Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH HOÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

ĐÀ NẴNG, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THANH HOÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số

: 838 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Quảng Ngãi với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 113.669,52 hécta, chiếm 1/5
tổng diện tích tỉnh Quảng Ngãi. Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng
và có nhiều sông, suối. Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao
hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh. Về đơn vị hành chính, Ba Tơ


có 20 xã, thị trấn, có 119 thôn (trong đó 112 thôn và 07 tổ dân phố), với 216 khu
dân cư. Trong đó có 14 xã, thị trấn thuộc an toàn khu và diện xã đặc biệt khó khăn
(theo Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ).
Mật độ dân thưa 48,95 người/km2 sống tập trung tại Thị trấn Ba Tơ, xã Ba Vì và xã
Ba Động.
Trong những năm qua, huyện Ba Tơ đã có nhiều giải pháp, định hướng
nhằm xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho người dân, đặc biệt là trong đồng bào dân
tộc thiểu số (DTTS) và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, trong đó từ năm
2013 đến 2017 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện bình quân hằng năm giảm 5,6%/năm, đạt
chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu kế hoạch từ 4% - 7%), về cơ bản huyện đã xoá được hộ
đói kinh niên. Trong đó về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng
phát triển, nổi bật là trung tâm Thị trấn Ba Tơ; về đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được cải thiện và nâng lên đáng kể; lĩnh vực văn hóa - xã hội đã có nhiều
chuyển biến tích cực trong việc chăm lo đến đời sống của nhân dân; tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện luôn được giữ vững, ổn
định.
Tuy nhiên, với đặc điểm là huyện miền núi, nên điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp; một số hủ tục,
phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại; Ba Tơ vẫn còn là một trong những
huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; Kết quả giảm nghèo chưa thực sự
bền vững, vẫn còn nhiều bất cập: tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra, các chính sách
đầu tư phát triển đã hướng vào trợ giúp cho huyện và các xã đặc biệt khó khăn
nhưng chưa đủ mạnh và đồng bộ, việc sử dụng các nguồn lực trong giảm nghèo
chưa tương xứng với tiềm năng: vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất; việc tuyên
truyền nâng cao ý thức thoát nghèo cho người dân còn hạn chế; cơ chế thực hiện

trong đó có lĩnh vực kinh tế, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta đó là chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với sự đổi mới này, trong những năm đầu của
thập kỷ 1990 đã có nhiều nhà nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng phân hóa
giàu nghèo trong xã hội Việt Nam. Cụ thể vào năm 1993, tác giả Nguyễn Văn Tiêm
xuất bản sách “Giàu nghèo trong nông thôn Việt Nam”; Năm 1994, tác giả Nguyễn
Văn Thiều xuất bản sách “Biến động giàu nghèo và phân hoá xã hội ở nông thôn
nước ta”. Qua hai nghiên cứu trên, các tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng
phân hoá giàu nghèo và quá trình phân tầng xã hội ở một số tỉnh thuộc khu vực


nông thôn Việt Nam. Năm 1998, trong một công trình nghiên cứu được xuất bản
với tiêu đề “Khủng hoảng phát triển ở các vùng miền núi Việt Nam”, Jamieson và
các cộng sự đã khái quát những khó khăn và thách thức thành 4 vấn đề có quan hệ
chặt chẽ với nhau, bao gồm: Nghèo đói; Sức ép dân số; Môi trường bị suy thoái; và
sự phụ thuộc của người DTTS vào các hệ thống bên ngoài cũng như sự lề hóa của
nền kinh tế các DTTS. Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác của tác giả Lê Xuân Bá
và các cộng sự vào năm 2001với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở
Việt Nam”; Tác giả Hà Quế Lâm vào năm 2002 với tác phẩm “Xoá đói giảm nghèo
ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”; Tác giả Ngô
Văn Lệ và các cộng sự năm 2004 với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở
người Khmer tỉnh Sóc Trăng”; Năm 2003 nhóm nghiên cứu do tác giả Bùi Văn Đạo
phụ trách với tác phẩm “Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt
Nam”. Vào năm 2006, Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản công trình “Nghèo
và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004”, do tập thể các nhà nghiên cứu
biên soạn, dưới sự chỉ đạo của GS.TS. Đỗ Hoài Nam, dựa trên cơ sở phân tích các
số liệu nghèo đói quốc gia và các cuộc điều tra xã hội học, nêu lên bức tranh toàn
cảnh về nghèo đói và giảm nghèo, các nguyên nhân nghèo, đề xuất các định hướng,
giải pháp giảm nghèo và phát triển bền vững ở Việt Nam. Năm 2012 PGS.TS. Lê
Quốc Lý với cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo- Thực trạng và giải pháp”

không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm
đồng bào DTTS và nhóm đa số, mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một “vòng
luẩn quẩn” dẫn đến đói nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm. Và vào năm 2011,
dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Kon Tum, Bình Thuận, Lạng Sơn, Hải Dương
và An Giang, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) công bố nghiên cứu “Giảm
nghèo tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức”. Khi phân tích bối cảnh nghèo và
đồng bào DTTS, nghiên cứu này đề cập đến những khó khăn chính như: sự yếu kém
của cơ sở hạ tầng, giải quyết thực trạng của vấn đề lao động việc làm, khả năng tiếp
cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ.
Năm 2012 nghiên cứu của Baulch và Vũ: đã phân tích vai trò của đặc điểm
gồm: đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm
xã…và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm do ảnh hưởng của các yếu tố không
quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục,
các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với người DTTS… đến sự khác biệt về thu


nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm DTTS. Khác biệt về đặc điểm
đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm
DTTS; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác
biệt về mức sống. Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp,
kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của
các nhóm DTTS so với nhóm đa số.
Ngoài ra UN, WB và NGOs quốc tế đã thực hiện một số nghiên cứu về tác
động của biến đổi khí hậu đến diễn biến nghèo đói của các DTTS Việt Nam. Tổng
hợp kết quả của các nghiên cứu đó, Gay McDougall năm 2010, một chuyên
gia độc lập về các vấn đề dân tộc thiểu số của Liên hợp quốc, chỉ rõ: “Một số nhà
phân tích dự đoán, biến đổi khí hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả
năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi
hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi… Và điều đó sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến diễn biến kinh tế xã hội của các DTTS”.

nhằm tạo động lực trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đây là một thách thức
ngày càng tăng và kéo dài. Giữa dân tộc đa số với các đồng bào DTTS, bất bình
đẳng về thu nhập và cơ hội đang có xu hướng gia tăng. Đối với huyện Ba Tơ, về
công tác giảm nghèo trong thời gian qua tuy có nhiều thay đổi và có chuyển biến
tích cực, tuy nhiên vẫn chưa thật sự mang tính bền vững và ổn định. Do đó việc
thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện
mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu
nhập của người dân, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các
dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận
thông tin), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016 –
2020 trên địa bàn huyện là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công
trình nghiên cứu nào đề cập tới thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
để đánh giá chính xác, khách quan giữa việc áp dụng các lý luận chính sách và kết
quả thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu
số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập của
chính sách giảm nghèo bền vững áp dụng trong thực tiễn hiện nay, từ đó đề xuất ra


các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện thêm chính sách giảm nghèo bền vững cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở Việt Nam
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững đối với người dân tộc thiểu số;
Thứ hai, tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo
cho người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi để từ đó

Luận văn đã tổng quan được cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền
vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích
chính sách công, đánh giá chính sách công nhằm đánh giá thực tiễn thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương;
Việc nghiên cứu đề tài nhằm chứng minh cho việc vận dụng các lý thuyết
phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong quá trình
nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo, từ đó góp phần hoàn thiện
thêm chính sách bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ nói riêng
và nước ta nói chung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm
nghèo bền vững đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức đối với các cấp ủy
Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể các cấp để hiểu rõ hơn về chính sách giảm
nghèo bền vững; xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ quá trình và kết quả thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, từ
đó định hướng góp phần hoàn thiện hơn nữa, nâng cao hiệu quả chất lượng của chính
sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong những
năm tiếp theo.
Đề tài đã hệ thống hóa một cách logic các giải pháp thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện chính sách
bền vững đem lại hiệu quả thiết thực, giúp đồng bào dân tộc thiểu số có khả năng
tiếp cận các chính sách giảm nghèo bền vững và tham gia cùng với Nhà nước để
đưa các chính sách giảm nghèo đi vào thực tiễn, ngày càng mang lại hiệu quả, đạt
được mục tiêu giảm nghèo bền vững mà Đảng, Chính quyền huyện Ba Tơ đã đề ra,
góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn


Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội
dung chính của Luận văn được trình bày theo 3 chương:

Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như
UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu
cơ bản giữa các quốc gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi
thọ) hay hiện nay là chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa
chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn
ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các


dịch vụ.
Qua các khái niệm trên cho thấy khái niệm về “nghèo đa chiều” đã xuất phát
từ quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự
thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vậy nghèo
đa chiều là khi con người không được đáp ứng đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong
cuộc sống ở mức tối thiểu nhất.
1.1.2. Chuẩn nghèo và đo lường nghèo
Chuẩn nghèo là thước đo hay tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay
không nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau:
- Chuẩn nghèo là dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được qui đổi thành tiền, xuất
phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi người cần phải
có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó.
Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có
Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của
Nhà nước.
- Chuẩn nghèo quy ra 1USD hoặc 2 USD (theo sức mua tương đương) là
cách Ngân hàng thế giới đưa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc
gia, đây không phải chuẩn nghèo các quốc gia sử dụng để hoạch định chính sách
giảm nghèo.
- Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản
của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia,
trong từng giai đoạn nhất định.

đổi hoặc bị biến động khác bởi các tác động khác đến đời sống xã hội như: khủng
hoảng lạm phát, thiên tai... Do đó việc đánh giá kết quả mức độ giảm nghèo thì cần
phải được xem xét trong một khoản không gian, thời gian nhất định, cụ thể.
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững
hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên khi nói đến việc phát triển
bền vững và giảm nghèo bền vững thì vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến và
là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Và phát triển
kinh tế bền vững là cơ sở, điều kiện cần thiết để giảm nghèo bền vững. Qua thực
tiễn trong thực hiện công tác giảm nghèo, ta có thể hiểu: giảm nghèo bền vững là
quá trình tạo điều kiện giúp đỡ cho người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực
của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp


họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, họ không còn tái nghèo, không bị thụt lùi
so với quy định chung về chuẩn nghèo.
Về chính sách giảm nghèo bền vững có thể hiểu: “là tập hợp các quyết định
của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các
vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu
hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các
vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
của đất nước”.
1.1.4. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Việt Nam là quốc gia có 54 thành phần dân tộc khác nhau, trong đó các dân
tộc thiểu số chiếm khoảng 14% tổng dân số của cả nước. Mỗi dân tộc đều có bản
sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Theo báo cáo "Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam"
của Ngân hàng Thế giới (WB) được công bố ngày 5/4/2018, có 1,8 triệu người dân
tộc thiểu số ở Việt Nam thoát nghèo, giảm từ 8,4 triệu năm 2010 xuống còn 6,6
triệu người trong năm 2016. Tuy nhiên trong số 9,1 triệu người nghèo ở Việt Nam

1.2.1. Các quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững nói chung và đối với
đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, có những chính
sách phù hợp trong công tác xóa đói, giảm nghèo; luôn xác định là một trong những
vấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội, là một
trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, là mục
tiêu quan trọng trong phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm, định hướng và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước luôn được thể
hiện rõ trong các Đại hội của Đảng, cụ thể:
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định, thực hiện kinh tế thị trường
phải “thừa nhận trên thực tế... sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội”, coi
đó là một hiện tượng xã hội đang hiện hữu, chi phối đời sống xã hội. Đại hội cũng
đã chỉ rõ, khuyến khích các tầng lớp nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá
đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo gắn với mục tiêu “phải luôn luôn
quan tâm bảo vệ lợi ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp,
chống làm giàu phi pháp, coi trọng xoá đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công
bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” [30].


Đại hội lần thứ IX, đã có bước phát triển mới: “Khuyến khích làm giàu hợp
pháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng
lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội” [31].
Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục chỉ rõ và đề ra mục tiêu cụ thể: “Khuyến
khích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xoá
đói, giảm nghèo”, “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong
phạm vi cả nước ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát triển”; phấn đấu đến năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo theo
chuẩn mới còn 10 - 11% (năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 22%) [32].
Đặc biệt, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đại hội

dịch vụ xã hội cơ bản. Quan điểm lãnh đạo của Đảng khi áp dụng phương pháp đo
lường nghèo đa chiều, “tiếp cận chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều”
- nghèo được đo lường không chỉ bằng tiêu chí thu nhập mà còn bằng cả nhóm tiêu
chí phi thu nhập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững với mục đích tác
động tốt hơn, toàn diện hơn đến người nghèo, giúp bảo đảm mức sống tối thiểu,
đồng thời đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, từng bước giảm nghèo
bền vững. Đảng ta đã chỉ rõ “phải đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các
vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù...”; “Tạo cơ hội để mọi người có
việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều
kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động
để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Chú trọng giải quyết việc làm
cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất
hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng.
Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục
nghề nghiệp. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công,
khắc phục cơ bản những bất hợp lý. Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo
với sử dụng. Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý. Hoàn thiện và thực
hiện chính sách bảo hộ lao động”. Có thể khẳng định đây là sự lãnh đạo hướng đến
các chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro, tầng trên cùng của hệ thống an sinh
xã hội nhằm giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, tạo thu nhập, có được
năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với thiên tai, rủi ro [34].
Qua đó thấy được quan điểm của Đảng ta chỉ ra những định hướng lớn, lãnh
đạo cụ thể từng mặt của công tác an sinh xã hội dựa trên cơ sở lý luận về chức năng,


cấu trúc, mô hình, các trụ cột, sự phân tầng của chính sách an sinh xã hội, cách tiếp
cận mới về tạo việc làm, giảm nghèo đa chiều bền vững; về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế toàn dân, trợ giúp xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội ở mức độ tối thiểu
nhằm trợ giúp khó khăn, phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro, nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, hướng đến nền an

- Chuẩn mức sống trung bình: từ 1.950.000 đồng/người/tháng trở xuống và
1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn.
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ
sinh, tiếp cận thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng
nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu
hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin; Ngưỡng
thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
1.2.3. Các chính sách giảm nghèo bền vững
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo, định hướng của Đảng về thực hiện
công tác giảm nghèo, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, chương
trình, dự án giảm nghèo để đẩy mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững trên phạm vi
cả nước. Cụ thể là:
Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số
30a/2008/NQ-CP của Chính phủ:
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát
của Chương trình là: “Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần
của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến
năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực. Hỗ trợ phát triển sản xuất
nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế
mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm
của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu
quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an
ninh, quốc phòng”.
Cụ thể Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP gồm: Tiếp tục thực hiện các chế độ,


trong công tác giảm nghèo bền vững thể hiện sự quyết tâm chỉ đạo, lãnh đạo trong
công tác giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay các chính sách tín dụng


dành cho đối tượng là hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được
Ngân hàng CSXH triển khai rộng rãi, cụ thể như: Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày
04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách
khác trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; Quyết định số
54/2012/QĐ-CP ngày 04/12/2012 của Chính phủ về việc ban hành chính sách cho
vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn
2012 - 2015 (thay thế Quyết định 32/ 2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007); Quyết định số
15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ
cận nghèo; Quyết định số 157/2007/QĐ-CP ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín
dụng đối với học sinh, sinh viên. Riêng đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó
khăn, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12
năm 2012 Ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc
thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015, theo đó thực hiện cho vay vốn đối
với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định
đời sống, thoát nghèo bền vững.
Có thể nói điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo Nhà nước ta là việc
đẩy mạnh các chính sách tín dụng của Ngân hàng CSXH dành cho đối tượng hộ
nghèo, là chương trình được triển khai rộng rãi, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn
của hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực. Trong giai đoạn từ
2002 đến 2017, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay trên 31,8 triệu lượt hộ
nghèo và các đối tượng chính sách khác. Qua đây đã giúp trên 4,5 triệu hộ vượt qua
ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho gần 3,4 triệu lao động, hơn 3,5 triệu lượt học
sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập. Nhờ nguồn vốn tín
dụng chính sách, tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 giảm từ 17% xuống 7%; giai
đoạn 2005 - 2010 từ 22% xuống 9,45%; giai đoạn 2011-2015 từ 14,2% xuống 4,25%
cuối năm 2015.

xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người
nghèo.
Chính sách hỗ trợ giáo dục: Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho hộ nghèo
hiện nay thực hiện theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính
phủ và Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy


định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối
với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm
2014-2015, có hiệu lực thực hiện từ 01/9/2013.
Chính sách hỗ trợ về trợ giúp pháp lý:
Trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ pháp lý như: tư vấn pháp luật, hòa giải, đại
diện, bào chữa, kiến nghị... miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo và
đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật nhằm giải toả vướng mắc pháp
luật, nâng cao ý thức pháp luật để họ tự mình biết cách ứng xử phù hợp với pháp
luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình,
góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Chính sách hỗ trợ về trợ giúp pháp lý, cụ thể được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam ban hành Luật trợ giúp pháp lý ngày 29/6/2006, Chính phủ đã ban hành:
Quyết định số 52/2010/QĐ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ
pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào
dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020; Quyết định số 678/QĐTTg ngày 10/5/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Quyết định 59/2012/QĐ-TTg ngày
24/12/2012 về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020.
Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững theo Quyết định số
1489/2012/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status