các chủ thể khác ....................................................................... 36
2.4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án nhân dân…… ...................................................................................... 36
2.5. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án nhân dân….. ........................................................................................ 37
2.5.1. Xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp lao động cá nhân .................... 37
2.5.2. Xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp lao động cá nhân ................ 47
2.5.3. Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật ....... 50
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ....................................................................... 55
CHƢƠNG 3
THỰC TIỄN XÉT XỬ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN Ở
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 56
3.1. Thực tiễn xét xử tranh chấp lao động cá nhân ở Tòa án nhân dân
thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh .................................................................. 56
3.1.1. Sơ lược về Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ......... 56
3.1.2. Những kết quả đạt được ............................................................ 57
3.1.3. Những tồn tại và nguyên nhân ................................................. 60
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ............................................................................ 69
3.2.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
Ngày 25/11/2015, Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời (có hiệu lực từ 01/7/2016)
với những quy định thay đổi tương đối toàn diện.
Như vậy cùng với sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật lao
động, việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án đã có nhiều thay đổi. Bên
cạnh đó, tình hình thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh
chấp lao động cá nhân tại Tòa án nói chung, tại Tòa án nhân dân thị xã Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh nói riêng đã có nhiều thay đổi tích cực. Tuy nhiên, trong
quá trình giải quyết vẫn tồn tại những khó khăn, vướng mắc nhất định cần
được nhìn nhận, đánh giá và tháo gỡ. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề “Pháp luật
2
về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn
xét xử ở Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên
cứu cấp thạc sỹ với mong muốn tìm hiểu nhiều hơn quy định pháp luật và
thực tiễn thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở đó có thể đưa ra một số
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân tại Tòa án nhân dân và nâng cao hiệu quả thực hiện giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình, bài viết khoa học về giải
quyết tranh chấp lao động tại Tòa án hoặc liên quan đến giải quyết tranh chấp
lao động tại Tòa án đã được công bố như:
- Sách tham khảo: Phạm Công Bảy (2006), Thủ tục giải quyết các vụ
án lao động theo Bộ luật Tố tụng dân sự, Nxb Chính trị quốc gia.
- Giáo trình: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật lao động,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2012; Khoa luật, Viện đại học mở Hà Nội, Giáo trình
luật lao động Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2014.
lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân theo Bộ luật lao động năm 2012, Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
trong giai đoạn gần đây về thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thị xã Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực từ ngày 01/7/2016
nhưng do thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 về cơ bản cũng có nhiều nội dung giữ nguyên như Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nên Luận văn xin được đề cập
thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân thị xã Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2017.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án. Đồng thời nghiên cứu quy định
4
của pháp luật Việt Nam hiện hành về tìm hiểu về giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân tại Tòa án. Thông qua quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này tại Tòa án nhân dân thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những bất cập, đề xuất những kiến nghị, giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án.
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
tại Tòa án, nghiên cứu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
vấn đề này.
- Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân tại Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những vấn đề
phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức vận hành có hiệu quả
việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhằm đảm bảo quyền,
lợi ích của các bên trong mối quan hệ pháp luật lao động, đảm bảo lợi ích Nhà
nước và xã hội, thực hiện tốt mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá
nhân tại Tòa án nhân dân và sự điều chỉnh của pháp luật
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân
Chương 3: Thực tiễn xét xử tranh chấp lao động cá nhân ở Tòa án nhân
dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và một số kiến nghị
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH
CỦA PHÁP LUẬT
1.1.
Khái niệm, dấu hiệu của tranh chấp lao động cá nhân
1.1.1. Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân
Theo giải thích của Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được
hiểu là việc “giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”1.
Sở dĩ xảy ra tranh chấp là do mẫu thuẫn về lợi ích giữa các bên tranh chấp.
Trong quan hệ lao động cũng vậy, khó tránh khỏi sự mâu thuẫn về lợi
quan đến việc làm hay không, hoặc các điều khoản của việc làm hoặc các
điều kiện việc làm của bất cứ NLĐ nào”3.
Ở Việt Nam, khái niệm “TCLĐ” chính thức được sử dụng trong Thông
tư liên ngành số 02/TT – LN ngày 02/10/1985 của Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Tổng cục dạy
nghề về việc hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân về
một số việc tranh chấp trong lao động.
Đến thời kỳ đổi mới, thuật ngữ TCLĐ mới được sử dụng rộng rãi trong
các văn bản pháp luật. Điều 27 Pháp lệnh HĐLĐ năm 1990 quy định: “bất
đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện HĐLĐ được coi là TCLĐ và
được giải quyết theo trình tự giải quyết TCLĐ”. Đây là quy định đầu tiên giải
thích khái niệm TCLĐ. Tuy nhiên, phải đến khi BLLĐ ra đời năm 1994, Việt
Nam mới có một định nghĩa chính thức về TCLĐ. Khoản 1 Điều 157 BLLĐ
năm 1994 quy định: “TCLĐ là những tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan
đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực
hiện HĐLĐ, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề”.
2
Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (2012), 100 thuật ngữ thông dụng nhất về quan hệ lao động
được quốc tế sử dụng, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, Tr.54.
3
Trần Ngọc Thích (2008), Giải quyết TCLĐ theo pháp luật Singapore và Malaysia – Bài học kinh nghiệm và
khả năng vận dụng vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí
Minh, Tr.34
8
9
Do tính chất đặc biệt của quan hệ lao động mà các TCLĐ cũng có đặc
điểm riêng giúp phân biệt nó với các tranh chấp khác. TCLĐ cá nhân vừa
mang những đặc điểm của một TCLĐ nói chung lại vừa có những đặc điểm
khác biệt so với TCLĐ tập thể. Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể:
Một bên chủ thể của TCLĐ cá nhân là cá nhân NLĐ hoặc là một nhóm
NLĐ
TCLĐ cá nhân thường là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ.
Tuy nhiên, trong một số trường hợpTCLĐ cá nhân không chỉ là tranh chấp
giữa một NLĐ cụ thể với NSDLĐ mà còn có thể phát sinh giữa một nhóm
NLĐ với NSDLĐ. Ở nước ta, chưa có quy định cụ thể, rõ ràng để xác định số
lượng của nhóm người trong TCLĐ cá nhân để phân biệt với tập thể NLĐ.
Trong một số trường hợp, mặc dù chỉ có sự xuất hiện của một NLĐ đại diện
cho tập thể lao động nhưng cũng không thể căn cứ vào sự tham gia của một
NLĐ đó để khẳng định đây là TCLĐ cá nhân và ngược lại, khi một vụ TCLĐ
xảy ra, có nhiều NLĐ tham gia thì không thể căn cứ vào số lượng người tham
gia đó để kết luận đây là TCLĐ tập thể. Số lượng người tham gia chỉ là một
trong các dấu hiệu cơ bản, nó chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với mục đích của
người tham gia vụTCLĐ đó. Nếu trong một vụ TCLĐ có đông NLĐ tham gia
mà mỗi người chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân mình thì đó là TCLĐ
cá nhân còn nếu tất cả mọi người tham gia vụ tranh chấp đó đều quan tâm đến
lợi ích chung thì đó là TCLĐ tập thể. Do đó, để phân biệt nhóm người tham
gia TCLĐ cá nhân hay TCLĐ tập thể cần dựa vào mục đích của họ là đòi
quyền lợi chung cho tập thể NLĐ hay đòi quyền lợi riêng cho bản thân họ.
Việc xác định đúng loại TCLĐ có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc giải quyết
TCLĐ được đúng thẩm quyền và các trình tự, thủ tục luật định.
Thứ hai, về nội dung:
TCLĐ cá nhân không có tính tổ chức, quy mô, phức tạp như TCLĐ tập
thể mà mang tính chất đơn lẻ, cá nhân.
11
NLĐ tham gia tranh chấp đòi hỏi quyền lợi riêng cho cá nhân mình và
giữa những cá nhân NLĐ thường không có sự liên kết, gắn bó, thống nhất ý
chí với nhau. Từ đó thấy được TCLĐ cá nhân không mang tính tổ chức.
TCLĐ cá nhân là tranh chấp chỉ phát sinh giữa một NLĐ và NSDLĐ về
những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của một cá nhân NLĐ.
Sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ ở mức độ hạn
chế nên thường được xem là ít nghiêm trọng.
Thứ tư, về sự tham gia của tổ chức công đoàn:
Trong TCLĐ cá nhân, tổ chức công đoàn (nếu có) tham gia với tư cách
là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NLĐ.
Trong TCLĐ cá nhân, Công đoàn (nếu có) chỉ tham gia với tư cách là
người đại diện và bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, đề nghị NSDLĐ xem xét những
yêu cầu của NLĐ. Công đoàn không tham gia với tư cách là một bên tranh
chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ giải quyết quyền lợi cho tập thể lao động như
trong TCLĐ tập thể. Như vậy, đối với TCLĐ cá nhân thì Công đoàn chỉ tham
gia với tư cách người đại diện để đề nghị NSDLĐ xem xét các yêu cầu của
NLĐ.
Ngoài tư cách đại diện cho thành viên, tổ chức đại diện có quyền tham
gia trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp
cho các bên là thành viên của tổ chức mình4.
1.2.
Khái niệm, đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
tại Tòa án nhân dân.
Giải quyết TCLĐ cá nhân là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền tiến hành các công việc được quy định theo trình tự, thủ tục luật định
để xác định quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân NLĐ, NSDLĐ đang có
tranh chấp, trên cơ sở đơn yêu cầu của họ. Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa
án là hoạt động giải quyết TCLĐ do Tòa án là cơ quan tài phán mang quyền
lực nhà nước tiến hành với những trình tự, thủ tục nhất định, phán quyết được
thi hành bằng cưỡng chế nhà nước nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của các đương sự. Hiện nay, trong pháp luật lao động chưa có một khái niệm
chính thức về giải quyết TCLĐ tại TAND nói chung và giải quyết TCLĐ cá
nhân tại TAND nói riêng. Tuy nhiên, từ những phân tích trên chúng ta có thể
hiểu giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND như sau: “Giải quyết TCLĐ cá nhân
tại Tòa án là hoạt động giải quyết các TCLĐ cá nhân bằng một bản án, quyết
13
định do Tòa án tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định và được đảm
bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước”.
1.2.2. Đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án.
Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án mang những đặc trưng cơ bản
như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án là phương thức giải quyết
được thực hiện bởi Tòa án với tư cách là cơ quan tài phán mang tính quyền
lực nhà nước đặc biệt và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt
chẽ.
TAND là một cơ quan nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp. TAND
mang quyền lực nhà nước và nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam để giải quyết các tranh chấp nói chung và TCLĐ nói riêng. Ở từng giai
đoạn giải quyết vụ án của Tòa án, mọi trình tự đều được quy định cụ thể và
chặt chẽ. Bất kỳ một hành vi nào không tuân thủ trình tự tố tụng đã được pháp
lượng, hòa giải là điều kiện cần thiết để thụ lý vụ án lao động tại Tòa án. Chỉ
khi không đạt được kết quả ở các giai đoạn này, TCLĐ cá nhân mới được đưa
ra giải quyết ở Tòa án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, do tính
chất phức tạp, nghiêm trọng của các TCLĐ cá nhân và để nhanh chóng bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm, các bên có thể khởi kiện thẳng
ra Tòa án yêu cầu giải quyết TCLĐ dù chưa qua thủ tục thương lượng, hòa
giải. Như vậy, giải quyết TCLĐ tại Tòa án là giai đoạn cuối cùng trong trình
tự thủ tục giải quyết TCLĐ.
Thứ ba, các phán quyết của Tòa án về vụ TCLĐ cá nhân được đảm bảo
thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước.
Các bản án, quyết định của Toà án trong quá trình giải quyết TCLĐ cá
nhân khi có hiệu lực pháp luật đều được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh
cưỡng chế của Nhà nước. Việc thi hành bản án, quyết định của Toà án do các
cơ quan thi hành án thực hiện. Quyền lợi, nghĩa vụ của các bên sau khi tranh
chấp được giải quyết sẽ được bảo đảm thực hiện một cách triệt để.
15
Khác với phương thức hoà giải, đây là một trong những đặc điểm thể
hiện rõ ưu thế của phương thức giải quyết TCLĐ tại Toà án. Không có một
biện pháp cụ thể nào được Nhà nước áp dụng để buộc các bên phải thực hiện
biên bản hoà giải thành, mà hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các
bên. Điều này dẫn đến các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp
không được giải quyết triệt để. Chính vì vậy, sự bảo đảm thi hành phán quyết
của Tòa án bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là một ưu điểm, tạo
ra sự khác biệt trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ quan tài phán.
1.3.
Vai trò của việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án
thẩm. Ngay cả khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đương sự vẫn
có quyền khiếu nại, người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của
Tòa án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Có thể nói, trình tự xét xử
nhiều cấp cho phép xem xét lại phán quyết của Tòa án một cách chắc chắn
trước khi thi hành.
Thứ hai, những phán quyết của Tòa án trong quá trình giải quyết
TCLĐ cá nhân được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước nên quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các bên theo phán quyết được đảm
bảo thực hiện một cách triệt để.
Quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các chủ thể theo phán quyết của Tòa án
đều được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Điều
này góp phần củng cố niềm tin của các chủ thể vào pháp luật và hoạt động
của các cơ quan nhà nước, tạo niềm tin cho nhân dân vào pháp chế xã hội chủ
nghĩa, pháp luật là thượng tôn và pháp luật phải được thực thi.
Cuối cùng, thông qua giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND sẽ góp phần
hoàn thiện pháp luật lao động nói chung và pháp luật về giải quyết TCLĐ nói
riêng.
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến TCLĐ là sự nhận thức
không đầy đủ về các quy định của pháp luật hoặc cố ý làm trái các quy định
của pháp luật lao động. Hơn nữa do hệ thống pháp luật hiện hành về lao động
cũng có quy định chưa rõ ràng, chồng chéo và thiếu tính chặt chẽ nên thông
17
qua việc giải quyết TCLĐ cá nhân cũng như việc tổng kết, đánh giá quá trình
giải quyết TCLĐ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà trực tiếp là
các cơ quan làm luật và thực thi luật sẽ thấy rõ những thiếu sót, bất cập và
chồng chéo trong các quy định của pháp luật lao động hiện hành, từ đó có
hướng khắc phục những tồn tại bất cập đối với các quy định này.
(1975)) hoặc pháp luật về lao động của Philipines (Book five: Labor
Relations - Labor Codes of the Philippines)
Thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi
quyền lực nhà nước được pháp luật quy định. Thẩm quyền không chỉ thể hiện
được sự khác biệt giữa các cơ quan nhà nước với nhau mà còn là thuộc tính
tất yếu của cơ quan quyền lực nhà nước. Thẩm quyền của Tòa án được hiểu là
toàn bộ những quyền do pháp luật quy định, theo đó Tòa án được tiến hành
xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật. Theo
Điều 3 Luật tổ chức và hoạt động của Tòa án lao động Thái Lan năm 1979
(The Labor court and Labor court procedure BE 2522), các bên tranh chấp
khởi kiện ra trụ sở Tòa án lao động nơi làm việc của người lao động. Tuy
nhiên, cũng theo điều luật này, nguyên đơn có thể khởi kiện tại Tòa án lao
động nơi mình cư trú hoặc nơi cư trú của bị đơn nếu họ chứng minh được với
Tòa án điều đó thực sự là thuận lợi đối với họ. Theo Quy tắc tố tụng của Ủy
ban quốc gia về quan hệ lao động của Philipines (NLRC, hay còn gọi là Tòa
án lao động – LC năm 1999), nguyên đơn hoặc người có yêu cầu đến chi
nhánh vùng thuộc nơi làm việc của người lao động để yêu cầu giải quyết.
Về chủ thể giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại TAND, pháp luật
các nước cũng có những quy định khác nhau về các chủ thể này. Việc giải
quyết tranh chấp lao động tại Tòa án Thái Lan, Philipines hay Cộng hòa Liên
bang Đức có sự tham gia của người lao động và đại diện người sử dụng lao
động. Trong quá trình này không có sự tham gia của cơ quan công tố hoặc cơ
quan kiểm sát. Đặc biệt, ở Cộng hòa Liên bang Đức thành phần Hội đồng xét
xử vụ án lao động còn có Thẩm phán danh dự (là những người đại diện cho
giới lao động và giới sử dụng lao động). Việc giải quyết tranh chấp lao động
ở ba nước này đều có sự tham gia của bộ phận trợ giúp pháp lý (bộ phận pháp
chế giúp đỡ người khởi kiện hoàn thiện hồ sơ tại Tòa án). Do người lao động
Wang Zhenqi – Ministry of Labour and Social Security, PRC (2003), “Labour Disputes Settlement System
in China: Past and Perspective”, Viện phát triển kinh tế Nhật Bản (IDE-JETRO), Tr.74